Lời mở đầu
Triết học là thành tựu nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo con người và loài
người nói chung. Quá trình hình thành và phát triển của triết học diễn ra quanh co,
phức tạp và lâu dài.
Vấn đề quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt trong triết
học xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chính vì vậy việc tìm hiểu mối quan hệ biện
chứng giữa nhận thực và thực tiễn là vô cùng quan trọng, cần thiết. Chính vì vậy em
đã chọn đề tài “Quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn, ý nghĩa của nó trong
sự phát triển chuyên ngành công nghệ thông tin”.
Tiểu luận gồm các phần:
- THỰC TIỄN VÀ TÍNH CHẤT THỰC TIỄN
- NHẬN THỨC VÀ TÍNH CHẤT NHẬN THỨC
- MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA THỰC TIỄN – NHẬN THỨC
- Ý NGHĨA CỦA MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG THỰC TIỄN VÀ NHẬN
THỨC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC CỦA
BẢN THÂN
Sau đây em xin phép đi vào chi tiết.
1.
THỰC TIỄN VÀ TÍNH CHẤT THỰC TIỄN
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích,có tính sáng tạo, mang
tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Khác với các loại hoạt động khác, hoạt động thực tiễn là hoạt động mà con người sử
dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định, làm
biến đổi chúng theo mục đích của mình. Đó là những hoạt động đặc trưng và bản chất
của con người. Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng phát
triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử. Chính vì vậy hoạt động thực tiễn bao giờ
cũng có tính mục đích, mang tính sáng tạo, tính lịch sử, xã hội.
Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị
xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
- Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực
tiễn. Đây là hoạt động mà trong đó con người dùng những công cụ lao động tác
2.
NHẬN THỨC VÀ TÍNH CHẤT NHẬN THỨC
2.1. Nhận thức là gì?
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản
ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực,
năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý của các học thuyết đã có, khái quát các thành
tựu khoa học, C. Mác và Ph. Angghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật
về nhận thức. Học thuyết này ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý luận nhận
thức vì đã xây dựng được những quan điểm khoa học đúng đắn về bản chất của nhận
thức. Học thuyết này ra đời dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con
người.
Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan;
coi nhận thức là sự phản ánh thê giới khách quan vào bộ óc con người, là hoạt động
khách quan của chủ thể; thừa nhận không có gì là không thể nhận thưc được mà chỉ có
cái con người chưa nhận thức được.
Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác
và sáng tạo. Quá trình phản ánh đó diễn ra theo trinh tự từ chưa biết đến biết, tư biết ít
đến nhiều, tư chưa sâu sắc, chưa toàn diện đến sâu săc và toàn diện hơn,
Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức và là tiêu
chuẩn để kiểm tra chân lý.
Theo quan điêm duy vật biên chứng, nhận thức là một quá trình. Đó là quá trình đi
từ trình độ nhận thức kinh nghiêm đến trình độ nhận thức lý luận; tư trình độ nhân
thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học. Dựa trên nguyên tắc đó, chủ
nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng tích
cực, tự giác và sang tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở
thực tiễn.
2.2. Tính chất của nhận thức
2.2.1. Các giai đoạn của nhận thức
tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái
niệm, phán đoán, suy luận.
+ Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc
tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng
hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay lớp sự vật.
+ Phán đoán: là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với nhau
để khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối tượng.
+ Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với nhau
để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới.
Giai đoạn này cũng có hai đặc điểm:
- Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng.
- Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý
tính. Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật.
Nhận thức trở về thực tiễn, ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai. Nói cách
khác, thực tiễn có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thức được. Do đó, thực tiễn là
tiêu chuẩn của chân lý, là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức. Mục đích cuối
cùng của nhận thức không chỉ để giải thích thế giới mà để cải tạo thế giới. Do đó, sự
nhận thức ở giai đoạn này có chức năng định hướng thực tiễn.
2.2.2. Phân loại nhận thức
a. Dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng
-
Nhận thức kinh nghiệm hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học. Tri thức
kinh nghiệm là kết quả của nó, được phân làm hai loại:
+ Tri thức kinh nghiệm thông thường là loại tri thức được hình thành từ
sự quan sát trực tiếp hàng ngày về cuộc sống và sản xuất. Tri thức này rất
phong phú, nhờ có tri thức này con người có vốn kinh nghiệm sống dùng để
điều chỉnh hoạt động hàng ngày.
thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính hệ thống,
có căn cứ và có tính chân thực.
