Việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hành dân chủ ở nước ta trong xu thế hội nhập quốc tế - Pdf 24

Häc viÖn b¸o chÝ tuyªn truyÒn
Khoa chÝnh trÞ hoc
Bài tiểu luận
Môn : Thể chế chính trị thế giới đương đại
Đề tài: Việc xây dựng và hoàn thiện cơ
chế thực hành dân chủ ở nước ta trong xu
thế hội nhập quốc tế
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trung Thành
Lớp: Chính trị học k27
Hà nội 4/2010
Môc lôc
1
Trang
A, Phần mở đầu…………………………………………….…….4
B, Phần nội dung…………………………………………… 9
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề dân chủ trên thế giới
và Việt Nam…………………………………………………………………9
1.1, Cơ sở lý luận…………………………………………………… 9
1.1.1, Các lý thuyết cổ điển về dân chủ…………………………… 9
1.1.2, Các lý thuyết hiện đại ở phương Tây về dân chủ………… 11
1.1.3, Dân chủ ở Việt Nam……………………………………… 13
1.2, Cơ sở thực tiễn………………………………………………… 16
1.2.1, Tình hình chung…………………………………………….16
1.2.2, Thực tiễn dân chủ ở Việt Nam…………………………… 18
1.3, Khái niệm dân chủ, cơ chế thực hành dân chủ………………… 21
Chương II: Xu thế hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việc
xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hành dân chủ ở nước ta………….25
2.1, Hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan của các nước trong
giai đoạn hiện nay………………………………………………………….25
2.2, Những vấn đề đặt ra cho việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực
hành dân chủ ở nước ta trong xu thế hội nhập quốc tế…………………… 31

biệt chú ý. Mặc dù trong những năm qua dân chủ đã có những bước phát
triển và thành công nhưng trong thực tế những hiện tượng vi phạm quyền
dân chủ của dân, tình trạng quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, tham nhũng
đang có xu hướng phát triển. Bộ máy hành chính gây nên nhiều phiền hà cho
nhân dân, nhiều chủ trương, quyết định của các cơ quan có thẩm quyền của
nhà nước chưa có sự tham gia đóng góp của nhân dân, nếu có cũng chỉ mang
tính hình thức, định hướng, do đó đã có những sai sót không đáng có.
Phát huy dân chủ không chỉ góp phần củng cố, kiện toàn tổ chức
Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân ở cơ sở, không chỉ là giải pháp để
4
hạn chế sự tha hóa quyền lực, chống lại tệ nạn quan liêu, tham nhũng trong
bộ máy nhà nước mà nó còn khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của quần chúng
lao động, phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của toàn thể nhân dân trong
quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta đang tiến hành xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống mọi
mặt của nhân dân được nâng lên, thì vấn đề dân chủ và dân chủ cơ sở ngày
càng có vai trò và ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề dân chủ là một vấn đề cấp thiết có tầm quan trọng quyết định tới
ổn định an ninh-chính trị, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Chính vì tầm quan trọng của vấn đề này đang là đối tượng nghiên cứu
và tìm hiểu của nhiều nhà khoa học và độc giả trên cả nước.
Tại đại hội khóa VIII ngày 18/2/1998 Bộ chính trị đã ban hành chỉ thị số
30 CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Chỉ thị 30 của
bộ chính trị sau đó được cụ thể bằng nghị định 29/ NĐ – CP ngày 11/5/1998
và nghị định 79/ NĐ-CP ngày 7/7/2003 ban quy chế thực hiện dân chủ ở xã
thay thế nghị định 29. Tiếp đó, Ban bí thư TW Đảng ( khóa IX ) ban hành
chỉ thị số 10 và thông báo kết luận số 159, ủy ban thường vụ quốc hội ban

