ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Ngô Thị Hà NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN NUÔI CẤY
LÊN SINH TRƯỞNG CỦA VI KHUẨN CỐ ĐỊNH NITƠ
PHỤC VỤ CHO SẢN XUẤT CHẾ PHẨM VI SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC Thái Nguyên - 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Ngô Thị Hà
cũng có những ƣu điểm nhƣ: thân thiện với môi trƣờng, giúp cân bằng sinh
thái, không nguy hại đối với sức khỏe con ngƣời. Để hƣớng tới một nền nông
nghiệp xanh thân thiện môi trƣờng thì phân bón vi sinh là lựa chọn hàng đầu.
Nhƣng việc áp dụng các sản phẩm phân bón vi sinh vào nông nghiệp vẫn còn
gặp rất nhiều khó khăn: hiệu quả không tức thì, quy mô sản xuất vẫn chƣa đủ
đáp ứng, chất lƣợng sản phẩm chƣa ổn định. Vì vậy, nghiên cứu để hoàn thiện
và nâng cao chất lƣợng phân bón vi sinh là việc làm hết sức cần thiết. Trong
đó, việc tuyển chọn đánh giá hoạt tính của các chủng vi sinh vật là khâu đầu
tiên và quan trọng trong quy trình tạo ra chế phẩm phân bón vi sinh.
Để góp phần phát triển nền nông nghiệp trong nƣớc đồng thời bảo vệ
môi trƣờng và hƣớng tới nghiên cứu loại phân bón cố định đạm tự nhiên, thân
thiện với môi trƣờng, giá thành phải chăng chúng tôi tiến hành thực hiện luận
văn tốt nghiệp với tên đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy
lên sinh trưởng của vi khuẩn cố định nitơ tự do phục vụ cho sản xuất chế
phẩm vi sinh”.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
Nội dung nghiên cứu:
- Tuyển chọn một số chủng vi khuẩn cố định nitơ từ bộ giống của phòng
Vi sinh vật môi trƣờng.
- Nghiên cứu ảnh hƣởng của nguồn dinh dƣỡng (nguồn cacbon, nồng độ
cacbon, nguồn nitơ và nồng độ CaCO
3
) lên khả năng sinh trƣởng và hoạt tính
cố định nitơ của chủng vi khuẩn cố định nitơ tuyển chọn.
- Nghiên cứu ảnh hƣởng của điều kiện nuôi cấy nhƣ nhiệt độ, pH, độ cấp
khí lên khả năng sinh trƣởng và hoạt tính cố định nitơ của chủng vi khuẩn cố
định nitơ tuyển chọn.
- Tiến hành thử nghiệm trên cây trồng trong phòng thí nghiệm.
Các loài Azotobacter thuộc loài vi sinh vật cố định nitơ hoạt động nhất.
Trong số các loài Azotobacter đã đƣợc miêu tả thì các loài đƣợc nghiên cứu
nhiều hơn cả là Az. chroococcum, Az. agilis và Az. vinelandii. Az.
chroococcum là loài chủ yếu đối với đất đồng cỏ. Trong ao hồ thƣờng gặp Az.
agilis. Các loài nói trên khác nhau ở đặc điểm sinh trƣởng trên môi trƣờng
đặc, ở kích thƣớc, hình thái tế bào và một số đặc điểm sinh lý học. Az.
chroococcum tạo ra những khuẩn lạc nhầy, lồi hoặc lan, lúc đầu không màu,
sau đó biến thành màu nâu tối, thậm trí đến đen nhƣng không làm nhuộm màu
môi trƣờng khuẩn lạc. Đặc điểm của Az. vinelandii và Az. agilis có khuẩn lạc
trong, nhầy, sinh sắc tố huỳnh quang màu vàng – lục hoặc lam – lục, sắc tố
khuếch tán vào môi trƣờng [9][10], [12].