Hai loại nhận thức này cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nhận thức
thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung
của các khoa học. Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học thì nó lại tác
động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập và làm cho nhận thức thông thường
phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhận thức thế giới của con
người.
2.2.3. Chân lý
Khái niệm : Mọi quá trình nhận thức đền dẫn tới sự sáng tạo ra những tri thức, tức
là những hiểu biết của con người vê thực tại khách quan, nhưng không phải mọi tri
thức đều có nội dung phù hợp với thực tại khách quan, bởi vì nhận thức thuộc về sự
phản ánh của con người đối với thực tại khách quan đó. Thực tế lịch sử nhận thức của
toàn nhân loại cũng như của mỗi con người đã chứng minh rằng, những tri thức mà
con người đã và đang đạt được không phải bao giờ cũng phù hợp với thực tế khách
quan; trái lại có nhiều trường hợp không phù hợp, thậm chí là đối lập với thực tế
khách quan.
Khái niệm chân lý được dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực
tế khách quan; sự phù hợp đó được chứng minh bởi thực tiễn.
K. Marx: "Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lí khách
quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn.
Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí".
Ngoài ra, khi xem xét về các tính chất của chân lí, người ta đưa ra 4 tính chất: tính
khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể. Nói về mối quan hệ thống
nhất biện chứng giữa tính tương đối và tính tuyệt đối của chân lí, Lenin viết: "Chân lí
tuyệt đối được cấu thành từ tổng số những chân lí tương đối đang phát triển; chân lí
tương đối là những phản ánh tương đối đúng của một khách thể tồn tại độc lập với
nhân loại; những phản ánh ấy ngày càng trở nên chính xác hơn; mỗi chân lí khoa học,
dù là có tính tương đối, vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lí tuyệt đối".
3.
- Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những nấc thang hợp thành chu kỳ
nhận thức. Trên thực tế, chúng thường diễn ra đan xen vào nhau trong một quá
trình nhận thức, song chúng có những chức năng nhiệm vụ khác nhau. Nếu
nhận thức cảm tính gắn liền với thực tiễn, với sự tác động của khác thể cảm
tính, thì nhận thức lý tính, nhờ có tính khái quát cao, lại có thể hiểu biết được
bản chất, quy luật vận động và phát triển sinh động của sự vật, giúp nhận thức
cảm tính có được sự định hướng đúng đắn và trở nên sâu sắc hơn.
- Quy luật chung, có tính chu kỳ lặp đi lặp lại của quá trình vận động, phát triển
của nhận thức là : Từ thực tiễn đến nhận thức từ nhận thức – từ nhận thức trở
về với thực tiễn…quá trình này lặp đi lặp lại không có điểm dừng cuối cùng,
trình độ nhận thức và thực tiễn ở chu kỳ sau thường cao hơn chu kỳ trước, nhờ
đó mà quá trình nhận thức đạt dần tới những tri thức ngày càng đúng đắn hơn
và sâu sắc hơn về thực tại khách quan.
- Hoạt động thực tiễn chỉ có thể thành công và có hiệu quả một khi con người
vận dụng được những tri thức đúng đắn về thực tế khách quan trong chính hoạt
động thực tiễn của mình. Thực tiễn phát triển nhờ sử dụng những nhận thức
đúng đắn đạt được trong hoạt động thực tiễn.
- Thực tiễn phát triển là nhờ những vận dụng đúng đắn những nhận thức chân lý
mà con người đã đạt được trong quá trình thực tiễn của mình.
3.2. TÁC ĐỘNG CỦA THỰC TIỄN ĐÊN NHẬN THỨC
Hoạt động thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích của nhận thức
và là tiêu chuẩn của chân lý,kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức.Sở dĩ như
vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức;nó đề ra nhu cầu,nhiệm
vụ,cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức.
a. Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức:
Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan, bắt các
sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và quy luật
của chúng. Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các vấn đề đòi hỏi
con người phải giải đáp và do đó nhận thức được hình thành.
Qua hoạt động thực tiễn, não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn, các
quan của con người. Nhờ đó khả năng nhận thức của con người ngày càng sâu sắc
hơn.
