FTU_K46
Câu 1: Định nghĩa vật chất của Lê-nin. Ý nghĩa khoa học của định nghĩa.
*. Định nghĩa vật chất của lênin
Trong tác phẩm “chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy vật phê phán” Lênin đã
đưa ra đinh nghĩa về “vật chất” như sau: “vật chất là một phạm trù triết học dung
để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm
giác củ chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác”.
*. Phân tích định nghĩa
Cách định nghĩa: Phạm trù vật chất la phạm trù rộng, mà cho đến nay, thực ra nhận
thức luận chưa qua được. Khi định nghĩa phạm trù này không thể quy nó về vật thể
hoặc một thuộc tính cụ thể nào đó, cũng không thể quy về phạm trù rộng hơn phạm
trù vật chất. Do vậy chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với ý
thứcm phạm trù đối lập với nó và trong quan hệ ấy, vật chất là tính thứ nhất, ý thức
là tính thứ hai.
Trong định nghĩa này, Lênin phân biệt hai vấn đề:
-Thứ nhất: cần phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan
niệm về khoa học tự nhiên về cấu tạo và các thuộc tính cụ thể của các đối tượng,
các dạng vật chất khác nhau. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học nó chỉ vật
chất nói chung, vô hạn, vô tận, còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ
thể nghiên cứu đều có giới hạn. Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung về vật
thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với các dạng cụ thể của vật chất như
các nhà triết học duy vật trong lịch sử Cổ đại và Cận đại.
-Thứ hai: là trong nhận thức luận, khi vật chất đối lập với ý thức, cái quan trọng để
nhận biết vật chất là thuộc tính khách quan. Khách quan theo Lênin là “cái đang
tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người”. Trong đời sống xã
hội, “ vật chất là cái tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con
người”. Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất chính là “ thực tại khách
quan tồn tại độc lập với ý thức của con người và được con người phản ánh”.
Như vậy, định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản
sau:
sắc.
-Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động của thế giới bên
ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức:
+ thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người gây nên hiện tượng phản ánh (
phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác
trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng)
+cái phản ánh là những đặc điểm của dạng vật chất được lưu lại và tái hiện ở dạng
vật chất tác động
+ phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất xong phản ánh được thức hiện
dưới nhiều hình thức:
1. phản ánh vật lí, hóa học là phản ánh thấp nhất đặc trưng cho vật chất vô sinh, nó
thể hiện qua những biến đổi về cơ lý, hóa khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa
các dạng vật chất vô sinh
2. phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên
hữu sinh và nó được thể hiện qua tính kích thích, tính phản ứng và phản xạ.
- tính kích thích là phản ứng của thức vật và động vật bậc thấp khi nhận sự tác
động của môi trường sống thì nó có thể thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát
triển, màu sắc cấu trúc cơ thể…
- tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác,
nó được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện
3. phản ánh tâm lí là phản ánh của động vật có hệ thần kinh trung ương và có được
hiện thực thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện
4. phản ánh ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan vào
trong bộ não của con người, là hình thức phản xạ cao nhất và chỉ được thực hiện ở
dạng vật chất có tổ trức cao nhất là bộ óc của con người
Như vậy, sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người là nguồn gốc tự
nhiên của ý thức.
• Nguồn gốc xã hội: Để ý thức có thể ra đời, những nguồn gốc tự nhiên là rất cần
thiết nhưng chưa đủ. Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã
hội, thể hiện ở vai trò của lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
hiện ý nghĩa của thông tin, tạo ra giả thuyết, huyền thoại tiên đoán dự báo tương
lai
+ nó có thể khái quát bản chất quy luật khách quan, tạo ra các mô hình tư tưởng
trên cơ sở đó tạo ra cả một thiên nhiên thứ hai thông qua hoạt động thực tiễn.
- ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, tức là ý thức à hình ảnh của
thế giới khách quan nhưng nó không còn y nguyên mà đã được cải biến thông qua
lăng kính chủ quan
- ý thức là một hiện tượng XH và mang bản chất XH vì sự ra đời và phát triển của
ý thức nó không chỉ do các quy luật tự nhiên quy định mà trước hết và chủ yếu còn
do sự tác động của các quy luật XH.
