nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát thị trường tài chính việt nam của uỷ ban giám sát tài chính quốc gia - Pdf 24

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường tài
chính Việt Nam đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, hệ thống tài chính đã có sự
hiện diện của hầu hết các định chế tài chính trung gian như: các tổ chức tín dụng
(TCTD) các công ty bảo hiểm, các công ty chứng khoán, các loại hình công ty quản lý
quỹ, các loại quỹ đầu tư,…Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp của nền kinh tế nên thị
trường tài chính Việt Nam còn bộc lộ nhiều điểm tồn tại và hạn chế. Bên cạnh đó
việc giám sát của các cơ quan quản lý đối với thị trường tài chính còn nhiều hạn chế,
năng lực kiểm tra, giám sát còn nhiều yếu. Quá trình giám sát từ xa còn nhiều bất
cập trong việc tổng hợp, thu thập, xử lý thông tin,…
Trên thực tế, việc thanh tra, giám sát thị trường tài chính sẽ rất khó khăn vì
trong nhiều năm qua việc giám sát thị trường tài chính của Việt Nam được thực
hiện theo mô hình phân tán, mỗi lĩnh vực do một cơ quan thực hiện thanh tra và
giám sát khác nhau:
• Lĩnh vực ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chịu trách
nhiệm quản lý, thanh tra, và giám sát;
• Lĩnh vực bảo hiểm do Bộ tài chính (Cục quản lý, giám sát bảo hiểm) chịu trách
nhiệm quản lý, thanh tra, và giám sát;
• Lĩnh vực chứng khoán do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước hoặc Bộ tài
chính chịu trách nhiệm quản lý, thanh lý, và giám sát;
Bên cạnh chức năng giám sát thì các cơ quan này vừa thực hiện chức năng cấp
phép, ban hành cơ chế chính sách, vừa thực hiện và kiêm luôn vai trò thanh tra,
quản lý nhà nước đối với các định chế tài chính tham gia vào thị trường tài chính.
Mô hình quản lý và giám sát như vậy cho thấy sự phân tán chức năng, sự chồng
chéo nhiệm vụ giữa các cơ quan cùng giám sát, kiểm tra trên thị trường tài chính.
Có thể nói, hoạt động giám sát thị trường tài chính của Việt Nam còn nhiều hạn chế
cần khắc phục để giúp Thủ tướng Chính phủ có thể đưa ra những quyết sách đúng
1
2

2
3
giám sát thị trường tài chính Việt Nam, đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả giám sát thị trường tài chính.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
• Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giám sát thị trường tài chính Việt Nam
thông qua chức năng của UBGSTC Quốc gia là đi sâu đánh giá vi mô thị trường
tài chính (lĩnh vực: Ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán), kết hợp đánh giá vĩ
mô thị trường tài chính để đưa ra bức tranh toàn cảnh về thị trường tài chính.
• Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn nghiên cứu hoạt động giám sát thị trường tài
chính Việt Nam trong giai đoạn từ cuối năm 2007-2010. Trong đó chủ yếu
nghiên cứu hoạt động giám sát thị trường tài chính thông qua chức năng giám
sát của UBGSTC Quốc gia.
Do thời lượng của một luận văn thạc sỹ kinh tế không cho phép nên đề tài
nghiên cứu này không đi sâu vào nghiên cứu cơ sở hạ tầng pháp lý. Hy vọng rằng
sau khi đề tài nghiên cứu này được bảo vệ thành công tôi sẽ tiếp tục phát triển đề tài
ở bậc cao hơn và mở rộng sang nghiên cứu một cách toàn diện hơn về thị trường tài
chính trong đó có các khía cạnh chưa nghiên cứu trên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp giám sát thị trường tài chính thông qua việc tổng hợp, phân tích
và đánh giá thực trạng thị trường tài chính Việt nam cả vĩ mô và vi mô (theo mô
hình từ trên xuống và từ dưới lên) dựa trên quan điểm duy vật biện chứng
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo,…nội dung chính của Luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động giám sát thị trường tài chính
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát thị trường tài chính Việt Nam của
Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát thị trường tài
chính tại Việt Nam của Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia.