Chủ biên NXB Chính trị Quốc Gia-2003; Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông
thôn trong tiến trình đổi mới GS. TS Hoàng Chí Bảo -Chủ biên, NXB
Chính trị Quốc Gia 2007 ; Quy chế dân chủ ở cơ sở- Ý Đảng, lòng dân Ban
dân vận Trung ương Chủ biên. NXB Chính trị Quốc Gia 2005….Nội dung
6
chủ yếu của các cuốn sách trên nói về tầm quan trọng của vấn đề dân chủ cơ
sở, cùng với đó là một số chủ trương, biện pháp góp phần vào việc thực hiện
quy chế dân chủ cơ sở.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận tập trung chủ yếu vào việc ảnh hưởng
của xu thế hội nhập quốc tế đối với vấn đề dân chủ ở nước ta, hội nhập quốc
tế sẽ đặt ra những lợi thế và thách thức gì cho việc thực hành dân chủ. Ngoài
ra, tiểu luận còn nghiên cứu một số cơ chế thực hành dân chủ đã được thực
hiện ở nước ta trong thời gian qua.
4. Cơ sở nghiên cứu
Cơ sở lý luận: đề tài lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng
một số cơ sở lý luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật
lịch sử làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.
Cơ sở thực tiễn: đề tài lấy những vấn đề thực tế về dân chủ đang diễn ra
ở các cấp cơ sở trên cả nước, qua đó tổng hợp, phân tích để tìm ra những
nguyên nhân cũng như đề ra những giải pháp cho việc giải quyết những vấn
đề này.
5. Nhiệm vụ, chức năng
Nhiệm vụ: đề tài tiểu luận tập trung vào việc nghiên cứu những vấn đề về
việc xây dựng, hoàn thiện những cơ chế của việc thực hành dân chủ ở nước
ta trong điều kiện hội nhập quốc tế của nền kinh tế thế giới hiện nay.
Chức năng: nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản còn đang tồn tại trong
việc thực hiện cơ chế thực hành dân chủ trong xu thế hội nhập quốc tế, để đề
ra những giải pháp cơ bản nhất cho vấn đề này.

-Tất cả ( hoặc càng nhiều càng tốt) các vị trí công quyền đều có nhiệm kỳ
ngắn hạn.
9
- Hội đồng xét xử được chọn từ tất cả mọi người và có quyền phán xét tất
cả hoặc hầu hết các vấn đề- tức là tất cả những vấn đề tối cao và quan trọng
nhất như Hiến pháp, các vụ án đăc biệt, các hợp đồng giữa các cá nhân…
- Đại hội đồng là cơ quan thẩm quyền tối cao trong mọi vấn đề, hoặc chí ít
là trong những vấn đề quan trọng nhất, các quan chức hành pháp không có
thẩm quyền đối với bất kỳ (hoặc càng ít càng tốt) vấn đề gì…
- Lương cho bộ máy công quyền được phát định kỳ cho tất cả.
- Nguồn gốc xuất thân, của cải và giáo dục là những chuẩn mực xác định
đẳng cấp của chế độ quý tộc vì vậy những cái đối lập với chúng (xuất thân từ
tầng lớp dưới, thu nhập thấp, nghề nghiệp chân tay) lại được xem như là nét
dân chủ điển hình.
- Không có quan chức nào chiếm vị trí công quyền suốt đời.
Theo quan niệm đó và bình đẳng là những điều kiện của dân chủ và là điều
kiện tiền đề của nhau.
b) Chủ nghĩa tự do
Sau thời kỳ cổ đại Hy Lạp – La Mã, phương Tây rơi vào thời kỳ Đêm
trường Trung cổ với sự thống trị của chế độ phong kiến và nhà thờ Thiên
chúa giáo. Vương quyền bị lấn át hẳn bởi thần quyền, tôn giáo, quan điểm
của các giáo sĩ ngự trị toàn xã hội. Mặc dù có một số tư tưởng chính trị tiến
bộ xuất hiện nhưng nhìn chung là không đáng kể. Từ thế kỷ 16 trở đi cùng
với đà phát triển của chủ nghĩa Tư bản, với tiền đề là các chế độ cộng hòa
tồn tại hàng trăn năm trong các đô thị trung cổ, các tư tưởng dân chủ lại có
điều kiện khôi phục, phát triển. Từ đó trong suốt 300 năm, các tư tưởng đó
ngày càng phát triển, đặc biệt vào thế kỷ 18, 19 với sự xuất hiện của nhà
nước Mỹ (1776) . Trong thời kỳ này tư tưởng dân chủ được phân ra làm 2
dòng lớn có ảnh hưởng lẫn nhau, có những điểm chung nhưng cũng có
10

