Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
TẠI DỰ ÁN KHU TÁI ĐỊNH CƢ XÃ KỲ LONG,
HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 60.85.01.03 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học
Qua đây, tôi cũng xin chân trọng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ ban ngành xã
Kỳ Long, huyện Kỳ Anh và các cán bộ phòng chuyên môn của UBND huyện Kỳ
Anh đã giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này.
Do trình độ còn hạn chế và thời gian có hạn, phương pháp nghiên cứu khoá
luận của tôi vẫn còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các
thầy cô và bạn bè để luận văn tốt nghiệp của tôi hoàn chỉnh và sâu sắc hơn.
Kỳ Anh, ngày 15 tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 3
1.1.1. Mối quan hệ giữa TĐC và thu hồi đất 9
1.1.2. Khái quát về chủ trương, chính sách TĐC của Đảng 12
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 44
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 44
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Kỳ Long 50
3.1.3. Tình hình sử dụng đất và quản lý đất đai 57
3.2. Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng của dự án Tái định cư xã Kỳ Long,
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh 60
3.2.1. Tổng quan về dự án Khu tái định cư xã Kỳ Long 60
67
3.2.3. Đánh giá việc thực hiện các qui định, chính sách của Nhà n
72
72
74
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
75
3.2.7. Đánh giá về chính sách hỗ trợ và công tác bố trí tái định cư 76
dân trong khi thực hiện dự án 77
3.3.1. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước 77
3.3.2. Đánh giá tình hình công việc của người dân sau tái định cư 78
79
79
3.4.2. Đề xuất phương án giải quyết và rút ra những bài học kinh nghiệm cho công
tác bồi th 80
KẾT KUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1. Kết luận 84
2. Đề nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
TT-BTNMT
: Thông tư - Bộ tài nguyên môi trường
TTLT/BTC-BTNMT
: Thông tư liên tịch/Bộ tài chính-Bộ tài nguyên môi trường
UBND
: Uỷ ban nhân dân
WB
: Ngân hàng thế giới
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành 50
g h 2011 52
Bảng 3.3: Dân số, lao động và việc làm 53
, liên thôn của xã Kỳ Long 55
56
Bảng 3.6: Cơ cấu diện tích các loại đất năm 2012 của xã Kỳ Long 58
với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày càng phát triển. Điều này đã
làm cho việc xây dựng các khu dân cư mới, các khu công nghiệp tăng lên
mạnh mẽ và để có đất phục vụ cho việc xây dựng các công trình, hoàn thiện cơ
sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội ngày càng tăng lên,
hàng loạt các dự án lớn nhỏ được triển khai thực hiện với sự gia tăng đầu tư
trong và ngoài nước cả về quy mô và số lượng thì vai trò, vị trí của công tác giải
phóng mặt bằng, đền bù và bố trí tái định cư ngày càng quan trọng hơn, nhằm
đáp ứng đất đai cho quá trình phát triển là một việc tất yếu.
Đặc điểm của công tác giải phóng mặt bằng, đền bù và bố trí tái định cư là
mang tính nhạy cảm, đa dạng và phức tạp. Trong khi hệ thống pháp luật chính
sách về đất đai và nhà ở hiện nay chưa thực sự hoàn thiện còn nhiều vấn đề bất
cập cần phải sửa đổi, bổ sung cộng với công tác quản lý còn yếu kém gây ra tình
trạng kiện cáo, khiếu nại kéo dài.
Công tác giải phóng mặt bằng, đền bù và bố trí tái định cư liên quan đến lợi
ích của Nhà nước, người bị thu hồi đất. Trong điều kiện đất đai ngày càng có giá trị
cho nên vấn đề lợi ích đó càng cấp thiết hơn, quyết định đến sự thành công hay tiến
độ thực hiện các dự án và thể hiện chính sách công bằng của Nhà nước ta.
Xã Kỳ Long - huyện Kỳ Anh - tỉnh Hà Tĩnh là xã nằm trong vùn
- , đã và đang hình thành hướng đi thích
hợp trong việc khơi dậy tiềm năng và thế mạnh tại địa phương, hoàn thiện xây
dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp ở Kỳ Anh nên công tác giải phóng mặt
bằng, đền bù và bố trí tái định cư ở đây được đẩy mạnh và sôi nổi hơn. Tuy
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
nhiên, hiện nay công tác đền bù, giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư ở xã
vẫn chưa đạt đựơc hiệu quả cao vì còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần giải quyết.
Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thấy được tầm quan trọng của công
tác g
: “Đánh
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di
dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất
nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới.
Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành Hội đồng
giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới. Đây là
một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên
quan trực tiếp đến các bên tham gia và của toàn xã hội.
Khái niệm TĐC
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay ở Việt Nam,
TĐC cho người dân bị mất đất ở là một vấn đề rất bức thiết, được dư luận quan tâm.
Bởi vậy, thuật ngữ “TĐC” được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại
chúng cũng như trong cuộc sống của người dân. Nó cũng là một thuật ngữ pháp lý
được đề cập nhiều trong các văn bản pháp luật, đặc biệt là văn bản pháp luật về đất
đai. Vậy “TĐC” là gì?
“Từ điển Luật học” - cuốn sách tập hợp những giải thích trên khía cạnh pháp
lý về các thuật ngữ pháp lý thông dụng không đưa ra định nghĩa về “TĐC”.
Trong “Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên cũng không giải
thích về thuật ngữ “TĐC”. Tuy nhiên, tác giả lại chỉ rõ: “tái: hai lần hoặc lần thứ
hai; lại một lần nữa”
[46, tr.1485]; “định cư: ở lại một nơi nhất định để sinh sống và
làm ăn, phân biệt với du cư” [46, tr.641]. Như vậy, có thể hiểu TĐC là việc một lần
nữa chuyển đến một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn ổn định. Có thể thấy cách
hiểu về TĐC như trên không chỉ áp dụng trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất
của người sử dụng đất mà còn áp dụng đối với một số trường hợp khác không liên
quan đến thu hồi đất như TĐC cho đồng bào dân tộc ít người sinh sống du canh du
cư, hoặc TĐC tự phát của từng người dân riêng lẻ…
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
gắn liền trên đất. Như vậy, quan điểm của Ngân hàng thế giới và của pháp luật Việt
Nam về nội hàm khái niệm “TĐC” có điểm không tương đồng với nhau.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
Xem xét khái niệm TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, có thể thấy rất rõ TĐC là
hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất của Nhà nước. Nói cách khác, vấn đề TĐC chỉ
đặt ra khi có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất của người
sử dụng đất. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp cứ có hành vi thu hồi đất
là phát sinh vấn đề TĐC. Để công tác TĐC được tiến hành phải đáp ứng được một
số điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật, trong đó điều kiện về thu hồi đất
là tiên quyết, quan trọng nhất.
Khi Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất, bên cạnh việc tổ chức TĐC
cho người dân không còn chỗ ở thì Nhà nước còn phải thực hiện việc bồi thường,
hỗ trợ cho người sử dụng đất. Như vậy, TĐC chính là một trong các công việc của
hậu thu hồi đất.
Từ những cơ sở trên, có thể đưa ra khái niệm về TĐC như sau: TĐC là một
trong các trách nhiệm của Nhà nước bố trí nơi ở mới cho người bị Nhà nước thu
hồi đất và phải di chuyển chỗ ở bằng một trong các hình thức: bồi thường bằng
nhà ở mới hoặc bồi thường bằng giao đất ở hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo
chỗ ở mới. TĐC là hậu quả pháp lý của hành vi thu hồi đất của Nhà nước.
TĐC có các đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, TĐC là việc giải quyết hậu quả pháp lý của một hành vi hành
chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi họ ra quyết định thu hồi đất ở của
người đang sử dụng đất
Thứ hai, về đối tượng, TĐC chỉ áp dụng đối với trường hợp người sử dụng
đất ở bị Nhà nước thu hồi đất ở và phải di chuyển chỗ ở;
Thứ ba, mục đích của TĐC là nhằm giải quyết chỗ ở mới cho người bị thu hồi
đất và phải di chuyển chỗ ở để giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống và sinh hoạt.