quy định không.
• Khái niệm giám sát Thị trường tài chính
1 Giáo trình Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng
2 Giáo trình Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng
3 Từ điển Tiếng Việt
4
5
Giám sát thị trường tài chính là việc giám sát của Chính phủ đối với các định
chế tài chính thông qua các cơ quan giám sát. Mục tiêu là để duy trì các quy chế hiện
hành và đạt được mục tiêu cuối cùng là duy trì sự ổn định của thị trường tài chính.
1.1.2. Vai trò của giám sát thị trường tài chính
• Duy trì sự an toàn và ổn định của thị trường tài chính
Sự ổn định của hệ thống tài chính luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của
Chính phủ các nước nhất là trong thời kỳ khủng hoảng. Sự sụp đổ của hàng loạt các
định chế tài chính tên tuổi trên thế giới như Bear Stearn, Lehman Brother,…càng
đặt ra những thách thức lớn đối với vấn đề bảo đảm tăng trưởng bền vững của nền
kinh tế toàn cầu. Lịch sử phát triển kinh tế của các nước đã chứng minh, khủng
hoảng tài chính có thể kéo theo việc nới lỏng chính sách tiền tệ, bong bong tín dụng,
bong bong bất động sản và lạm phát giá tài sản,…Bất cứ sự bất cẩn nào cũng có thể
khiến toàn bộ nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn.
Trước bối cảnh đó việc tăng cường quản lý rủi ro và đề ra các biện pháp khắc
phục rủi ro trong hoạt động của hệ thống tài chính là rất cần thiết, nhằm thích ứng
với những biến động của môi trường mới. Và vai trò của các cơ quan giám sát tài
chính, với vị trí là cốt lõi của quá trình này, trở nên rất quan trọng
• Dự báo và ngăn ngừa sự khủng hoảng của Thị trường tài chính
Một nền kinh tế thị trường rất coi trọng tính chủ động , độc lập của các tổ chức
kinh tế, coi trọng vai trò kiểm soát, kiểm tra bên trong của các tổ chức kinh tế
nhưng cũng nhấn mạnh vai trò của cảnh báo, kiểm soát và giám sát từ phía Nhà
nước. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong thiết lập hệ thống cảnh báo sớm,
giám sát từ xa cho nền kinh tế.

Quỹ hưu trí. Qua nghiên cứu khảo sát của các tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ Quốc
tế (International Monetary Fund - IMF), Ngân hàng thế giới (World Bank – WB),
6
7
Ngân hàng thanh toán quốc tế (Bank for International Settlement - BIS),… các
chuyên gia quốc tế đã chia mô hình giám sát thị trường tài chính trên thế giới thành
03 loại chính như sau:
Hình 1. . Các mô hình giám sát Thị trường tài chính
Trong lịch sử quá trình phát triển các mô hình giám sát thị trường tài chính
của các nước trên thế giới không nước nào bỏ qua mô hình truyền thống phát huy
vai trò tự giám sát của từng thị trường bộ phận, của từng ngành, hay trong từng
nhóm đối tượng thuộc trách nhiệm của một số cơ quan thanh tra, giám sát độc lập.
Tuy nhiên, do quá trình phát triển quá nhanh của cấu trúc và quy mô của thị trường
tài chính theo hướng ngày càng phi ranh giới hoá các hoạt động của các định chế
tài chính với sự xuất hiện của các tập đoàn tài chính đa năng, đa quốc gia,…đã phá
7
8
vỡ các nguyên lý truyền thống trong thị trường tài chính. Thực tiễn đòi hỏi phải có
một bộ máy quyền lực để chỉ huy chung việc thanh tra, giám sát đồng bộ thị trường
tài chính. Nhu cầu này đã kéo theo sự đổi mới liên tục các mô hình thanh tra – giám
sát an toàn thị trường tài chính tại mỗi quốc gia để thích ứng với đối tượng được
thanh tra, giám sát.
Chính vì vậy một xu hướng chung của thế giới đã và đang diễn ra theo Hình
1.2 dưới đây:
Hình 1. .Xu thế của việc phát triển mô hình giám sát tài chính quốc gia
Mô hình thanh tra giám sát phân tán
Mô hình thanh tra giám sát hợp nhất toàn diện
Mô hình thanh tra giám sát hợp nhất một phần
Kết quả khảo sát cho thấy trong vòng 28 năm từ năm 1980 đến năm 2008 số
các cơ quan thanh tra giám sát hợp nhất toàn diện tăng từ 3 nước lên tới 45 nước,