Khi còn non tế bào của Azotobacter có khả năng di động, hình que đầu
tròn, đứng riêng rẽ hay xếp thành từng đôi, đồng chất, tế bào chất nhuộm màu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
đồng đều. Chiều dài của tế bào thay đổi từ 2 – 3 μm đến 4 - 6μm. Các tế bào
của Az. agilis có kích thƣớc lớn nhất (5-6μm). Dần các tế bào hình que
chuyển thành hình cầu hay hình bầu dục lớn với đƣờng kính lên tới 4μm, hình
dạng không cố định. Khi có tiêm mao rụng đi và tế bào trở lên bất động, bọc
bao nhầy, tế bào chất xuất hiện cấu tạo dạng hạt, các tế bào tròn có thể phủ
lớp vỏ dày và chuyển thành kén. Hình dạng tế bào Azotobacter và chu kì biến
đổi của chúng phụ thuộc vào tuổi của giống và điều kiện phát triển.[25]
Hình1.1. Azotobacter
Tất cả các loài Azotobacter đều sống dị dƣỡng. Để dùng nguồn cacbon,
chúng sử dụng nhiều nguồn hữu cơ khác nhau – monosaccarit, disaccarit, một
số polysaccarit nhiều rƣợu, các axit hữu cơ trong đó bao gồm cả các hợp chất
thơm. Nguồn nitơ đối với Azotobacter không chỉ là nitơ phân tử mà còn là
muối ammon, nitrat, nitrit, aminoaxit. Tùy thuộc vào các hợp chất chứa nitơ
+
, axit amin hoặc protein.
Sự phát triển và cố định nitơ của Azotobacter trong đất còn chịu ảnh
hƣởng mật thiết của khu hệ các vi sinh vật đất. Bên cạnh các nhóm vi sinh vật
có ảnh hƣởng tốt đối với sự phát triển của Azotobacter (tổng hợp các chất
hoạt động sinh học, phân giải các thức ăn hữu cơ bền vững) còn có nhiều
nhóm vi sinh vật có khả năng làm ức chế sự phát triển của Azotobacter (cạnh
tranh thức ăn, sản sinh chất kháng sinh,…).
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ giữa
Azotobacter và cây trồng. Azotobacter thƣờng xuyên có mặt trong vùng rễ cây
trồng với số lƣợng cao hơn nhiều so với ngoài vùng rễ. Số lƣợng của chúng
còn biến đổi phụ thuộc vào từng loại cây, từng giai đoạn phát triển của cây và
nhiều yếu tố sinh thái, địa lý khác. Ngƣời ta đã chứng minh đƣợc rằng
Azotobacter không phát triển trên bề mặt rễ mà phát triển trong đất xung
quanh rễ.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
6
Azotobacter có tác dụng làm tăng nguồn thức ăn nitơ cho cây trồng.
Trung bình khi tiêu thụ hết 1g các chất sinh năng lƣợng, Azotobacter có khả
năng đồng hoá đƣợc khoảng 10-15 mg nitơ phân tử.
Phân bón vi sinh vật Azotobacter có thể đƣợc coi là phân bón vi sinh
vật đƣợc ứng dụng sớm nhất. Sau đó trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa
học đã khám phá ra Azotobacter không chỉ có khả năng cố định nitơ mà còn
có khả năng sinh tổng hợp các hoạt chất kích thích sinh trƣởng thực vật, một
số vitamin và hoạt chất ức chế sự sinh trƣởng của một số vi nấm gây bệnh
vùng rễ ở một số cây trồng.
Sản phẩm phân bón vi sinh vật cố định nitơ tự do từ chủng vi khuẩn
Azotobacter đã đƣợc sản xuất tại Mỹ, Úc Nga và đƣợc sử dụng ở nhiều nơi
trên thế giới và đã mang lại hiệu quả kinh tế xã hội tƣơng đối cao. Ở Việt
cấp cho cây và ngƣợc lại cây trồng cung cấp các dƣỡng chất cần thiết để vi
khuẩn nốt sần tồn tại và sinh trƣởng.[5]
Hình dáng, kích thƣớc, màu sắc và vị trí của nốt sần trên cây rất khác
nhau, phản ánh tình trạng liên kết giữa vi khuẩn nốt sần và hiệu quả cố định
nitơ. Căn cứ vào hiệu quả cố định nitơ, hai loại nốt sần đƣợc phân biệt, đó là
nốt sần hữu hiệu và nốt sần vô hiệu.