Đây là mục đích xuyên suốt trong chính sách, pháp luật về TĐC. Việc di
công trình khác. Giải phóng mặt bằng kéo dài dẫn đến chi phí bồi thường lớn,
không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến sự quay vòng vốn chậm gây khó
khăn cho các nhà đầu tư. Đặc biệt, các nhà đầu tư trong nước có nguồn vốn hạn
hẹp thì việc quay vòng vốn là rất cần thiết để đảm bảo tận dụng cơ hội đấu thầu
của các công trình khác.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
- Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nếu công tác giải phóng mặt bằng không được thực hiện tốt sẽ xảy ra hiện
tượng “treo” công trình làm cho chất lượng công trình bị giảm, các mục tiêu ban
đầu không thực hiện được, từ đó gây lãng phí rất lớn cho ngân sách Nhà nước. Mặt
khác, khi giải quyết không thoả đáng quyền, lợi ích hợp pháp của người có đất bị
thu hồi sẽ dễ dàng nổ ra những khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể, làm
cho tình hình chính trị - xã hội mất ổn định.
* Cơ sở thực tiễn
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa Kỳ Anh đã có nhiều bước
phát triển vượt bậc. Trong quá trình đổi mới phát triển, Huyện đã có nhiều các dự
án quy hoạch phát triển, mở rộng khu dân cư, khu đô thị. Việc thực hiện các dự án
trên đã có nhiều ảnh hưởng tới việc sử dụng và quản lý đất đai của Huyện Kỳ Anh.
Nhất là việc sử dụng đất nông nghiệp, đất ở. Để giải quyết vấn đề đó Huyện đã thu
hồi một phần không nhỏ diện tích đất đang sử dụng và có phương án đền bù.
5 xã tiến
hành giải phóng mặt bằng của Tổng dự án Khu công nghiệp gang thép và cảng sơn
dương của tập đoàn Formosa. Xã nằm tại vị trí trọng điểm của tổng dự án. Dự án đã
thu hồi một diện tích đất đang sử dụng của xã Kỳ Long. Việc thu hồi và đền bù giải
phóng mặt bằng đã thực hiện bước đầu, tuy nhiên vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Đề tài nghiên cứu chính sách về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
của dự án và đề xuất hướng hoàn thiện chính sách kèm theo các giải pháp thực hiện.
Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá,
đô thị đó đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Đối với đất ở thu hồi
tại các đô thị khác không thuộc loại đô thị đặc biệt và loại 1 thì được bồi thường
bằng đất, bằng tiền hoặc nhà ở theo đề nghị của người có đất bị thu hồi. Trong
trường hợp trong nội đô thị không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng đất ở tại
ngoại đô thị [14, tr.65-66].
Đối với khu vực nông thôn, TĐC chủ yếu được thực hiện dưới hình thức
TĐC bằng đất ở. Đó có thể là đất ở xen dắm trong các khu dân cư, hoặc cũng có thể
là đất ở tập trung trong các khu TĐC được quy hoạch. Chỉ trong trường hợp người
bị thu hồi đất không có nhu cầu nhận đất ở TĐC mà yêu cầu nhận bồi thường bằng
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
9
tiền để tự lo chỗ ở mới thì họ sẽ được đáp ứng. Riêng đối với hình thức TĐC bằng
nhà ở hầu như không được áp dụng đối với việc TĐC ở khu vực nông thôn.
Lý do dẫn đến tình trạng như trên xuất phát từ thực trạng quỹ đất ở hiện
nay ở các địa phương. Đối với khu vực đô thị, với việc gia tăng nhanh dân số thì
nhu cầu về nhà ở cũng tăng lên tương ứng, bởi vậy quỹ đất ở hạn hẹp tại khu vực đô
thị không thể đáp ứng được nhu cầu đặt ra. Bởi vậy, việc TĐC bằng đất ở là rất khó
thực hiện, đặc biệt là tại các đô thị loại đặc biệt và loại 1; giải pháp TĐC bằng nhà
ở, nhất là nhà chung cư cao tầng là lựa chọn hợp lý. Riêng đối với khu vực nông
thôn, nơi mà quỹ đất ở về cơ bản có thể đáp ứng được yêu cầu TĐC thì việc TĐC
bằng đất ở là chủ yếu được coi là một lựa chọn khôn ngoan, bởi lẽ nó vừa giảm chi
phí cho Nhà nước khi không phải xây dựng nhà ở TĐC, vừa đảm bảo hơn quyền lợi
của người có đất bị thu hồi.
1.1.1. Mối quan hệ giữa TĐC và thu hồi đất
1.1.1.1. Một số vấn đề khái quát về thu hồi đất:
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu. Chế độ sở hữu này khác hoàn toàn so với chế độ tư hữu đất đai được thừa nhận
ở nhiều quốc gia trên thế giới. Xuất phát từ điểm khác biệt cơ bản này mà việc thu
hồi đất ở nước ta cũng có nhiều điểm đặc thù.
người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường về đất, bồi thường thiệt hại về tài sản
trên đất; được xem xét hỗ trợ; TĐC.