đoạn chuyển giao bị kéo dài
Cho phép theo dõi tốt hơn những vấn đề tác
động đến toàn bộ hệ thống tài chính và có
phản ứng nhanh trước sự thay đổi/vấn đề
phát sinh. Cho phép triển khai thực thi
phương pháp tiếp cận hợp nhất về quản lý,
giám sát xuyên suốt toàn hệ thống tài chính và
hạn chế sự lộn xộn, bất nhất trong hoạt động;
tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ
quan giám sát hợp nhất, vì mục tiêu chức
năng, phạm vi, đối tượng của một cơ quan sẽ
trở nên rõ ràng.
Có thể làm giảm hiệu lực tổng
quát của việc giám sát do không
xem xét đến những khía cạnh
khác nhau giữa ngân hàng,
chứng khoán và bảo hiểm.
Cho phép hình thành và thực hiện một chính Có nhiều phương án lựa chọn
9
10
Ưu điểm Nhược điểm
sách thống nhất đối với việc quản lý và giám
sát toàn bộ hệ thống tài chính, qua đó làm
giảm sự phân biệt về mặt pháp luật giữa các
định chế tài chính
thích hợp khác để tăng cường cơ
chế hợp tác và trao đổi thông tin
giữa các cơ quan giám sát riêng
lẻ
Nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của cán bộ

Hình 1. . Các nội dung cơ bản của giám sát Thị trường tài
chính
10
11
1.3.1. Phương pháp Giám sát an toàn vi mô thị trường tài chính
1.3.1.1. Khái niệm phương pháp giám sát an toàn vi mô thị trường tài chính
Phương pháp giám sát an toàn vi mô được hiểu là việc giám sát tài chính và
vận dụng các quy chế để duy trì sự ổn định tài chính theo quan điểm truyền thống là
để bảo vệ người tiêu dùng thông qua việc tối thiểu hoá tình trạng mất khả năng
thanh toán của các định chế tài chính.
11
12
Phương pháp giám sát an toàn vi mô thị trường tài chính có các đặc điểm như
sau:
Mục đích : Hạn chế sự sụp đổ của từng định chế tài chính mà không
tính đến tác động của những sự đổ vỡ này đến toàn bộ
nền kinh tế
Mục tiêu trước mắt : Hạn chế bất ổn của từng định chế tài chính
Mục tiêu cuối cùng : Bảo vệ người tiêu dùng (nhà đầu tư, người gửi tiền)
Đối tượng : Giám sát từng định chế tài chính
Đặc tính rủi ro : Ngoại sinh: Do việc xem xét riêng rẽ, độc lập từng định
chế tài chính nên nhìn chung từng định chế tài chính hầu
như không có ảnh hưởng đến giá cả thị trường cũng
không ảnh hưởng đáng kể đến giá thị trường cũng như
toàn bộ nền kinh tế.
Mối tương quan và
các rủi ro giữa các
định chế tài chính
: Không áp dụng
: Để duy trì một hệ thống tài chính lành mạnh, điều kiện