* kết cấu của ý thức: Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rất phức
tạp bao gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau. Theo cách tiếp cân dựa
vào bản chất hợp thành nó ý thức gồm 3 yếu tố : tri thức, tình cảm và ý chí .
- tri thức là những hiểu biết của con người về thế giơi khách quan, tri thức định
hướng cho mọi hoạt động của con người. mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng
nội dung tri thức, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý
thức phát triển
- tình cảm là những dung động của con người trong các mối quan hệ, trong các mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người và với chính
bản thân mình. Tình cảm được thể hiện trong mọi lĩnh vực của cuộc sống con
người, tình cảm có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động cũng như đời sống của
con người vì nó là một trong những hoạt động thúc đẩy nhận thức và thực tiễn của
con người.
- ý chí là sự biểu hiện sức mạnh của bản thân mỗi con người nhằm vượt qua những
cản trở trong việc thực hiện mục đích của mình. Ý chí điều kiển hành vi của con
người để con người hướng đến mục đích một cách tự giác những giá trị chân chính
của ý thức không chỉ thể hiện ở cường độ của nó mạnh hay yếu mà chủ yếu ở nội
dung , ý nghĩa và mục đích nó hướng tới.
Câu 3 : Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa phương pháp
luận.
động thực tiễn của con người
Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực
tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
Ý thức phản ánh ko đúng hiện thực khách quan ở mức độ nhất định có thể kìm hãm
hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội.
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người.
Con người dựa trên những tri thức của mình về thế giới khách quan, hiểu biết
những qui luật khách quan từ đó đề ra mục tiêu phương hướng, biện pháp thực
hiện và ý chí thực hiện mục tiêu ấy.
Vai trò tích cực chủ động sáng tạo của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế
giới hiện thực được phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự
phản ánh thế giới khách quan và các điều kiện khách quan.
+) Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ MQH vật chất - ý thức.
Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan cảu vật chất của các qui luật tự
nhiên và XH-> trong hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ thực tế khách
quan, lấy khách quan làm căn cứ cho hoạt động của mình.
Phát huy tính năng động chủ quan phát huy vai trò của ý thức nhân tố con người
trong việc phản ánh đúng đắn thế giới khách quan.Nhận thức được qui luật, xác
định được mục tiêu, ra phương hướng hoạt động đạt hiệu quả cao nhất.
Câu 4 : Nội dung “nguyên lý về mối liên hệ phổ biến”. Ý nghĩa phương pháp luận
Trả lời: - Liên hệ sự phụ thuộc lẫn nhau sự ảnh hưởng tương tác và sự chuyển hóa
lẫn nhau giữa các sự vật và hiện vật trong thế giới hoặc giữa các mặt các yếu tố các
quá trình của sự vật và hiện tượng trong thế giới.
- Khái niệm mối liên hệ phổ biến nói lên rằng mọi sự vật hiện tượng trong thế giới
dù phong phú và đa dạng nhưng đều tồn tại trong mối liên hệ giữa các sự vật và
hiện tượng khác đều chịu sự tác động, sự quy định các hiện tượng và các sự vật
khác, không sự vật nào tồn tại biệt lập ngoài mối liên hệ với sự vật và các hiện
tượng khác.
- Mối liên hệ phổ biến còn nói lên rằng các bộ phận các yếu tố các giai đoạn phát
triển khác nhau của mỗi sự vật đều có tác động quy định lẫn nhau mặt này lấy mặt
+ Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật ( mâu thuẫn bên
trong )
+ Phát triển không bao hàm mọi sự vận động nói chung, nó chỉ khái quát sự vận
động đi lên cái mới thay thế cái cũ.
+ Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực.
- Giới vô cơ biểu hiện dưới dạng biến đổi các yếu tố làm nảy sinh các hợp chất
phức tạp, xuất hiện các hợp chất hữu cơ ban đầu.
- Giới hữu cơ thể hiện ở khả năng thích nghi.
- Vấn đề xã hội: sự phát triển của tư duy thể hiện khả năng con người làm chủ thế
giới.
2. Tính chất của sự phát triển:
a. Tính khách quan:
Phát triển là thuộc tính vốn có của sự vật.
b. Tính phổ biến:
Phát triển diễn ra ở cả 3 lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy.
c. Tính đa dạng:
- Mỗi sự vật hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau .
- Quá trình phát triển chịu sự tác động khác nhau có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm.
3. Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Trong nhận thức và hành động thực tiễn phải có quan điểm phát triển khi xem
xét đánh giá các hiện tượng phải đặt chúng trong sự vận động, sự biến đổi.
+ Phải nhìn thấy cái mới, xu thế tất yếu của sự phát triển có thái độ ủng hộ cái mới
tạo điều kiện cho cái mới ra đời.
+ Quan điểm phát triển là cơ sở và niềm tin cho thái độ lạc quan khoa học của
người cách mạng.
+ Cần chống lại quan điểm nóng vội duy ý chí muốn xóa bỏ cái cũ khi chưa có đủ
điều kiện, quan điểm bảo thủ trì trệ gây cản trở cho sự phát triển.
Câu 6 : Nội dung “quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”. Ý nghĩa
phương pháp luận.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập(hay còn gọi là quy luật mâu
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của
chúng. Song đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển
khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập.
Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn “đấu tranh” với nhau. Đấu
tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định
lẫn nhau giữa các mặt đó. Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong
phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối liên hệ qua lại giữa các mặt đối lập
và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.
*. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là 2 xu hướng tác động khác nhau
của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Như vậy, mâu thuẫn biện chứng cũng bao
hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập. Sự thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau, trong quá trình vận động, phát triển
của sự vật, sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự
vật. Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Điều đó
có nghĩa là: sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời ; sự đấu tranh
của các mặt đối lập là tuyệt đối. V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất(…) của các mặt đối
lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối
lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”.
Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy
định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn
phát triển. Lúc đầu mâu thuẫn mới xuất hiện mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn
bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó càng ngày càng
phát triển đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện,
chúng sẽ chuyễn hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó thể thống nhất
cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới ; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay
thế. V.I. Lênin viết: “ Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”.
Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh
giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau
trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống
mâu thuẫn giữa nước ta với các nước khác.
Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn
được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát
triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự
vật. Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi cơ bản về chất.
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào đó
của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật. Mâu thuẫn đó nảy sinh hay
được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất .
Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong
một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu
thuẫn thứ yếu.
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu của một giai đoạn phát triển nhất
định của sự vật và chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó. Giải quyết
được mâu thuẫn chủ yếu trong từng giai đoạn là điều kiện cho sự vật chuyển sang
giai đoạn phát triển mới.
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mâu thuẫn
chủ yếu có thể là một hình thức biển hiện nổi bật của mâu thuẫn cơ bản hay là kết
quả vận động tổng hợp của các mâu thuẫn cơ bản ở một giai đoạn nhất định. Việc
giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiện giải quyết từng bước mâu thuẫn cơ bản.
Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát
triển nào đó của sự vật nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ
yếu chi phối. Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu là góp phần vào việc từng bước giải
quyết mâu thuẫn chủ yếu.
Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn trong xã hội
thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp những tập đoàn người, có
lợi ích cơ bản đối lập nhau. Thí dụ : Mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ, giữa vô
sản với tư sản, giữa dân tộc bị xâm lược với bọn đi xâm lược.
Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích
được điều hoà mâu thuẫn.Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với
trình độ phát triển của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực
lượng để giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã
chín muồi. Một mặt phải chống thái độ chủ quan, nóng vội; mặt khác phải tích cực
thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn
đi đến chín muồi. Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau.
Phải tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với
từng loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể
Câu 7: Nội dung “quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những
sự thay đổi về chất và ngược lại”. Ý nghĩa phương pháp luận
* Đây là một quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nó vạch ra cách thức
của sự vận động, phát triển.
* Nội dung quy luật:
- Mỗi sự vật, hiện tượng đều là một thể thống nhất của 2 mặt chất và lượng và
chúng có quan hệ hữu cơ với nhau. Phép biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng
các khái niệm: chất, lượng, thuộc tính, độ, điểm nút, bước nhảy để diễn đạt mối
quan hệ giữa chất và lượng trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng -
cách thức vận động, phát triển.
- Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
+ Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất. Sự thống nhất giữa
chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn là nó chưa trở thành cái
khác. Trong mối quan hệ giữa chất và lượng thì chất là mặt tương đối ổn đinh, còn
lượng là mặt biến đổi hơn. Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt
đầu từ sự thay đổi về lượng. Song không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng
dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bất kỳ sự thay đổi nào về lượng
cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại của sự vật. Chỉ khi nào lượng biến đổi đến
một giới hạn nhất định (điểm nút) thì mới dẫn đến sự thay đổi về chất. Sự thay đổi
căn bản về chất được gọi là bước nhảy. Như vậy, khi lựợng biến đổi đến điểm nút
thì diễn ra bước nhảy, chất mới ra đời thay thế cho chất cũ, sự vật mới ra đời thay
thế cho sự vật cũ, nhưng rồi những lượng mới này lại tiếp tục biến đổi đến điểm
- Đặc điểm của phủ định biện chứng:
+ Phủ định biện chứng là loại phủ định mang tính khách quan:
> Sự phủ định ấy do mâu thuẫn nội tại của sự vật ấy tự quy định.
> Nhân tố phủ định là sản phẩm phát triển của chính sự vật, do đó quá trình phủ
định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển.
> Phương thức phủ định sự vật do bản thân sự vật tự quy định.
+ Phủ định biện chứng là loại phủ định mang tính kế thừa.
- Phủ định của phủ định - hình thức xoáy chôn ốc của quá trình phát triển: Sự phát
triển biện chứng là sự thống nhất giữa tiến lên và lặp lại do đó nó không quy trở lại
đúng điểm xuất phát mà quay trở lại trên một cơ sở mới cao hơn.
2. Ý nghĩa phương pháp luận
* Đặc điểm của phủ định trong đời sống xã hội:
- Phủ định trong xã hội là hình thức và kết quả hoạt động của con người do vậy
ngoài những đặ trưng mà mọi phủ định biện chứng đều có thì phủ định biện chứng
trong xã hội có 2 đặc điểm riêng:
+ Quan điểm biện chứng và siêu hình về sự phủ định:
> Quan điểm siêu hình về phủ định trong xã hội xuất hiện khi xác định không đúng
đối tượng, thời điểm, phương thức phủ định.
> Tuyệt đối hoá mặt loại bỏ hoặc mặt giữ lại.
+Phủ định xã hội diễn ra bằng cơ chế khác căn bản với phủ định trong tự nhiên.
* Vì vậy, phương pháp luận rút ra từ quy luật phủ định của phủ định có ý nghĩa:
- Cho ta cơ sở lý luận để hiểu sự ra đời của các mới, cái mới ra đời từ cái cũ, kế
thừa những mặt tích cực của cái cũ do vậy cần chống thái độ phủ định sách trơn.
- Phải phát hiện và quý trọng cái mới, phải biết sàng lọc giữ lấy những cái tích cực
có giá trị của cái cũ.
- Chống lại thái độ bảo thủ, khư khư giữ những cái cản trở bước tiến của lịch sử
Câu 9:Thực tiễn là gì?Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.Ý nghĩa phương pháp
luận
*Thực tiễn:Toàn bộ hoạt động vật chất có tính chất lịch sử xã hội của con người
làm biến đổi tự nhiên và xã hội.Nó nằm trong phạm trù vật chất.
Câu 10: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác-
Lênin.Phê phán bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
-Lý luận và vai trò của lý luận:
+Đ/n về lý luận:lý luận là sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn,là sự tổng hợp cáctri
thức về tự nhiên,XH đã đc tích lũy trong quá trình lịch sử;tiêu chuẩn của 1 lý luận
khoa học,nó phải phản ánh đúng bản chất qui luật của đối tượng nhận thức và nó
phải đc khái quát thành 1 hệ thống bao gồm các khái niệm phạm trù nhất định.
+Vai trò của lý luận:lý luận giữ vai trò định hướng chỉ đạo hoạt động thực tiễn của
con người để nhằm đạt đc kết quả cao nhất.
-Thực tiễn và vai trò của thực tiễn:
+Thực tiễn:là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính chất XH lịch sử
của con người nhằm cải tạo tự nhiên và XH.
+Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức: Theo quan điểm của duy vật biện
chứng:thực tiễn có vai trò đặc biệt to lớn đối với nhận thức,nó chính là cơ sở mục
đích,động lực của nhận thức,là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý. Thực tiễn là cơ sở động
lực của nhận thức vì xét đến cùng mọi tri thức của con người đều có nguồn gốc từ
thực tiễn do đó mà nói rằng thực tiễn là cơ sở của nhận thức. Chính thông qua hoạt
động thực tiễn nó luôn luôn nảy sinh nhu cầu mới thúc đẩy nhận thức phát triển vì
thế mà nói thực tiễn là động lực của nhận thức,chẳng hạn:từ nhu cầu chữa trị các
căn bệnh hiểm nghèo mà thúc đểy nhận thức của con người khám phá ra bản đồ
gen người ,từ nhu cầu thực tiễn quan sát các vật bé nhỏ mà thúc đẩy nhận thức
con người sáng tạo ra các kính hiển vi. Thực tiễn là mục đích của nhận thức vì xét
đến cùng nhận thức là nhằm phục vụ hoạt động thực tiễn và nâng cao hiệu quả thực
tiễn. Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý vì các tri thức của con người đc khái
quát,tổng kết chưa chắc đã đúng do vậy các tri thức ấy phải đc kiểm tra đối chứng
trong thực tiễn nếu đó là đúng thì đó là chân lý.
-Yêu cầu của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:hoạt động thực tiễn
phải dựa vào lý luận khoa học đồng thời lý luận khoa học phải bám sát thực
tiễn,phải đc vận dụng 1 cách sáng tạo vào thực tiễn;đồng thời từ thực tiễn phải
không ngừng tổng kết kinh nghiệm phát triển lý luận khoa học như vậy ta phải
ứng dụng khoa học vào sản xuất.
-Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất.
Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân
lên tính chất xã hội hóa. Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao
động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân. Khi sản
xuất đạt tới trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực
lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa.
-Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ
sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù
hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một
trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là "hình thức phát triển" của lực lượng sản
xuất. Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều "tạo địa bàn đầy
đủ" cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử
dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó
lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.
-Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ
sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành "xiềng xích" của lực lượng sản xuất,
kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực
lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất
mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực
lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thếquan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản
xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất
mới ra đời thay thế. C.Mác đã viết: "Tới một giai đoạn phát triển nào đó của
chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với nhữngquan hệ sản
xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ
chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, nhữngquan hệ ấy trở
thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một
cuộc cách mạng xã hội"(1).
*Vị trí của qui luật:Đây là 1 trong những qui luật cơ bản chi phối sự vận động phát
triển của các hình thái kinh tế XH trong lịch sử.
*Nội dung qui luật:
-Quan điểm duy vật lịch sử:cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là 2 mặt của đời
sống XH nó thống nhất biện chứng với nhau trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò
quyết định kiến trúc thượng tầng còn kiến trúc thượng tầng tác động lại cơ sở hạ
tầng sinh ra nó.
-Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng.
+Quyết định sự ra đời của kiến trúc thượng tầng-nghĩa là cơ sở hạ tầng thế nào sẽ
hình thành kiến trúc thượng tầng thế ấy.
+Quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng-nghĩa là một khi dưới cơ sở hạ
tầng quan hệ kinh tế giữa các giai cấp mà mang tính chất mâu thuẫn về lợi ích thì
sẽ đc p/ánh trên kiến trúc thượng tầng thành sự đối kháng về quan điểm chính trị
giữa các giai cấp.
+Quyết định sự thay đổi kiến trúc thượng tầng-nghĩa là một khi quan hệ SX thống
trị dưới cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn kiến trúc thượng tầng cũng phải
thay đổi theo.
-Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng.
+Kiến trúc thượng tầng củng cố và bảo vệ quan hệ SX thống trị sinh ra nó.
+Cải tạo và xóa dần các quan hệ SX tàn dư.
+Ngăn chặn sự ra đời của quan hệ SX mầm mống nếu có.
=>Kết luận:thực chất nd qui luật p/ánh mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và
chính trị trong XH trong đó kinh tế giữ vai trò quyết định chính trị còn chính trị lại
tác động mạnh mẽ trở lại kinh tế.
*Vận dụng qui luật ở nước ta trong thời kì đổi mới.
-Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức và vận dụng đúng đắn qui luật trên thể hiện:đổi
mới đất nước phải đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị trong đó lấy kết quả đổi
mới kinh tế làm cơ sở để từng bước đổi mới về chính trị theo định hướng XHCN
tức là phải lấy CN Mác-Lênin,tư tưởng HCM là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho hành động CM của Đảng ta và của CM Việt Nam.