SKKN: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM VÀ
XÂY DỰNG CÔNG THỨC TÍNH DIỆN TÍCH CÁC HÌNH CHO HỌC SINH
LỚP 3
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong quá trình triển khai thực hiện chương trình
SGK mới trên cả nước. Chương trình SGK mới của tiểu học tương đối ổn định về
nội dung, mục tiêu giáo dục được xác định cụ thể, rõ ràng để giúp học sinh lĩnh hội
tri thức một cách tích cực, chủ động, sáng tạo hình thành kỹ năng, kỹ sảo và vận
dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống hằng ngày, yêu cầu cơ bản phải đổi
mới những phương pháp dạy học.
Xuất phát từ thực trạng việc dạy học hình thành khái niệm công thức tính
diện tích các hình cho học sinh lớp 3 ở trường tiểu học hiện nay.
Việc hình thành khái niệm và xây dựng công thức tính chu vi, diện tích các hình
cho học sinh lớp 3 từ trước đến nay đã được nhiều giáo viên vận dụng các phương
pháp dạy học để đảm bảo chất lượng dạy học. Tuy nhiên do nhiều lý do khách quan
(cơ sở vật chất, thiết bị…) lý do chủ quan (trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một
số giáo viên còn hạn chế, nhận thức về phương pháp dạy học chưa đầy đủ…) nên
kết quả dạy học mạch kiến thức này vẫn còn bị hạn chế.
Ở thời điểm hiện nay, phương pháp dạy học hình thành khái niệm và xây dựng
công thức tính diện tích các hình cho học sinh lớp 3 đang là vấn đề quan tâm lớn
của đội ngũ giáo viên cũng như các nhà quản lý giáo dục.
Xuất phát từ lý do thực tế đã nêu trên và cũng là phần nào đó hỗ trợ cho việc triển
khai dạy học SGK Toán lớp 3 phần hình thành khái niệm và xây dựng công thức
tính chu vi, diện tích các hình cho học sinh lớp 3 nói riêng. Tôi quyết định chọn đề
tài “Đổi mới phương pháp dạy học hình thành khái niệm và xây dựng công thức
tính diện tích các hình cho học sinh lớp 3”.
1
Nghiên cứu mong muôn sẽ giúp học sinh khắc phục được những yếu điểm đã
nêu về toán học từ đó đạt được kết quả cao khi giải bài toán nói riêng và đạt kết quả
cao trong quá trình học tập nói chung.
sinh để từ đó đưa ra lời giải đúng của bài toán.
3
PHẦN 2 - NỘI DUNG
I. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
a, Thuận lợi:
- Học sinh đã được làm quen với các dạng toán về yếu tố hình học như đỉnh, góc,
cạnh, chu vi, hình tam giác, hình chữ nhật, chu vi, hình vuông.
- Học sinh trong lớp phần đông các em có ý thức học tập.
- Nhà trường tạo điều kiện về tài liệu tham khảo sách hướng dẫn, SGK và các thiết
bị dạy học. Đặc biệt có sự quan tâm giúp đỡ của ban lãnh đạo nhà trường và của
đồng nghiệp.
b, Những khó khăn:
- Giáo viên cảm thấy vất vả khi dạy mảng kiến thức này. Học sinh hay nhầm lẫn
sang cách tính chu vi hình chữ nhật.
- Học sinh hay nhầm lẫn tên đơn vị do diện tích với tên đơn vị đo chu vi.
- Tìm hiểu nội dung chương trình SGK Toán 3 và một số phương pháp Toán
thường được sử dụng ở Tiểu học.
c. SGK Toán 3 gồm những nội dung chủ yếu:
+ Số học.
+ Đại lượng và đo đại lượng.
+ Yếu tố hình học.
+ Yếu tố thống kê.
+ Giải toán.
Từ thực trạng của việc dạy và học môn Toán trong nhà trường Tiểu học cũng
như để phù hợp với nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vấn đề đổi
mới phương pháp dạy học môn Toán nảy sinh, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
sư phạm, giáo dục. Định hướng đổi mới của dạy học Toán cũng thống nhất với
định hướng đổi mới nói chung nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
khơi dậy và phát triển khả năng tự học, nhằm hình thành cho học sinh tư duy tích
cực, độc lập sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề rèn luyện kỹ
dựng công thức tính diện tích các hình ở lớp 3.
a, Hình thành biểu tượng về diện tích của một hình ở lớp 3. Tiết 139.
- Giáo viên đưa ra hình tròn và hình chữ nhật.
- Giáo viên đặt hình chữ nhật lên hình tròn.
(Hình chữ nhật nằm trọn trong hình tròn)
- Học sinh quan sát thấy được hình chữ nhật nằm hoàn toàn trong hình tròn.
- Giáo viên kết luận: Diện tích hình chữ nhật bé hơn diện tích hình tròn.