Dựa vào số lƣợng, kích thƣớc và màu sắc thịt nốt sần, có thể đánh giá
đƣợc hiệu quả của quá trình cố định nitơ của cây lạc và chủng vi khuẩn tƣơng
ứng. Rễ cây có mật độ nốt sần hữu hiệu cao, chứng tỏ việc sử dụng phân vi
khuẩn nốt sần đã mang lại hiệu quả tốt. Số lƣợng và khối lƣợng nốt sần đƣợc
kiểm tra tốt nhất vào thời kì cây ra hoa rộ. Để đánh giá tác dụng của biện pháp
nhiễm vi khuẩn nốt sần và khả năng nhiễm của vi khuẩn đƣợc bón, cần kiểm
tra nốt sần ở thời kỳ cây 4-5 tuần tuổi.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
8
Vi khuẩn Rhizobium là loại trực khuẩn gram âm không sinh nha bào,
hiếu khí. Kích thƣớc tế bào dao động 0,5-1,2.2,0-3,5, khuẩn lạc thuộc nhóm
S, nhày lồi, màu trắng trong hoặc trắng đục, kích thƣớc khuẩn lạc dao động
2,3-4,5mm sau một tuần nuôi trên môi trƣờng thạch. Vi khuẩn Rhizobium có
tiên mao, có khả năng di động đƣợc, chúng thích hợp ở pH từ 6,5-7,5, nhiệt
độ 25-28
o
C, độ ẩm 50-70%. Khi già có một số loại tạo đƣợc nang xác, khuẩn
lạc sẽ chuyển sang màu nâu nhạt. Vi khuẩn Rhizobium gồm nhiều loài khác
nhau: Rh.leguminosarum, Rh.phaseoli, Rh.trifolii, Rh.japonicum, Rh.meliloti,
Rh.cicer, Rh.simplese, Rh.vigna, Rh.robinii, Rh.lotus,….
1.2. Quá trình cố định nitơ sinh học
Nitơ là nguyên tố trơ khó liên kết hóa học với các nguyên tố khác, nếu
không có chất xúc tác và các điều kiện đặc biệt khác, nó không ngừng bị
2
+ AH
2
+ ATP NH
3
+ A + ADP + P
Năm 1992 các nhà khoa học đã hoàn thiện đƣợc cơ chế của quá trình cố định
nitơ phân tử nhƣ sau:
N = N NH=NH H
2
N-NH
2
NH
3
N
2
+ 8H
+
+ 8e
-
+ 16 Mg.ATP + 160 2NH
3
+ H
2
+ 16Mg.ADP +
16P
1.3. Đại cƣơng về phân bón vi sinh
1.3.1. Giới thiệu chung về phân bón vi sinh vật
Phân bón vi sinh là chế phẩm, có chứa một hoặc nhiều chủng vi sinh vật
sống, có ích cho cây trồng đã đƣợc tuyển chọn, có sức lao động cao. Sử dụng
đƣợc tuyển chọn, đánh giá có hoạt tính sinh học, có khả năng sinh trƣởng,
phát triển và thích nghi với điều kiện sống mà ở đó chúng đƣợc sử dụng.
- Mật độ vi sinh vật trong phân bón vi sinh vật là số lƣợng vi sinh vật
trong một đơn vị khối lƣợng hay thể tích. Ở Việt Nam mật độ vi sinh vật có
ích (vi sinh vật sống đã đƣợc tuyển chọn) chứa trong phân bón vi sinh vật
phải đảm bảo từ ≥10
8
CFU/gam (g) hoặc mililit (ml) phân bón vi sinh vật trên
nền cơ chất đã khử trùng hoặc 10
5
-10
6
CFU/g hoặc ml phân bón vi sinh vật
trên nền cơ chất không vô trùng.
- Vi sinh vật chứa trong phân bón vi sinh vật phải là các vi sinh vật có
khả năng tạo nên chất dinh dƣỡng mà cây trồng có thể sử dụng đƣợc từ không
khí, nƣớc, đất cũng nhƣ các nguồn khác nhƣ phân hữu cơ, quặng,…hoặc tạo
nên hoạt chất sinh học mà thông qua tác dụng của các chất này, năng suất và
Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
chất lƣợng nông sản đƣợc gia tăng hoặc chỉ góp phần tăng năng suất hay cải
thiện chất lƣợng nông sản.
- Các vi sinh vật chứa trong phân bón vi sinh vật phải là những vi sinh
vật không có phản ứng phụ gây ảnh hƣởng xấu đến sức khoẻ ngƣời, động,
thực vật, môi trƣờng sinh thái và chất lƣợng nông sản.
