CHƯƠNG I: LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam năm 2010 đạt mức tăng trưởng 6,78%, đang trong giai đoạn
phát triển sôi động. Một đất nước được coi là phát triển thực sự nếu thị trường tài chính
của nước đó hoạt động nhanh nhạy và hiệu quả. Là hạt nhân trung tâm của Thị trường tài
chính, thị trường chứng khoán luôn thế hiện tốt vai trò tạo vốn và chu chuyển vốn linh
hoạt hơn trong nền kinh tế, là cầu nối giữa một bên là các nhà đầu tư với bên kia là các
doanh nghiệp cần vốn kinh doanh.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán thế giới, thị trường
chứng khoán Việt Nam cũng đang có những bước chuyển đổi mạnh mẽ và đó cũng là xu
thế tất yếu khi Việt Nam chủ động bước vào hội nhập với nền kinh tế quốc tế.
Để có một bước tiến như thế thì yếu tố nguồn vốn giữ vai trò quan trọng, điều đó
đòi hỏi cần đẩy nhanh việc huy động nguồn vốn dài hạn thì việc phát triển thị trường vốn
trong thời gian sắp tới là rất cần thiết. Đặc biệt là phát triển thị trường chứng khoán, đây
là kênh dẫn vốn quan trọng đế phát triến nhanh nền kinh tế đất nước
Vừa qua, thị trường chứng khoán đã có những bước phát triển đáng kể cá về quy
mô và chất lượng hàng hóa trên thị trường, và đặc biệt là chú trọng phát triến thị trường
cổ phiếu. Đó là lý do thôi thúc chúng em thực hiện đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả
huy động vốn trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua phát hành cổ
phiếu” để có thể giải thích nguyên nhân trên.
CHƯƠNG II: NỘI DUNG
2.1. Thị trường chứng khoán
2.2.1. Khái niệm
Chứng khoán là hàng hóa trên thị trường chứng khoán, là bằng chứng xác nhận
quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối vời tài sản hoặc phần vốn của tổ chức
phát hành. Là một phương tiện có thể thỏa thuận và có thể thay thế được, đại diện cho
một giá trị tài chính, được thể hiện bằng hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu
điện tử.
2.2.2 Các loại chứng khoán
Chứng khoán bao gồm: cố phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán
2.2. Cổ phiếu
2.2.1 Khái niệm cổ phiếu
Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng
nhau gọi là cố phần. Người mua cố phần gọi là cổ đông, cổ đông được cấp một giấy
chứng nhận sở hừu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mói phát hành cổ
phiếu. Như vậy, cố phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cố
đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cá nhân tối thiểu là ba và không hạn
chế số lượng tối đa. cố đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có
quyền tự do chuyến nhượng cố phần của mình cho người khác trừ trường hợp quy định
tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của luật doanh nghiệp 2005.
Tài sản của cố đông = tài sản của công ty sở hữu - các khoản nợ của công ty
Cổ tức là hình thức chia sẻ lợi nhuận của công ty dựa trên tỉ lệ sở hữu.TỈ lệ và hình
thức chia cổ tức do HĐND quyết định.Chỉ được chia cổ tức khi có lãi hoặc tù' lợi nhuận
để lại.
Tỉ suât cô tức hiện hành — Cô tức nhận trong cả năm/giả thị trường của cô phiêu.
♦> Các nội dung chủ yếu của cố phiếu là
•
Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty.
•
Số và ngày cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
•
Số lượng cố phần và loại cố phần
• Thứ nhất, kết quả kinh doanh của tố chức phát hành (công ty có cố phiếu
niêm yết). Neu tổ chức phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cố tức cao, cố
phiếu của công ty sẽ thu hút nhà đầu tu' và cổ phiếu thực sự dễ mua bán trên thị trường.
Ngược lại nếu công ty làm ăn kém hiệu quả không trả cố tức hoặc cố tức thấp, cố phiếu
của công ty sẽ giảm giá và khó bán.