Đây là sự phát triển logic của Chủ nghĩa tự do nảy sinh từ thế kỷ 17,
18 ở Châu Âu. Lý thuyết đề cao quyền tự do của con người và coi đó là
điều tự nhiên mà một nhà nước cần phải bảo vệ và phát triển. Lý thuyết đa
nguyên còn được vận dụng bởi quan điểm đa nguyên của triết học trong việc
giải thích thế giới vào lĩnh vực chính trị.
Theo nghĩa rộng, thuật ngữ đa nguyên được hiểu là niềm tin ( hay là
một sự cam kết) về sự đa dạng. Theo nghĩa hẹp, “ đa nguyên” là lý luận về
sự phân bố quyền lực chính trị - cho rằng quyền lực được phân bố rộng rãi
trong xã hội thì tốt hơn là tập trung trong tay giới tinh hoa hay giai cấp cầm
quyền.
Với ý nghĩa như vậy Chủ nghĩa đa nguyên thường được xem như lý
thuyết về chính trị nhóm, trong đó các cá nhân được đại diện một cách rộng
rãi bởi các thành viên của các nhóm có tổ chức. Thuật ngữ “dân chủ đa
nguyên” đôi khi còn được thay cho thuật ngữ “ dân chủ tự do” để chỉ hệ
thống dân chủ dựa trên sự cạnh tranh bầu cử giữa các đảng chính trị.
b, Chủ nghĩa tinh hoa
Chủ nghĩa tinh hoa thực ra không có gì quá mới mẻ đối với chúng ta,
nó đã được đề cập ngay từ thời cổ đại ( đại diện là Platon). Tuy nhiên, nếu
như thực chất của tư tưởng Platon lại là chống lại dân chủ ( quyền lực tập
trung vào một nhóm giàu có, quyền lực), thì chủ nghĩa tinh hoa hiện đại cho
rằng dân chủ chính là thể chế, là cách thức để công dân có thể lựa chọn
những “tinh hoa” đại diện cho mình thông qua bầu cử định kỳ mang tính
cạnh tranh cao. Shumpeter – một trong những đại diện của Chủ nghĩa tinh
12
hoa khẳng định: “Chủ nghĩa tinh hoa cạnh tranh là mô hình phù hợp nhất, có
khả năng vận hành tốt nhất nền dân chủ”.
c, Chủ nghĩa tập đoàn
Khác với những người ủng hộ chủ nghĩa đa nguyên, những người theo
Chủ nghĩa tập đoàn cho rằng thực tế chính trị ở một số nơi thì các tổ chức
đại diện cho giới chủ, giới lao động và giới quan chức nhà nước có tác động

mạng này, không thực hiện được dân chủ cho nhân dân thì không giải phóng
được dân tộc và nếu không giải phóng được dân tộc thì mục tiêu dân chủ cho
nhân dân cũng trở nên vô nghĩa. Nhưng nếu giành được độc lập cho dân tộc
rồi mà nhân dân không có dân chủ thì độc lập cũng trở nên vô nghĩa. Từ khi
bị mất nước vào tay Thực dân Pháp dân chủ trở thành một phong trào, một
nội dung cơ bản của dân tộc và giải phóng dân tộc trở thành mọt phong trào,
một nội dung cơ bản của dân chủ.
Sau Cách mạng T8 nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – nhà nước
công nông đầu tiên ở Đông Nam Á được thành lập. Nhân dân ta từ địa vị nô
lệ, làm thuê đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ ruộng đồng của
mình. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 Thực dân Pháp đã hoàn
toàn bị đánh đuổi, miền Bắc đã được giải phóng bước vào thời kỳ tiến lên
Chủ nghĩa xã hội. Lúc này, nhân dân miền Bắc đã trở thành người làm chủ
mọi quyền lực trong đó quan trọng nhất là quyền lực nhà nước. Đây là thời
kỳ dân chủ được chú trọng đặc biệt để tạo niềm tin tưởng của nhân dân vào
nền Chủ nghĩa xã hội mới bắt đầu được hình thành. Sau khi thống nhất đất
nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ( năm 1976) đã tuyên
bố trong đường lối chung một nhiệm vụ có tính chất cương lĩnh là xây dựng
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, sao cho nhân dân xứng đáng
14
là người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và
chinh phục tự nhiên.
Quyền làm chủ tập thể, mà tính tất yếu khách quan của nó xuất hiện khi
chính quyền nhà nước thuộc về nhân dân, phải được xây dựng thành chế độ
xã hội mà Nghị quyết Đại hội IV gọi là “ chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ
nghĩa”. Chế độ đó là tổng hợp các mối quan hệ, cơ chế, phương thức, mục
tiêu và lực lượng nhằm xây dựng xã hội nước ta thành một xã hội trong đó
người làm chủ chân chính là cộng đồng xã hội, là tập thể nhân dân lao động
có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh
đạo. Một xã hội có khả năng “kết hợp hữu cơ quyền làm chủ tập thể với