tài chính bao gồm:
• Các chỉ tiêu hệ thống về quy mô, bề rộng và kết cấu của hệ thống tài chính
- Quy mô của toàn hệ thống được xác định bởi giá trị các tài sản tài chính, kể cả
xác định tài sản tài chính theo số tuyệt đối bằng tiền và theo tỷ lệ đối với GDP.
Một vài chỉ tiêu khác về quy mô và độ sâu của thị trường tài chính cũng cần
được xem xét bao gồm:
o Tỷ lệ tiền tệ theo nghĩa rộng đối với GDP = M2/GDP
o Tín dụng khu vực cá nhân đối với GDP = DCP/GDP
o Tỷ lệ tiền gửi ngân hàng đối với GDP = deposits/GDP.
Lưu ý: các chỉ số này phụ thuộc vào hệ thống tài chính và sự phát triển kinh tế
của từng quốc gia, vì vậy nên lựa chọn các nước có mô hình tài chính tương đồng để
xem xét, và so sánh với nhau để đưa ra kết quả đánh giá.
- Thống kê số lượng các trung gian tài chính, và các chi nhánh thành phần của
các trung gian tài chính để có cái nhìn chân thực về cấu trúc tài chính. Cần tập
trung vào việc xem xét tỷ trọng của từng lĩnh vực (ngân hàng, phi ngân hàng,
các tổ chức tài chính,…) trong tổng tài sản tài chính bằng cách sử dụng tài sản
của các tổ chức tài chính trong từng lĩnh vực khác nhau và giá trị của các công
cụ tài chính trong từng thị trường khác nhau để làm trọng số. Cách tính dựa
vào thị phần này cho phép đánh giá được cấu trúc hiệu của của thị trường tài
13
14
chính. Bên cạnh đó việc xuất hiện của các tập đoàn tài chính đa chức năng –
những định chế tài chính lớn và phức hợp (LCFIs – Large and Complex
Financial Institutions) xuyên quốc gia đã đặt ra yêu cầu về việc tính toán đến
phạm vi và quy mô của những tập đoàn này để tính toán những rủi ro của
riêng quốc gia và những rủi ro xuyên quốc gia.
- Tác dụng của việc đánh giá:
o Thu thập được những thông tin về sự thay đổi về số lượng, loại hình của các
trung gian tài chính, cũng như sự tăng trưởng của tài sản tài chính trong từng
lĩnh vực qua thời gian cả trên danh nghĩa và thực tế;

Tài sản có của Ngân hàng/tổng tài sản tài chính (%)
Tài sản có của ngân hàng/GDP
Thị trường chứng khoán Số lượng chứng khoán niêm yết (trái phiếu và cổ phiếu)
Tỷ lệ nắm giữ cổ phần của cá nhân, doanh nghiệp, ngân hàng và các trung
gian tài chính phi ngân hàng
Số lượng và giá trị chứng khoán mới phát hành (trái phiếu và cổ phiếu)
Giá trị vốn hoá thị trường/GDP (%)
Giá trị giao dịch/giá trị vốn hoá thị trường (%)
Quy mô thị trường các sản phẩm phái sinh
Bảo hiểm Số lượng các công ty bảo hiểm
Tổng mức phí bảo hiểm/GDP (%)
Tổng mức phí bảo hiểm nhân thọ/GDP (%)
Tổng mức phí bảo hiểm phi nhân thọ/GDP (%)
• Mức độ cạnh tranh, mật độ tập trung và tính hiệu quả
- Mức độ cạnh tranh
o Mức độ cạnh tranh trong hệ thống tài chính được hiểu là phạm vi và quy mô
mà các thị trường tài chính có thể cạnh tranh giúp cho người tiêu dùng có thể
lựa chọn nhiều loại dịch vụ từ nhiều nhà cung cấp khác nhau.
o Các yếu tố phản ảnh mức độ cạnh tranh: Số tổ chức tài chính, thị phần của các
tổ chức, các điều kiện gia nhập thị trường, giá cả của các dịch vụ, mức độ đa
dạng hoá của hệ thống tổ chức tài chính, …
- Mật độ tập trung:
o Mật độ tập trung là mức độ mà các lĩnh vực tài chính được kiểm soát bởi các
tổ chức lớn nhất thị trường (theo thị phần).
o Chỉ số đo lường về mức độ tập trung là chỉ số Herfindahl (Herfindahl Index) –
chỉ số để đo mức độ người bán trên thị trường:
Herfindahl Index (HI) =
Tổng bình phương thị phần của tất cả các định chế tài chính
trong hệ thống tài chính
Giá trị cao hơn chỉ số này chỉ ra mật độ tập trung lớn hơn so với mức độ tập