Bảng 1.1. Danh mục một số giống vi sinh vật đang được sử dụng
trong sản xuất phân bón vi sinh vật ở Việt Nam [24][29]
TT
Giống VSV
7
Azospirium
Cố định nitơ hội sinh
2
8
Azotobacter
Cố định nitơ tự do
4
9
Azotomonas
Cố định nitơ tự do
2
10
Bacillus
Cố định nitơ tự do
2
11
Bacillus
Phân giải hợp chất photpho khó
tan
4
Số hóa bởi trung tâm học liệu
12
12
Clostridium
Cố định nitơ tự do
3
13
Chlorobium
tan
2
21
Rhizobium/
Bradyrhizobium
Cố định nitơ cộng sinh
300
22
Rhodospirillum
Cố định nitơ
4
23
VaM
Cải tạo đất, kích thích sinh
trƣởng thực vật
6
24
Pisolithus
Cố định nitơ
6
25
Serratia
Phân giải hợp chất photpho khó
tan
2
1.3.2. Lịch sử phát triển của phân bón vi sinh
Phân bón vi sinh do Noble Hiltner sản xuất đầu tiên tại Đức năm 1896
và đƣợc đặt tên là Nitragin. Sau đó phát triển sản xuất tại một số nƣớc khác
nhƣ ở Mỹ (1896), Canada (1905), Nga (1907), Anh (1910) và Thụy Điển
Số hóa bởi trung tâm học liệu
14
phân tử đƣợc chuyển hoá thành đạm vô cơ, sau chuyển hoá thành đạm thực
vật hoặc động vật thông qua quá trình đồng hoá. Một phần đạm thực vật dƣới
dạng tàn dƣ thực vật và một phần khác đƣợc ngƣời, động vật thải ra dƣới
dạng phân bã đƣợc trả lại cho đất. Đạm trong đất, một phần đƣợc cây trồng sử
dụng, số còn lại bị mất do thẩm lậu, rửa trôi hoặc bay hơi do hoạt động của
các vi sinh vật đất có khả năng phân giải đạm. Quá trình đất mất đạm chịu ảnh
hƣởng rất lớn bởi các chế độ canh tác.
Trong tự nhiên, nitơ phân tử tồn tại dƣới dạng khí chiếm tới 78,16% thể
tích không khí, song hợp chất nitơ này lại không sử dụng đƣợc làm nguồn
dinh dƣỡng cho vi sinh vật. Để cây trồng có thể sử dụng nguồn tài nguyên này
làm chất dinh dƣỡng, nitơ không khí phải đƣợc chuyển hoá thông qua quá
trình cố định nitơ (cố định đạm), trong đó nitơ phân tử đƣợc chuyển hoá thành
amon. Quá trình cố định nitơ có thể xảy ra nhờ các tác nhân vật lý, hoá học
hoặc sinh học, trong đó ngƣời ta quan tâm nhiều đến quá trình cố định đạm
sinh học vì hiệu quả và tính an toàn của nó đối với môi trƣờng.
Quá trình cố định đạm sinh học là quá trình đồng hoá nitơ của không
khí dƣới tác dụng của một số nhóm vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp
enzym Nitrogenaza hay nói cách khác quá trình cố định nitơ phân tử là quá
trình khử N
2
thành NH
3
dƣới xúc tác của enzym nitrogenaza, khi có mặt của
ATP, trong đó nitrogenaza đƣợc cấu tạo bởi hai thành phần: Fe-protein có
trọng lƣợng phân tử lƣợng khoảng 6.10
4
và Mo-Fe-protein có trọng lƣợng
chất lân hữu cơ tạo nguồn lân dễ tiêu cung cấp cho đất và cây trồng.