• Thứ hai là mối quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán: Thị trường
cố phiếu cũng như các loại thị truòng khác đều chịu sự chi phối của qui luật cung cầu.
Giá cố phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào chất luợng công ty mà còn phụ
thuộc rất lớn vào nhu cầu của nhà đầu tu. Tuy một loại cố phiếu rất tốt nhung thị trường
đang bão hòa nguồn cung (nhiều hàng bán) thì cố phiếu đó cũng khó tăng giá. Ngược lại
khi thị trường khan hiếm hàng hóa thì ngay cả những cổ phiếu chất lượng kém hơn cũng
có thể bán dễ dàng.
-
Có tính lưu thông: Tính lưu thông khiến cố phiếu có giá trị như một loại tài sản
thực sư, nếu như tính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cố phiếu chuyển cổ phiếu thành
tiền mặt khi cần thiết thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cố phiếu thực hiện được nhiều
hoạt động như thừa kế tặng cho để thục hiện nghĩa vụ tài sản của mình.
-
Tính tư bản giả: cổ phiếu có tính tư bản giả tức là cổ phiếu có giá trị như tiền.
Tuy nhiên cố phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng tiền.
Mệnh giá của cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu.
-
Tính rủi do cao: Phụ thuộc vào thông tin và tình hình phát triên, chính trị. Giá trị
• Cổ phiếu un đãi (perfected): là loại cố phiếu phát hành sau cổ phiếu thường,
cho phép người nắm giữ được hưởng một số quyền lợi ưu đãi hon so với cố phiếu
thường.
4- Phân tích ưu nhược điểm của cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi
Thứ nhất, cố phiếu thường
• Ưu điểm:
• Một người giữ cổ phiếu thường có thể tham gia bầu ban giám đốc công ty tại
cuộc họp các cố đông hàng năm và có quyền phát biếu về những vấn đề khác, như đạo
đức công ty, việc sát nhập, việc mua lại và nắm quyền kiểm soát công ty khác (tiếp quản
một công ty bằng cách mua đa số cố phần của nó).
• Những người chủ cổ phiếu thường có thể kiếm đươc nhiều tiền, nếu như giá cổ
phiếu tăng lên và có thu nhập từ cố tức.
• Có quyền ủy quyền cho người khác đại diện cho mình khi họp Đại hội đồng cố
đông.
• Có quyền ưu tiên mua cố phiếu phát hành thêm đế tránh bị loãng quyền sở
hữu.
-
Nhược điêm:
• Các cổ đông giừ cổ phiếu thường nhận cổ tức sau các cổ đông giữ cổ phần ưu
đãi, những người giữ phiếu nợ hoặc trái phiếu. Khi công ty bị thanh lý, những người giữ
cố phiếu thường nhận tài sản cuối cùng so với các thành phần khác.
• Cố phiếu thường không on định nên có tính rủi ro cao
Thứ hait cố phiếu ưu đãi
Ưu điểm:
• Chúng được ưu đãi về lợi tức cố phần. Lợi tức cổ phần của những cổ phiếu ưu
của họ như bán đi một phần lớn công ty hoặc thay đổi một điều khoản trong bản điều lệ
có lien quan đến cô phiếu ưu đãi.
• Tuy cổ tức của cổ phiếu uu đãi là cố định, nhưng cổ đông ưu đãi cũng chỉ được
nhận cổ túc khi công ty làm ăn có lợi nhuận.
2.2.4 Thị trưòng cổ phiếu
2.2.4. / Tại sao công ty phát hành cồ phiếu?
Công ty huy động vốn khi thành lập hoặc đế mở rộng kinh doanh bằng hình thức
phát hành cố phiếu thì nguồn vốn huy động đó không cấu thành một khoản nợ mà công ty
phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công
ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phưong thức khác như phát hành trái phiếu
công ty, vay nợ tù' các tổ chức tín dụng... thì hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương
thức huy động đều có những ưu nhược điếm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc,
lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh
của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp.