- Nhóm thứ hai: các trường hợp thu hồi vì các lý do đương nhiên
Đây là các trường hợp thu hồi đất không do lỗi của người sử dụng đất gây ra
và cũng không xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước, của xã hội mà việc sử dụng đất
bị chấm dứt bởi các sự kiện pháp lý hay tình huống bất khả kháng. Ví dụ: thu hồi
đất do cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; người sử dụng đất tự
nguyện trả lại đất; đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia
hạn khi hết thời hạn Trong các trường hợp này, người sử dụng đất không được bồi
thường về đất. Họ có thể được xem xét hỗ trợ một phần kinh phí bồi thường thiệt
hại về tài sản trên đất.
- Nhóm thứ ba: các trường hợp thu hồi đất do người sử dụng đất vi phạm
pháp luật đất đai.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
11
Đây là các trường hợp thu hồi đất do lỗi vi phạm pháp luật đất đai của người
sử dụng đất gây ra. Ví dụ: sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có
hiệu quả, người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất, người sử dụng đất không thực hiện
nghĩa vụ đối với Nhà nước … Các trường hợp thu hồi đất này, người sử dụng đất
không được bồi thường, hỗ trợ, TĐC. Họ chỉ có thể được Nhà nước xem xét, hỗ trợ
một phần kinh phí cho việc di dời.
1.1.1.2. Mối quan hệ giữa thu hồi đất và TĐC:
Xuất phát từ cách phân loại các trường hợp thu hồi đất, có thể thấy mỗi
nhóm trường hợp thu hồi đất sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý nhất định. Hay nói cách
khác, đối với các nhóm trường hợp khác nhau, Nhà nước đều có hướng xử lí khác
nhau, tùy vào bản chất pháp lý của từng trường hợp. Đối với nhóm trường hợp thứ
hai và thứ ba, việc thu hồi đất của Nhà nước là xuất phát từ nguyên nhân khách
quan (vì các lí do đương nhiên hoặc vì người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp
luật đất đai). Bởi vậy, Nhà nước không có trách nhiệm phải bồi thường, hỗ trợ,
1.1.2.1. Sự cần thiết của việc xây dựng chính sách TĐC
Ở bất kỳ quốc gia nào, đất đai cũng được đánh giá là tài nguyên quốc gia vô
cùng quan trọng, là tư liệu sản xuất không thể thay thế. Ý thức được tầm quan trọng
của đất đai, kể từ khi thành lập, Đảng ta đã luôn chú trọng đến vấn đề này. Trải qua
các giai đoạn lịch sử khác nhau, Đảng ta luôn kịp thời đề ra các chủ trương, chính
sách đất đai cho phù hợp với những thay đổi, phát triển của cách mạng Việt Nam.
Bởi lẽ “đất đai là hàng hóa đặc biệt, là nguồn nội lực và là nguồn vốn to lớn, rất quý
của đất nước, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc” [21, tr3]
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng,
nhất là đối với đất để phục vụ phát triển hạ tầng, thực hiện các dự án đầu tư… thì
quỹ đất nhàn rỗi của Nhà nước không đáp ứng được. Bởi vậy, việc thu hồi đất đối
với người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất là việc làm không thể
tránh khỏi. Một khi vấn đề thu hồi đất được đặt ra sẽ ảnh hưởng đến nhiều chủ thể
liên quan, trong đó người bị thu hồi đất là người chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất. Nếu
không quan tâm giải quyết nhanh chóng, đúng mức, đảm bảo được quyền và lợi ích
hợp pháp của người bị thu hồi đất thì việc thực hiện thu hồi đất chắc chắn sẽ gặp rất
nhiều khó khăn. Điều này đã được kiểm nghiệm trên thực tế. Trong thời gian qua,
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
70% khiếu kiện thuộc về lĩnh vực đất đai, trong số đó khiếu kiện về bồi thường, hỗ
trợ, TĐC chiếm số lượng rất lớn, lại là khiếu kiện kéo dài. Có thể nói, giải phóng
mặt bằng nói chung và TĐC nói riêng là vấn đề gây bức xúc dư luận và việc giải
quyết nó là một bài toán làm đau đầu các cơ quan hữu quan. Bởi vậy, Đảng và Nhà
nước cần phải ban hành những chính sách hợp lí để vạch ra phương hướng, đường
lối giải quyết vấn đề này, nhằm ổn định cuộc sống cho người bị thu hồi đất, đồng
thời góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội.