Cơ chế của quá trình phân giải photphat đến nay vẫn chƣa đƣợc hiểu
đầy đủ và còn nhiều tranh cãi. Sản sinh axit hữu cơ có thể là nguyên nhân chủ
yếu, song sinh tổng hợp CO
2
, H
2
S, axit hoặc kiềm cũng là các yếu tố đƣợc
nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến. Trƣớc đây ngƣời ta phát hiện thấy nhiều vi
sinh vật trong quá trình phát triển đã làm giảm pH của quá trình nuôi cấy, sau
đó các nhà khoa học đã xác định đƣợc trong dịch nuôi cấy vi sinh vật có chứa
các axit hữu cơ nhƣ axit axetic, lactic, formic, glucolic, oxalic, succinic,
malic, citric,…Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô và Ấn Độ cho
Số hóa bởi trung tâm học liệu
16
thấy, lƣợng lân hữu hiệu trong đất tăng lên nếu đƣợc bón thêm các chất hữu
cơ và humat. Điều đó cho thấy axit hữu cơ sản sinh do vi sinh vật từ các chất
hữu cơ đã giúp cho việc phân giải photphat khó tan. Nghiên cứu đất ngƣời ta
cũng phát hiện các axit hữu cơ tƣơng tự đƣợc sản sinh từ vi sinh vật. Axit làm
giảm pH và qua đó trợ giúp cho việc tạo thành hợp chất bền vững với các
cation Ca
++
, Mg
+
, Fe
+++
, AL
+++
. Hợp chất này bền vững hơn các hợp chất chứa
Số hóa bởi trung tâm học liệu
17
Phân vi sinh vật phân giải lân đƣợc nghiên cứu và đƣa vào ứng dụng ở
Việt Nam ngày từ những năm 90 thế kỷ XX, trong đó vi sinh vật phân giải lân
sau khi nhân sinh khối đƣợc tẩm nhiễm vào chất mang, tạo chế phẩm vi sinh
vật phân giải lân hoặc phối trộn với cơ chất hữu cơ tạo thành phần phân lân
hữu cơ vi sinh vật. Hiệu lực của vi sinh vật trong việc cung cấp dinh dƣỡng
lân cho cà phê đƣợc Nguyễn Khả Hoà (1994) trên cơ sở sử dụng đồng vị đánh
dấu 32P, xác định tƣơng đƣơng bằng 34,3 kg P
2
O
5
/ha. Hiệu lực của phân lân
vi sinh đã đƣợc khảo nghiệm, đánh giá ở nhiều địa phƣơng với các đối tƣợng
cây trồng khác nhau cho thấy, phân vi sinh vật phân giải photphat khó tan có
thể nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân khoảng 20-30% so với đối chứng,
đồng thời có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng 5-15% tuỳ loại đất và cây
trồng. Nhiều thực nghiệm trong khuôn khổ đề tài KHCN 02.06 ở nhiều địa
phƣơng trong cả nƣớc đã xác định việc sử dụng vi sinh vật phân giải lân thay
thế 30-50% lƣợng phân lân cần bón bằng quặng photphorit với hàm lƣợng lân
tổng số tƣơng đƣơng không làm thay đổi năng suất cây trồng và chất lƣợng
nông sản. Sử dụng vi sinh vật phân giải lân có thể tăng 15% năng suất cây
trồng hoặc tiết kiệm 1/3 lƣợng lân cần bón [26][29].
Có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ có chứa lân photpho, phân
giải chất lân khó tan thành lân dễ tan để cây trồng có thể hấp thu đƣợc bình
thƣờng. Phân bón vi sinh vật phân giải lân có tác dụng cung cấp thêm lân (P)
cho cây trồng, kích thích hoạt động của các vi sinh vật khác trong đất, cung
cấp các chất điều hòa sinh trƣởng và nhất là cung cấp các chất kháng sinh
phòng chống sâu bệnh hại cây trồng.
- Phân bón vi sinh phân giải kali
sử dụng đƣợc ghi trên bao bì.
Chế phẩm vi sinh vật là một vật liệu sống, vì vậy nếu cất giữ trong điều
kiện nhiệt độ cao hơn 30
o
C hoặc ở nơi có ánh nắng trực tiếp chiếu vào, thì
Số hóa bởi trung tâm học liệu
19
một số vi sinh vật bị chết. Do đó hiệu quả của chế phẩm bị giảm sút. Cần cất
giữ phân vi sinh vật ở nơi mát và không bị ánh nắng chiếu vào.
Phân vi sinh vật thƣờng chỉ phát huy tác dụng trong những điều kiện
đất đai và khí hậu thích hợp. Thƣờng chúng phát huy tốt ở các chân đất cao,
đối với các loại cây trồng cạn.
Phân bón là các chất hữu cơ hoặc vô cơ chứa các nguyên tố dinh dƣỡng
cần thiết cho cây trồng đƣợc bón vào đất hay hòa nƣớc phun, xử lý hạt giống,
rễ và cây con. Sử dụng phân bón phối hợp cân đối có thể hiểu là sự phối hợp
hài hoà giữa các thành tố trong hệ thống nông nghiệp với kĩ thuật bón phân để
cung cấp cân đối chất dinh dƣỡng cho cây trồng nhằm:
+ Đạt năng suất cây trồng mong muốn
+ Đạt chất lƣợng sản phẩm mong muốn
+ Tăng thu nhập cho ngƣời sản xuất
+ Hồi phục, làm tăng độ phì nhiêu của đất và bảo vệ môi trƣờng sống.