sự của dân, do dân và vì dân.
Trong thời kỳ quá độ từ Chủ nghĩa Tư bản lên Chủ nghĩa xã hội cùng
với sự phức tạp hóa của các yếu tố cấu thành lên một nền dân chủ thì phạm
vi dân chủ càng được mở rộng, hình thức và biện pháp thực hiện ngày càng
phong phũ, đa dạng. Để những giá trị dân chủ thực sự phát huy vai trò là
động lực cho sự phát triển, đòi hỏi khái niệm dân chủ phải được nhận thức
một cách đúng đắn, khoa học, phải được thể chế hóa thành những quy định,
quy chế cụ thể. Đặc biệt, trong việc tổ chức và kiện toàn bộ máy nhà nước
làm sao cho dân chủ thực sự vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu của quá
trình dân chủ hóa xã hội, phát triển kinh tế và hội nhập xu thế quốc tế.
1.2, Cơ sở thực tiễn
1.2.1, Tình hình chung
Từ nửa cuối thế kỷ XX do sự lớn mạnh của hệ thống Xã hội chủ nghĩa
trên toàn thế giới cùng với đó là sự sụp đổ từng mảng của chủ nghĩa thực
dân cũ và được thúc đẩy bởi những thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trào
16
lưu đấu tranh cho dân chủ ngay trong bản thân các nước Tư bản chủ nghĩa
đã có những bước phát triển hết sức mạnh mẽ như các phong trào dân chủ
hóa ở Đông Âu và Liên Xô, phong trào dân chủ hóa ở Châu Phi và Mĩ
Lating, phong trào dân chủ hóa ở Châu Á…Trong nhiều văn kiện của Đảng
từ những năm 60, Đảng ta đã coi phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ
và tiến bộ xã hội trong các nước Tư bản chủ nghĩa là một trong ba dòng thác
của thế kỷ XX, cùng với hai dòng thác khác là đấu tranh cho Chủ nghĩa xã
hội và đấu tranh cho độc lập và giải phóng dân tộc.
Tuy nhiên, do các Đảng cộng sản cầm quyền ở các nước đã không có sự
nhận thức và giải quyết đúng mức các vấn đề về dân chủ trong xã hội chủ
nghĩa, cùng với đó là sự nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, sự quan liêu, xa rời
quần chúng của một bộ phận đứng đầu làm méo mó bản chất của Chủ nghĩa
xã hội. Nên từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX tại một số nước Xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu đã xuất hiện những mầm mống đầu tiên của phong trào