1.1.2.2. Nội dung cơ bản của chính sách TĐC:
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 và các
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương tiếp theo, Đảng ta chủ trương thực hiện
- Chính phủ quy định khung giá đất cho từng địa bàn, trong từng thời gian
(có điều chỉnh theo tình hình thực tế) và nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất.
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định giá cụ thể làm căn cứ bồi
thường khi thu hồi đất;
- Phải lập và xây dựng khu TĐC trước khi thu hồi đất đối với những dự án
thu hồi đất đang sử dụng; đồng thời chú trọng đào tạo để chuyển đổi nghề cho lao
động TĐC. Việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC và đào tạo việc làm theo nguyên tắc “bảo
đảm cho người bị thu hồi đất đến chỗ ở mới có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt
hơn nơi ở cũ”;
- Nhà nước có quy hoạch tổng thể về sử dụng đất trên địa bàn cả nước, tạo
điều kiện cho các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch đồng bộ việc bồi thường, TĐC
và hỗ trợ đào tạo việc làm khi thu hồi đất;
Như vậy, Nghị quyết số 26/NQ-TƯ đã đề ra quan điểm, đường lối khá đầy đủ
và toàn diện về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Quan điểm,
đường lối này có ý nghĩa hết sức quan trọng và đã được Luật Đất đai 2003 thể chế hóa,
tạo cơ sở pháp lý cho việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất.
1.2. Quy trình thực hiện công tác bồi thƣờng hỗ trợ và tái định cƣ để giải
phóng mặt bằng
Bồi thường, hỗ trợ, TĐC nói chung và công tác TĐC nói riêng là khâu then
chốt, quyết định trong quá trình Nhà nước thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế. Chỉ
khi các công tác này được thực hiện tốt, đảm bảo được lợi ích của các bên, đặc biệt
là lợi ích của người dân có đất bị thu hồi thì việc thu hồi đất mới được tiến hành
một cách thuận lợi. Xuất phát từ tầm quan trọng đó mà Nhà nước quy định một
cách tương đối đầy đủ, chặt chẽ về trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ,
TĐC tại Luật Đất đai 2003 và Nghị định 197/2004/NĐ-CP; Nghị định 69/2009/NĐ-
CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá
Theo quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 69/2009/NĐ-CP
và Thông tư 14/2009/TT-BTNMT, phương án TĐC được thực hiện như sau:
Thứ nhất, lập phương án TĐC:
Sau khi dự án đầu tư được xét duyệt hoặc chấp thuận thì Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ, TĐC hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm lập và trình
phương án bồi thường, hỗ trợ và TĐC theo quy định pháp luật. Nội dung phương án
bồi thường, hỗ trợ, TĐC gồm: (i)Tên, địa chỉ của người bị thu hồi đất; (ii) Diện tích,
loại đất, vị trí, nguồn gốc của đất bị thu hồi; số lượng, khối lượng, tỷ lệ phần trăm
chất lượng còn lại của tài sản bị thiệt hại; (iii) Các căn cứ tính toán số tiền bồi
thường, hỗ trợ như giá đất, giá nhà, công trình, số nhân khẩu, số lao động trong độ
tuổi, số người được hưởng trợ cấp xã hội; (iv) Số tiền bồi thường, hỗ trợ; (v) Việc
bố trí TĐC; (vi) Việc di dời các công trình của Nhà nước, của tổ chức, của cơ sở tôn
giáo, của cộng đồng dân cư; (vii) Việc di dời mồ mả.
Thứ hai, lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC:
Niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC tại trụ sở UBND cấp
xã và tại các điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi để người bị thu hồi đất
và những người có liên quan tham gia ý kiến;
Việc niêm yết phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện UBND cấp
xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện những người có đất bị thu hồi;
Thời gian niêm yết và tiếp nhận ý kiến đóng góp ít nhất là 20 ngày, kể từ
ngày đưa ra niêm yết.
Thứ ba, hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC
Hết thời hạn niêm yết và tiếp nhận ý kiến, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, nêu rõ