Tác dụng của việc phát hành cổ phiếu
-
Đối với Công ty phát hành:
Việc phát hành cố phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể huy động vốn khi thành lập
hoặc đế mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không cấu thành một khoản nợ
mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh
khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương thức khác như phát
hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng ...thì hoàn toàn ngược lại. Tuy
nhiên, mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điếm riêng và nhà quản lý
công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như
chiến lược kinh doanh của công ty đế quyết định phương thức áp dụng thích hợp.
-
6. Cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20 % vốn cổ phần của tổ chức phát hành
và phải nắm giữ mức này tối thiếu 3 năm kế từ ngày kết thúc việc phát hành.
7. Trường họp cố phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ đồng
thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành.
Hai trong bảy điêu kiện đê một công ty có thế phát hành chứng khoản ra công
chủng ỉà:
1. Mức vốn điều lệ tối phiếu là 10 tỷ đồng Việt Nam.
2. Tối thiểu 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành phải được bán cho trên 100
người đầu tư ngoài tố chức phát hành. Trường hợp vốn cố phần của tố chức phát hành từ
100 tỷ đồng trở lên thì tỷ lệ tối thiểu này là 15% vốn cổ phần của tổ chức phát hành
Theo Điều 7 Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về điều kiện phát hành thêm cố phiếu
quy định: Tố chức phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng để tăng vốn, ngoài việc phải
đáp ứng các quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 6 Nghị định 48 này, còn phải
đáp ứng các điều kiện sau:
1. Lần phát hành thêm phải cách 1 năm sau lần phát hành trước.
2. Giá trị cổ phiếu phát hành thêm không lớn hơn tổng giá trị cổ phiếu đang lưu
hành.
2.2.4.1 Thị trường cồ phiếu
a. Cơ cẩu tô chức của thị trường cô phiêu
Bất cứ thị trường cố phiếu nào, dù mới thành lập hay đã phát triến, đề được cấu
thành bởi 2 bộ phận thị trường có tổ chức khác nhau:
- Thị trường sơ cấp: là nơi các cổ phiếu lần đầu tiên được phát hành. Việc phát hành
cố phiếu trên thị trường sơ cấp nhằm huy động vốn cho tố chức phát hành, qua thị trường
này những nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng và các tố chức kinh tế xã hội có thế
chuyến thành vốn đầu tư dài hạn cho tố chức phát hành cố phiếu. Như vậy, thị trường sơ
cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của thị trường cố phiếu, đó là chức năng kinh tế:
mang nguồn tiền nhàn rỗi đến cho người cần sử dụng, đưa nguồn tiết kiệm vào công cuộc
đầu tư.
hành chào bán cố phiếu ra công chúng. Các tổ chức bảo lãnh phát hành thường là các
công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư.
• Tố chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán: thực hiện vai trò làm trung gian
giữa người mua và nguời bán cố phiếu để hưởng phí môi giới hay tư vấn cho khách hàng
về việc đầu tư cố phiếu.
•
Tố chức định mức tín nhiệm: thực hiện việc đánh giá và xếp hạng tín nhiệm
của một tố chức phát hành cố phiếu về khả năng thanh toán nợ vay hoặc là đánh giá mức
độ rủi ro gắn liền với các loại đầu tư khác nhau (như rủi ro về cố phiếu, về hoạt động đầu
tư của doanh nghiệp...)
c. Những yếu tố ảnh hưởng đến giá cố phiếu
ị- Thứ nhất, yếu tổ kinh tế:
-
Yếu tố vĩ mô:
•
Tăng trưởng kinh tể: Giá cố phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triến
và giảm khi nền kinh tế kém phát triển.
•
Sự tiến triền của nên kinh tê quôc dân, tình hình kinh tể khu vực và thê giới:
Thông thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển (và có xu hướng
giảm khi nền kinh tế yếu đi.