cho các ngành kinh tế;…
- Thanh toán: Đưa ra các phương tiện thanh toán an toàn cho nền kinh tế, luân
chuyển vốn dễ dàng. Cần đánh giá thêm những rủi ro của việc thanh toán để
đánh giá hiệu quả của dịch vụ này.
- Phòng ngừa rủi ro: Thông qua các dịch vụ bảo hiểm, các thị trường phái sinh.
Để đo lường hiệu quả thông qua tỷ lệ tổng mức phí bảo hiểm/GDP.
- Thanh khoản: Được phản ánh thông qua việc chuyển đổi kỳ hạn và sự phân
phối trên thị trường thứ cấp, tạo thuận lợi cho việc đầu tư vào các dự án sinh
lời cao.
b. Giám sát các chỉ tiêu lành mạnh tài chính cho từng khu vực thị trường tài chính
16
17
Các chỉ tiêu lành mạnh tài chính (FSIs – Financial Soundness Indicators) là các
chỉ tiêu phản ánh sự lành mạnh của các định chế tài chính, FSIs đóng vai trò quan
trọng trong việc đánh giá sự ổn định tài chính. FSIs bao gồm các dữ liệu và các chỉ số
được tổng hợp lại từ việc thực hiện các phép thử độ căng (stress tests) đối với các
định chế tài chính và việc giám sát phân loại kết quả phép thử độ căng cũng như việc
nghiên cứu đánh giá các thành tố của FSIs và dự đoán chiều hướng chúng trong
tương lai.
• Các chỉ tiêu làn mạnh tài chính đối với lĩnh vực ngân hàng
Các chỉ tiêu FSIs đối với lĩnh vực ngân hàng có thể mang lại những thông tin
định lượng về sự ổn định và dễ bị tổn thương của hệ thống ngân hàng, thông
thường là các chỉ tiêu CAMELS:
C Capital adequacy Mức đủ vốn
A Asset quality Chất lượng tài sản
M Management soundness Hiệu quả quản lý
E Earnings and Profitability Lợi nhuận và Khả năng sinh lời
L Liquidity Tính thanh khoản
S Sensitivity to market risk Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường
Hầu hết các chỉ tiêu này được xây dựng bằng cách tính gộp các chỉ tiêu đối với

Chỉ tiêu đo
lường
Ý nghĩa đo lường
hàng.
thuế và doanh lợi vốn đầu tư
chưa được thực hiện
Vốn tự có cấp
1/ tài sản có rủi
ro bình quân
Là loại vốn có chất lượng tốt
nhất như vốn cổ phần, và lợi
nhuận giữ lại, liên quan đến
tài sản có rủi ro
Chất lượng
tài sản
Giám sát chất
lượng các khoản
cho vay và mức độ
tập trung rủi ro
của danh mục tài
sản ngân hàng.
Dự phòng nợ
xấu ròng trên
vốn
Chỉ ra mức độ tiềm tàng của
dự phòng thêm cần phải có
liên quan đến vốn
Nợ xấu trên
tổng dư nợ
Chỉ ra chất lượng tín dụng

và danh mục tài sản
Chênh lệch lãi
suất trên tổng
thu nhập
Chỉ ra tầm quan trọng của thu
nhập ròng từ lãi suất và mức
độ hấp thụ các khoản lỗ
Chi phí không
bao gồm chi trả
lãi trên tổng thu
nhập
Chỉ ra mức độ mà chi phí
ngoài lãi cao làm giảm lợi
nhuận
18
19
Tên Chỉ
tiêu
Ý nghĩa của chỉ
tiêu
Chỉ tiêu đo
lường
Ý nghĩa đo lường
chấp nhận quá
nhiều rủi ro.
Tính thanh
khoản;
Chỉ ra khả năng hệ
thống ngân hàng
chịu đựng các cú