Cách mạng T8 -1975. Nó được mở đầu bằng việc lần đầu tiên sau hàng
nghìn năm dưới chế độ phong kiến và gần 100 năm dưới ách thống trị của
Đế quốc, Thực dân, toàn thể nhân dân Việt Nam không kể già-trẻ, gái-trai,
giàu-nghèo, dân tộc tôn giáo…đã đi bỏ phiếu để bầu lên Quốc hội khóa I (6-
1-1946). Ngay từ cuộc bầu cử đầu tiên này đã thực hiện theo nguyên tắc phổ
thông đầu phiếu và bình đẳng. Đây là những nguyên tắc bầu cử tiến bộ mà
cho đến thời kỳ này không phải quốc gia nào cũng thực hiện được.
Sau bầu cử, trong kỳ họp đầu tiên (3-1946), Quốc hội đã bầu cử ra ủy
ban soạn thảo hiến pháp và Hiến pháp đã được thông qua vào tháng 12 năm
đó. Đây là bản Hiến pháp đầu tiên đã khẳng định những nguyên tắc của nền
dân chủ: “ trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mọi quyền hành đều
18
thuộc về nhân dân”. Tiếp theo HIến pháp, dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ
Chí Minh, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp tục được hoàn thiện.
Nhiều thể chế chính trị đã ra đời, chẳng hạn các ủy ban hành chính ở các
tỉnh mà nòng cốt chính là nông dân và công nhân cùng với nhiều thành phần
đa dạng đại diện cho tát cả các giới miễn là có tinh thần yêu nước chống đế
quốc. Đặc biệt, Quốc hội đã trở thành cơ quan đại diện cho nhân dân với
thành phần bao gồm tất cả các đảng chính trị ở Việt Nam khi đó. Ủy ban
thường vụ quốc hội đã bản hành nhiều văn bản luật mang tính cách mạng và
dân chủ trong đó quan trọng nhất là Luật Cải cách ruộng đất (1953) đáp ứng
nguyện vọng của đông đảo nhân dân lúc đó là “ sử hữu ruộng đất”.
Sau 2 năm khôi phục kinh tế (1954-1956), theo chủ trương của Đảng và
chính phủ miền Bắc bước vào những năm cải tạo kinh tế. Đến những năm 60
về cơ bản cả miền Bắc đã không còn những cơ sở kinh tế Tư bản tư nhân,
quan hệ sản xuất Tư bản bị xóa bỏ, giai cấp Tư sản biến mất, thay vào đó là
kinh tế tập thể, quốc doanh. Với những kết quả đó, Hiến pháp năm 1959 đã
khẳng định Việt Nam dân chủ cộng hòa là nhà nước dân chủ nhân dân, thực
hiện chức năng chuyên chính vô sản. Tính chất này kéo dài cho đến sau khi
thống nhất nước nhà đi lên Chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp năm 1980 một lần

những thế chính quyền ở những nơi này, nơi khác còn có nhiều biểu hiện vi
phạm nghiêm trọng quyền công dân, trong đó có quyền dân chủ. Cùng với
đó là các đoàn thể nhân dân, đặc biệt là vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt
Nam không được coi trọng và phát huy đúng. Đường lối chủ trương của
Đảng thể hiện sự nóng vội, chủ quan, duy ý chí, giáo điều không phản ánh
và đáp ứng đúng nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân.
20
Chính vì vậy, vấn đề dân chủ, mở rộng dân chủ Xã hội chủ nghĩa, đảm
bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân để phát huy động lực to lớn, thực
hiện mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là yêu cầu cấp bách của thực tiễn cách mạng
nước ta, đồng thời là biện pháp chiến lược để phòng chống tham nhũng,
quan liêu có hiệu quả, để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Trên cơ sở đó tiếp tục
tạo thế và lực cho đất nước bước vào thế kỷ XXI một cách vững chắc.
1.3, Khái niệm dân chủ, cơ chế thực hành dân chủ
Phạm trù “dân chủ” mà chúng ta đang sử dụng có nguồn gốc từ tiếng Hy
Lạp “demos” nghĩa là nhân dân và “kratos” nghĩa là chính quyền, quyền lực.
“Demokratia” có nghĩa là quyền lực của nhân dân, chính quyền của nhân
dân. Dân chủ có nghĩa là dân làm chủ mọi quyền lực xã hội, đó là ước mơ từ
xưa của nhân loại và được các nhà tư tưởng tiến bộ nêu ra rất sớm trong lịch
sử xã hội. Trải qua hàng ngàn năm tiến hóa, đến thời đại chúng ta dân chủ
đang là đòi hỏi bức xúc, là nhu cầu và là động lực xã hội.
Phạm trù “dân chủ” có một lịch sử tiến hóa lâu dài, thể hiện khát vọng của
nhân dân làm chủ vận mệnh của mình. Qua mỗi thời đại, mỗi hình thái kinh
tế - xã hội khái niệm dân chủ ngày càng được triển khai phong phú hơn từ
chiều rộng, chiều sâu đến quy mô, liên quan đến nhận thức, hành vi con
người , các cộng đồng xã hội và hoạt động của nhà nước. Ở mỗi thời đại,
dân chủ mang những đặc trưng và hình thức khác nhau.
Mọi quyền lực xã hội vốn thuộc về nhân dân mà trước hết là nhân dân lao
động, bởi vì nhân dân là nguồn lực xã hội và tạo ra mọi nguồn lực xã hội.