* Giáo viên đưa ra hình A và hình B.
- Học sinh nhận biết hình A có 4 ô vuông như nhau.
- Hình B cũng có 4 ô vuông như thế.
- Giáo viên kết luận diện tích hình vuông A bằng diện tích hình B.
(A)
* Giáo viên đưa ra hình P.
- Học sinh nhận biết hình P gồm 10 ô vuông như nhau.
+ Dùng kéo cắt hình P thành 2 hình N và hình M.
+ Học sinh nhận biết diện tích hình M bằng 6 ô vuông và diện tích hình N bằng 4 ô
vuông như thế.
- Giáo viên kết luậndiện tích hình P bằng diện tích của hình N và hình M.
6
(B)
P N
M
b, Xây dựng quy tắc diện tích hình chữ nhật ở lớp 3
- Giáo viên đưa ra hình chữ nhật ABCD .
- Có chiều dài 4 cm, chiều rộng 3cm.
- Dựa vào hình vẽ hướng dẫn học sinh theo các bước:
+ Tính số ô vuông trong hình chữ nhật ABCD:
4 x 3=12 (ô vuông)
Nhận biết diện tích mỗi ô vuông trong hình chữ nhật ABCD là 1cm
2.
- Học sinh nhận biết 3 cm là cạnh của hình vuông 9cm
2
là diện tích hình vuông
ABCD từ đó học sinh rút ra quy tắc tính diện tích hình vuông: Lấy độ dài một cạnh
nhân với chính nó.
IV. Kết quả nghiên cứu
Căn cứ vào tiến trình giờ dạy. Qua việc đổi mới phương pháp dạy học tôi
thấy chất lượng giờ dạy được nâng lên rõ rệt. Học sinh đã hiểu bài, hầu hết học sinh
thuộc bài toán một cách đầy đủ, sâu sắc, lớp học sôi nổi, kết quả kiểm tra cao, học
sinh tin tưởng vào khả năng học tập của mình.
Phát huy tính chủ động tự phát hiện và giải quyết các vần đề của bài học.
Từ đó tạo mối quan hệ thầy trò khăng khít gần gũi.
+ Năm học 20 20 dạy lớp 3A học sinh khá giỏi đạt 65 - 70%
8
D
C
1cm
2
A
B
+ Năm học 20 20 dạy lớp 3A chất lượng hiện nay khá giỏi đạt 75 - 80%
9
PHẦN 3 – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I. Kết luận
Sáng kiến kinh nghiệm đã thu được một số kết quả sau đây:
1. Đã hệ thống hóa, phân tích, diễn giải được khái niệm kĩ năng và sự hình
thành kĩ năng học và giải bài tập toán cho học sinh
2. Thống kê được một số dạng toán điển hình liên quan đến nội dung chuyên
đề thực hiện.
3. Chỉ ra một số sai lầm thường gặp của học sinh trong quá trình giải quyết
dựng công thức diện tích hình chữ nhật, hình vuông
- Giáo viên cần phải có thái độ nghiêm túc, nghiên cứu bài dạy, trao đổi, học
hỏi kinh nghiệm của bạn bè, đồng nghiệp để lựa chọn, vận dụng linh hoạt các
phương pháp, các hình thức dạy học phù hợp với mỗi bài trong mạch kiến thức
“hình thành khái niệm và xây dựng công thức tính diện tích các hình”.
- Coi trọng việc thực hành của học sinh giúp các em áp dụng các kiến thức
đã học vào thực tế chẳng hạn tự đo và tính diện tích mảnh vườn, cái sân, diện tích
nền nhà, diện tích viên gạch…
1. Với Sở GD&ĐT
Quan tâm hơn nữa đến việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên
dạy toán. Nên tổ chức các hội thảo chuyên đề chuyên sâu cho giáo viên trong tỉnh.
2. Với BGH nhà trường
- Hiện nay, nhà trường đã có một số sách tham khảo tuy nhiên có vẻ như
chưa đầy đủ. Vì vậy nhà trường cần quan tâm hơn nữa về việc trang bị thêm sách
tham khảo môn Toán để học sinh được tìm tòi, học tập khi giải toán để các em có
thể tránh được những sai lầm trong khi làm bài tập và nâng cao hứng thú, kết quả
học tập môn toán nói riêng, nâng cao kết quả học tập của học sinh nói chung.
3. Với PHHS
11
- Quan tâm việc tự học, tự làm bài tập ở nhà của con cái. Thường xuyên
kiểm tra sách, vở và việc soạn bài trước khi đến trường của các con
Trên đây là những kinh nghiệm được rút ra. Tôi xin Hội đồng khoa học giáo
dục cấp trên xem xét, bổ sung góp ý kiến vào kinh nghiệm để tôi thực hiện tốt hơn
trong việc giảng dạy đạt kết quả cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
…………., ngày … tháng … năm 20…
Người viết
12