rủi ro thị trường
(những thay đổi về
giá cả thị trường,
đặc biệt về lãi suất
và tỷ giá, đôi khi
về giá chứng
khoán)
Trạng thái giao
dịch ngoại hối
ròng trên vốn
có thể được tính
toán qua việc sử
dụng thông tin
về các trạng
thái giao dịch
ròng, các kỳ
Đánh giá trạng thái của thị
trường ngoại tệ, biến động lãi
suất, chứng khoán,… ảnh
hưởng đến lĩnh vực ngân
hàng như thế nào?
19
20
Tên Chỉ
tiêu
Ý nghĩa của chỉ
tiêu
Chỉ tiêu đo
lường
Ý nghĩa đo lường

R Reinsurrance : Sự tái bảo hiểm
A Adequacy of claims and actuarial : Tính hợp lý của các yêu cầu bảo hiểm
M Management soundness : Hiệu quả quản lý
E Earnings and Profitability : Lợi nhuận và Khả năng sinh lời
L Liquidity : Tính thanh khoản;
S Sensitivity to market risk : Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường
Các chỉ tiêu này tương đương với các chỉ tiêu CAMELS trong lĩnh vực ngân
hàng đã được Das, Davies và Podpiera (2003) đưa ra để khuyến khích sử dụng trong
lĩnh vực bảo hiểm. Cụ thể các chỉ tiêu đo lường của lĩnh vực bảo hiểm như sau:
Bảng 1. . Ý nghĩa các chỉ tiêu CARAMELS trong lĩnh vực bảo hiểm
Loại chỉ tiêu Chỉ tiêu
Phi nhân
thọ
Nhân
thọ
Mức đủ vốn Phí bảo hiểm ròng/vốn X
Vốn/tổng tài sản X
Vốn/các khoản dự trữ kỹ thuật X
Chất lượng tài sản có (Bất động sản+chứng khoán không định giá+ các khoản
nợ)/tổng tài sản
X X
Các khoản phải thu/(tổng phí bảo hiểm+các khoản phải thu
hồi khi thực hiện tái bảo hiểm)
X X
Vốn cổ phần/tổng tài sản X X
Các khoản nợ xấu/tổng dư nợ X
Tái bảo hiểm và kết
quả thống kê bảo
hiểm
Tỷ lệ giữ lại rủi ro (phí bảo hiểm ròng/tổng phí bảo hiểm) X X

Với sự phát triển của thị trường tài chính, bên cạnh các định chế tài chính riêng lẻ
còn có sự tồn tại của các tập đoàn tài chính đa chức năng (financial conglomerates)
hoạt động trên cả lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán nên cần có sự giám sát
tập trung đối với các tập đoàn này trong nội dung giám sát an toàn vi mô thị trường tài
chính.
Việc giám sát các tập đoàn tài chính đa năng được xây dựng trên cơ sở các quy
định của Uỷ ban Basel (giám sát ngân hàng), Uỷ ban chứng khoán quốc tế
(International Organization of Securities Commission - IOSC), và Hiệp hội bảo hiểm
quốc tế (International Association of Insurance Supervisors - IAIS) ban hành. Các
quy định này đưa ra các nguyên tắc về: (i) Mức độ đủ vốn; (ii) mức độ phù hợp của
bộ máy quản trị điều hành tập đoàn tài chính; (iii) chia sẻ thông tin giữa các cơ
quan giám sát; (iv) hướng dẫn thành lập nội dung văn bản phối hợp giữa các cơ
quan giám sát. Tài liệu này giúp các cơ quan thanh tra – giám sát tài chính về các
nguyên tác và kỹ thuật thự hiện giám sát hợp nhất Thị trường tài chính về cả mặt
định lượng (mức đủ vốn) và cả định tính (mức độ phù hợp). Những nguyên tắc đánh
giá mức đủ vốn nhằm vào 2 mục tiêu chính:
• Đánh giá mức đủ vốn trên cơ sở hợp nhất của các tập đoàn tài chính không
đồng nhất có hoạt động đa dạng;
• Xác định và loại bỏ tình trạng tính trùng vốn có thể dẫn tới đánh giá quá mức
vốn của Tập đoàn tài chính và có thể ảnh hưởng bất lợi đến các định chế tài
chính được giám sát nằm trong tập đoàn;
22
23
Các quy trình trên đưa ra 3 phương pháp giám sát tập đoàn tài chính về đo
lường mức đủ vốn như sau:
• Phương pháp khoanh vùng cẩn trọng;
• Phương pháp tính gộp trên cơ sở rủi ro;
• Phương pháp khấu trừ dựa trên cơ sở rủi ro.
1.3.2. Phương pháp Giám sát an toàn vĩ mô thị trường tài chính
1.3.2.1. Khái niệm phương pháp giám sát an toàn vĩ mô Thị trường tài chính