Bón phân cho cây trồng nhằm mang lại hiệu quả lớn, nhƣng cũng
chiếm phần khá cao trong chi phí của sản xuất nông nghiệp. Vậy bón phân
hợp lý vừa tiết kiệm đƣợc chi phí vừa mang lại hiệu quả của việc bón phân.
Bón phân hợp lý tức là sử dụng lƣợng phân bón thích hợp bón cho cây trồng,
đảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất. Trong quá
trình bón phân, không đƣợc gây hậu quả xấu lên nông sản và môi trƣờng sinh
thái [12][15].
-Bón phân đúng loại: Hiện nay, phân bón có nhiều loại, mỗi loại lại có
chất sinh học, làm cho số lƣợng các loài sinh vật trong đất giảm, các hoạt
động trong đất suy yếu và có thể dẫn đến sự thoái hoá của đất.
Trong nông nghiệp, có những trƣờng hợp cây trồng sinh trƣởng và phát
triển tốt tạo nên nguồn thức ăn dồi dào cho sâu bệnh tích lũy và gây hại nặng.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
21
Càng bón nhiều phân, cây sinh trƣởng càng mạnh thì sâu bệnh lại phát sinh
nhiều hơn, gây hại nặng hơn. Trong những trƣờng hợp đó thì bón phân cần
nhằm đạt mục đích trên là ngăn ngừa sự tích luỹ và gây hại của sâu bệnh.
Qua các vấn đề nêu trên, chúng ta thấy đối tƣợng tác động của phân
bón không chỉ có cây trồng, tập đoàn vi sinh vật đất, mà còn có cả toàn bộ các
thành tố cấu thành nên hệ sinh thái nông nghiệp. Vậy khi bón phân cần căn cứ
vào nhiểu yếu tố, để đạt đƣợc hiệu quả cao và không gây cản trở cho các hoạt
động về sau.
- Bón phân đúng thời vụ: Thời tiết ảnh hƣởng khá lớn đến hiệu quả của
việc bón phân. Nó thƣờng xảy ra trong hai trƣờng hợp:
+ Bón phân vào ngày có mƣa lớn, nƣớc mƣa sẽ rửa trôi phân bón gây
lãng phí.
+ Bón phân vào ngày nắng gắt, thì nhiệt độ của không khí cùng với sự
tác động của các hạt phân bón có thể làm cháy lá, hỏng hoa, quả…
Cây trồng có nhiều loại, nhiều giống. Có loại một năm trồng 7 – 8 vụ,
có loại một năm chỉ trồng 1 – 2,… Nhu cầu dinh dƣỡng ở các vụ khác nhau,
do vậy cần phải lựa chọn đúng loại phân, dạng phân, thời vụ để bón sao cho
hợp lý và hiệu quả.
-Bón phân đúng cách: Có nhiều phƣơng pháp bón phân: bón vào hố,
bón vảo rãnh, bón rải trên mặt đất…
Có nhiều dạng bón phân: rắc bột, tủ vào gốc, pha với nƣớc để tƣới…
Có nhiều thời kỳ bón phân: bón lót, bón thúc đẻ nhánh, bón thúc ra hoa,
bón thúc đậu quả…
3
: 5
- Agar: 20
- Nƣớc cất: 1
2.4 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm
- Tủ sấy (ClassII Biohazard Safety Cabinet – Esco)
- Máy lắc (Shel lab)
- Tủ ấm (Binder)
- Nồi khử trùng (SA – 300VF)
- Máy đo quang phổ khả kiến.
- Cân phân tích.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
23
- Máy đo PH.
- Bếp đun.
- Các dụng cụ thí nghiệm khác nhƣ: ống nghiệm, đĩa pepti, ống đong, ống
pancol, phễu,…
2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.5.1 Địa điểm nghiên cứu
Phòng vi sinh vật – Viện Công nghệ môi trƣờng – Viện Hàn Lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam
2.5.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 07/2012 đến tháng 07/2013
2.6 Phƣơng pháp phân tích
2.6.1 Phương pháp xác định mật độ vi sinh vật
- Phƣơng pháp pha loãng: lấy 1ml dịch mẫu cho vào cho vào ống
nghiệm đựng 9ml dịch nƣớc pha loãng đƣợc nồng độ 10
-1
lắc đều ống