Yếu tố vi mô:
•
Thu nhập của doanh nghiệp phát hành cô phiếu: Xét về phương diện dài hạn,
giá cổ phiếu thực sự phụ thuộc vào thu nhập của doanh nghiệp cho dù giá cổ phiếu có thể
sẽ tăng, giảm hay chững lại trong một khoảng thời gian.
•
LượmỊ hàng bán (doanh thu): Lượng hàng bán là chỉ tiêu quan trọng nhất đế
đo lường một công ty có sức mạnh hay không và là nhân tố chính của tăng trưởng.
•
Cô tức: Cổ tức là nhân tố cơ bản, chủ yếu thứ hai sau thu nhập, trong việc xác
định giá chứng khoán.
•
Vốn và cơ cấu von của doanh nghiệp:cơ cấu sở hữu vốn, vốn chủ sở hừu. Quá
trình tăng vốn của doanh nghiệp: vốn hiện tại cũng như nhu cầu tăng vốn trong thời gian
tới cũng khiến giá cố phiếu biến động khá mạnh.
•
Thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp: Nhừng doanh nghiệp có thương hiệu
Cộng thêm nếu thị trường chứng khoán không ốn định, rủi ro lớn. Nhà đầu tư chứng
khoán sẽ thích gửi tiền Ngân hàng hơn là chơi chứng khoán.
Khi chính phủ thay đối lãi suất chiết khấu thì thị trường chứng khoán cũng thay
đổi theo.
•
Quy định mức dự trữ hắt buộc: Thị trường chứng khoán có ảnh hưởng nhưng
không đáng kể.
•
Nghiệp vụ thị trường mở: Thực chất về vĩ mô và lâu dài thì nghiệp vụ thị
trường mở có ảnh hưởng tới sự dao động của thị trường chứng khoán về lượng tiền đầu
tư chứ không ảnh hưởng đến giá cả các cố phiếu. Vì nghiệp vụ này khi tiến hành thì hầu
hết chỉ có các NHTM nhà nước tham gia, nay có thêm ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam, ngân hàng liên doanh, ngân hàng thương mại cổ phần và chỉ rất ít các lọai trái
phiếu dân bở tiền ra mua.
- Biến động của thị trường: Sự biến động đó là một thước đo thống kê cho thấy
khuynh hướng của một thị trường hoặc một chứng khoán sẽ tăng giá hay rớt giá mạnh
trong một khoảng thời gian ngắn nào đó.
- Tâm lý nhà đầu tư: Vào bất cứ thời điếm nào, trên thị trường cũng xuất hiện 2
nhóm người: nhóm người lạc quan và nhóm người bi quan. Khi số tiền do người lạc quan
đầu tư chiếm nhiều hơn, thị trường sẽ tăng giá và khi số tiền bán ra của người bi quan
nhiều hơn, thị trường sẽ hạ giá.
CHƯƠNG 3. KÉT LUẬN
Ở những nước có nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam, thị trường cổ phiếu
5. “Cấm nang đầu tư chứng khoán” - Phan Lan, NXB Văn hóa thông tin, 2005.
6. “Hướng dẫn đầu tư cổ phiếu” - Đào Công Bình, Minh Đức, NXB Trẻ, 2006.
7. Luật doanh nghiệp năm 2005 - NXB Thống kế
8. http://vi.wikipedia.oru/wiki/C%E1%BB%95 phi%El%BA%BFu
9. http://www,saga. vn/dictview.aspx?id= 1235 (Có phiếu thường và co phiếu mỉ đãi
(Common stock and preferred stock - Người gửi Nguyên Châu Hà)
10. http://vietbao.vn/Kinh-te/Co-phieu-Kien-thuc-co-ban/55158018/91/ (Cổ Phiếu Kiến
thức cơ bản - Theo BSC, Việt Báo (Theo 24h).
11 ■ http://chungkhoan.anet. vn/printa.aspx?id=630