lớn đến sự lành mạnh của các định chế tài chính;
Mối tương quan và
các rủi ro giữa các
định chế tài chính
: Quan trọng
Bất ổn tài chính tại một định chế tài chính, không phải
lúc nào cũng gây ra tổn thất đến mức làm bất ổn toàn
hệ thống
Nguyên tắc kiểm soát
an toàn
: Tập trung vào rủi ro hệ thống và nguyên tắc từ trên
xuống (Top down approach)
c. Ưu điểm và nhược điểm của Giám sát an toàn vĩ mô
• Ưu điểm:
- Mục tiêu của an toàn vĩ mô thực tế đã bao gồm các cơ sở đảm bảo an toàn vi
mô, rõ nhất là bảo vệ người gửi tiền, nhà đầu tư thông qua việc giảm thiểu tác
động gián tiếp của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế đến hoạt động đầu
tư của họ;
- Việc chú trọng đến an toàn vĩ mô sẽ tạo sự cân bằng hơn giữa các nguyên tắc
của thị trường và các quy định của cơ quan giám sát nhằm điều chỉnh nhịp
nhàng các công cụ chính sách để nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Quan tâm đến sự mất ổn định do tác động của các yếu tố vĩ mô bên cạnh sự tác
động do mất ổn định của một định chế tài chính;
- Phù hợp hơn với tốc độ phát triển của nền kinh tế và sự phát triển của thị
trường tài chính hiện đại;
• Nhược điểm:
- Mô hình giám sát phức tạp và dễ dẫn tới không quan tâm đến từng định chế tài
chính mà chỉ quan tâm đến sự ổn định của toàn hệ thống tài chính;
- Trong quá trình chuyển giao giữa mô hình giám sát an toàn vi mô và mô hình
giám sát an toàn vĩ mô có thể gặp nhiều khó khăn khiến giai đoạn này kéo dài:

tổng của các khoản dự trữ chính thức hàng tháng của nhập khẩu hàng hoá
cộng dịch vụ. Tổng các khoản nợ nước ngoài và sự đo lường cấu trúc của nó
cũng là một chỉ số không kém phần quan trọng.
- Các điều kiện thương mại: Các điều kiện thương mại thắt chặt tạo ra các yếu tố
gây những khó khăn đến hoạt động ngân hàng ở nhiều nước trên thế giới. Các
25

Trích đoạn NAM CỦA UỶ BAN GIÁM SÁT TÀI CHÍNH QUỐC GIA Theo Nghị định này các NHTM cổ phần đang hoạt động chậm nhất đến 31//2008 phải đáp ứng yêu cầu về mức vốn pháp định là 1.000 tỷ VND và đến 31//2010 là 3 Sẽ được thay thế bởi Thông tư Tổng quan về hoạt động giám sát lĩnh vực bảo hiểm của Bộ tài chính Quá trình hình thành và phát triển của Uỷ ban Giám sát Tàii chính quốc gia Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status