Mọi nhận thức của con người đều có nhận thức từ thực tiễn, thực tiễn cung cấp
những tài liệu hiện thực khách quan làm cơ sở cho người nhận thức bằng hoạt động
thực tiễn con người tác động ở thế giới khách quan và phải bộc lộ ra những đặc trưng,
những thuộc tính, những quy luật vận động và phát triển để con người nhận thức và
thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn con người đã sáng tạo ra những công cụ
những phương tiện ngày càng tinh xảo để nhận thức thế giới và hoạt động thực tiễn
làm cho con người ngày càng hoàn thiện hơn.
b. Thực tiễn là động lực của nhận thức:
Ngay từ đầu, nhận thức đã bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định. Mỗi
bước phát triển của thực tiễn lại luôn luôn đặt ra những vấn đề mới cho nhận thức,
thúc đẩy nhận thức tiếp tục phát triển. Như vậy thực tiễn trang bị những phương tiện
mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự nhận thức.
Thực tiễn là động lực bởi thực tiễn đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ, phương
hướng, cho nhận thức phát triển. Thực tiễn còn tạo ra các tiền đề vật chất cần thiết cho
nhận thức.
Như vậy, thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức (lý luận), mọi tri thức dù
hình thành ở trình độ nào, giai đoạn nào, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ thực tiễn.
c. Thực tiễn là mục đích của nhận thức :
Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào
thực tiễn. Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các tri thức mà là
nhằm cải tạo hiện thức kháchquan , đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần xã
hội. Sự hình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ thực tiễn, do yêu cầu
của thực tiễn.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức vì xét đến cùng nhận thức là nhằm phục
vụ hoạt động thực tiễn và nâng cao hiệu quả thực tiễn. Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra
chân lý vì các tri thức của con người đc khái quát, tổng kết chưa chắc đã đúng do vậy
các tri thức ấy phải đc kiểm tra đối chứngtrong thực tiễn nếu đó là đúng thì đó là chân
lý. Các tri thức khoa học chỉ có giá trị khi nó đươc vận dụng vào thục tiễn.
thức triết học Mác – Lênin giúp em dễ dàng hơn trong việc phân tích để tìm ra đâu là
nguyên nhân cơ bản trong vô số những nguyên nhân tác động tới một sự vật, hiện tượng,
hoặc cũng như xác định được mối quan hệ chủ yếu, bản chất của vấn đề đang nghiên cứu
để tập trung giải quyết.
Tư duy biện chứng duy vật, hay cụ thể là nghiên cứu mối quan hệ biện chứng thực tiễn
và nhận thức giúp cho ta khắc phục được tư tưởng bảo thủ, trì trệ và thái độ định kiến
với cái mới.Điều này là hết sức quan trong trong chuyên ngành công nghệ thông tin của
em. Một chuyên ngành luôn đòi hỏi nghiên cứu, cải tiến, thay đổi từng ngày.
Nó cũng giúp em tránh những mò mẫm, phỏng đoán thiếu cơ sở khoa học và nguy cơ
rơi vào ảo tưởng. Ngoài ra, nó cũng giúp cho em nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách
khách quan và khoa học, khắc phục sai lầm chủ quan.
Tất cả các điều đó nói lên rằng mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức có
vai trò quan trọng trong sự phát triển chuyên ngành công tác của em. Nó giúp tránh các
tư duy sai lầm, thúc đẩy đầu tư nghiên cứu, học hỏi cái mới. ĐIều này chính là động lực
thúc đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển chuyên ngành mà em đang công tác.
KẾT LUẬN
Phép biện chứng duy vật ra đời là một quá trình hợp với qui luật phát triển của nhận
thức. Đây là một triết học toàn diện nhất, sâu sắc nhất và triệt để nhất của sự vận động
và phát triển của thế giới vật chất. Với bản chất khoa học cách mạng
Phép biện chứng duy vật đã, đang và tiếp tục cung cấp cho chóng ta hệ thống các
nguyên tắc phương pháp luận phổ biến, thực sù khoa học và có hiệu quả trong nhận
thức và hoạt động thực tiễn xã hội nói chung. Vận dụng trung thành và sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là phép biện chứng duy vật là vấn đề nguyên tắc đối với tất
cả các Đảng Cộng Sản và phong trào công nhân quốc tế, trong đó có Việt Nam. Thực
tiễn chứng minh rằng, trải qua những bước khác nhau trong mọi hoàn cảnh, phép biện
chứng duy vật luôn tỏ ra là đỉnh cao của trí tuệ loài người, luôn có ý nghĩa thực tiễn
hết sức to lớn. Thực tiễn cũng luôn xảy ra các vấn đề hết sức phức tạp của từng nước,
từng quốc gia, dân téc và đặc điểm văn hoá, kinh tế, xã hội….
Tóm lại hoạt động nhận thức trên cơ sở thực tiễn. Không được đề cao quá thực tiễn