những người ít tài sản hoặc không có mà đại đa số những người này lại là
nhân dân. Ngày nay, nhờ áp lực đấu tranh của các lực lượng tiến bộ, đối lập
22
với chủ nghĩa tư bản nên nền dân chủ của giai cấp tư sản đã có những tiến
bộ đáng kể. Sự xã hội hóa cao độ đời sống kinh tế xã hội đã làm xuất hiện
những hình thức dân chủ tham dự, chuyển cho xã hội một số dịch vụ nhà
nước, xuất hiện mô hình “ nhà nước doang nghiệp”… đã làm xói mòn, thay
đổi nhiều kết cấu cổ điển của nền dân chủ tư sản phương Tây. Để khắc phục
những hạn chế của nền dân chủ tư sản, nhân loại đã và đang tìm con đường
khác thay thế, trong đó tiến bộ nhất là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, vấn đề tự do, bình đẳng, quyền công dân, quyền con người đang
là một nhu cầu bức thiết, một động lực to lớn của sự phát triển xã hội mà
mọi thể chế chính trị cần phải quan tâm giải quyết. Cùng với sự tiến hóa của
dân chủ, nhân dân ngày càng có quyền nhiều hơn thì quyền lực nhà nước
ngày càng bị kiểm soát. Trong thể chế quân chủ chuyên chế quyền lực của
người đứng đầu quốc gia, của vua là tối thượng, không có sự kiểm soát.
Nhưng do sử dụng quyền lực một cách tùy tiện nên nhiều khi chính những
ông vua này lại gây nên tội các với chính những thần dân của mình. Đến khi
chế độ quân chủ lập hiến ra đời thì điều này đã được khắc phục, đây là một
bước tiến văn minh chính trị đáng kể.Chế độ quân chủ lập hiến đã hình
thành cơ chế kiểm soát quyền lực ngay trong bộ máy quyền lực nhà nước,
hạn chế đáng kể việc sử dụng quyền lực của vua một cách đáng kể. Đây
cũng chính là xu hướng tiến hóa của nhân loại là ngày càng tiến rới tự do
dân chủ, nhân dân làm chủ và kiểm soát quyền lực nhà nước. Cách mạng xã
hội chủ nghĩa là bước tiến cơ bản về dân chủ, bởi vì cuộc cách mạng ấy với
mục tiêu là dành dân chủ cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dân
chủ cho đa số, dân chủ hơn nhiều lần dân chủ của giai cấp tư sản . Dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa nhân dân được làm chủ và kiểm soát mọi quyền lực xã
hội, nhà nước. Đây chính là sự tiến bộ, là mục tiêu của xã hội chủ nghĩa, là
xu hướng tiến bộ của xã hội. Tiến lên chủ nghĩa xã hội là tiến xã hội “ nhân

cho việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế thực hành
dân chủ ở nước ta
2.1, Hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan của các nước
trong giai đoạn hiện nay
“Toàn cầu hoá” là một xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử nhân
loại, mà trước hết là tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi
động. Cách đây hơn 150 năm, C.Mác đã dự báo xu hướng này và ngày nay
đã trở thành hiện thực. Theo ông, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế mới của
quá trình phát triển kinh tế thị trường, phản ánh trình độ phát triển cao của
lực lượng sản xuất xã hội mà ở đó, phân công lao động quốc tế và quốc tế
hoá sản xuất trở thành phổ biến.
Trong lịch sử, trước khi phương thức sản xuất TBCN ra đời, do trình
độ lực lượng sản xuất thấp kém, giao thông chưa phát triển, việc sản xuất và
trao đổi hàng hoá còn bị giới hạn trong các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, năng
suất thấp nên chưa có thị trường thế giới theo nghĩa hiện đại. Từ khi phương
thức sản xuất TBCN ra đời, đặc biệt là từ khi diễn ra cuộc cách mạng công
nghiệp, đời sống kinh tế các nước có sự thay đổi căn bản. Tình trạng tự cấp,
tự túc và bế quan toả cảng của các địa phương, các dân tộc trước kia được
thay thế bằng sự sản xuất và tiêu dùng mang tính quốc tế. Tuy nhiên, cho
đến trước Thế chiến thứ 2, hình thức quốc tế hóa chủ yếu vẫn là phân công
áp đặt trực tiếp, tức là các nước phát triển áp dụng chiến tranh xâm lược và
bạo lực để thống trị các nước lạc hậu, bóc lột, vơ vét tài nguyên và tiêu thụ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status