Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực trạng và giải pháp - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong
khoa Quan Hệ Quốc Tế và chuyên ngành Kinh tế đối ngoại đã tận tình giảng dạy,
truyền đạt, bồi dưỡng tri thức cho em trong quá trình học tập và rèn luyện tại
trường Đại học dân lập Đông Đô, đồng thời em cũng xin cảm ơn TS.Ngô Tất Tố,
cô Trần Thị Vân, cô Nguyễn Kim Phượng luôn bên em dìu dắt chúng em trong quá
trình học tập tại trường.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến TS.Hoàng Phúc Lâm
người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em từ khi hình thành ý tưởng cho đến khi
hoàn thành khóa luận này.
Vì thời gian có hạn và phạm vi nghiên cứu rộng cho nên em không tránh khỏi
những thiếu sót trong khóa luận. Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô và
các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Huyền Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Chữ viết tắt
1 CĐ Cao đẳng
2 CNH Công nghiệp hóa
3 ĐH Đại học
4 HĐH Hiện đại hóa
5 PTTH Phổ thông trung học
6 THCN Trung học chuyên nghiệp
7 THCS Trung học cơ sở
8 CMKT Chuyên môn kỹ thuật
9 VNĐ Việt Nam đồng
10 LĐ Lao động
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỤC LỤC

+ Kết quả và hạn chế trong đào tạo nguồn lực con người ở nước ta trong thời
kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
4.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Là phương pháp thống kê đối chứng so
sánh, phương pháp chuyên gia và phân tích xử lý thông tin trên cơ sở kết hợp các
nguồn tư liệu cả trong nước và nước ngoài .
5.Giới hạn đề tài:
Đào tạo nguồn nhân lực trong đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và
trường nghề.
Thời gian: 2005-2010
6.Nội dung khóa luận
Nội dung khóa luận gồm 3 chương
Chương 1: Những lý luận về đào tạo và phát triền nguồn nhân lực ở
nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực ở nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO
VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NƯỚC TA TRONG
ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1.Nguồn nhân lực :
Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng
tham gia lao động
*Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng:
- Số lượng: Được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng
trưởng nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực của một quốc gia là những người

.Cơ cấu lao động được đào tạo
.Cơ cấu đào tạo (sơ cấp, trung cấp, cao cấp)
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, thông
qua chỉ tiêu này cho thấy năng lực sản xuất của con người trong một doanh nghiệp
trong một ngành, trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ, khả năng sử dụng khoa
học hiện đại vào sản xuất. Cũng giống như các loại nguồn lực khác, nguồn nhân
lực bao hàm số lượng đặc biệt là chất lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong
tạo ra của cải vật chất và văn hóa cho xã hội.
1.1.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
1.1.2.1.Khái niệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Vốn được hiểu là giá trị mang lại lợi ích kinh tế, vốn được biểu hiện dưới
nhiều dạng khác nhau như vốn nhân lực là một trong những loại vốn quan
trọng nhất.
Vốn nhân lực là nguồn lực con người song không phải bất kỳ người nào cũng
có thể trở thành vốn nhân lực, cũng giống như các nguồn khác để đưa lại lợi ích
kinh tế cũng phải có giá trị, yếu tố con người muốn trở thành vốn nhân lực cũng
cần phải có giá trị, chính là giá trị sức lao động. Giá trị sức lao động cao hay thấp
phụ thuộc vào trình độ phát triển lành nghề của nhân lực, có ý nghĩa để người lao
4
động trở thành vốn nhân lực không thể có con đường nào khác ngoài công tác đào
tạo nghề cho họ.
Vốn nhân lực tự nó đòi hỏi con người phải có kiến thức chuyên môn, nghề
nghiệp và để có nguồn nhân lực ngày càng cao các nhà quản lý phải quan tâm tới
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Cùng với quá trình hội nhập, công nghệ tiên
tiến dẫn đến hàng loạt nghành công nghiệp truyền thống trở nên lạc hậu và nhiều
nghành công nghiệp mới ra đời. Vì vậy chất lượng đội ngũ nhân lực cần hướng vào
việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Như vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là tất cả những hoạt động để
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong mọi tổ chức và mục tiêu của tổ chức,
rèn luyện kỹ năng và xây dựng các phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động,

họ mở rộng tầm nhìn và mang lại cho họ sự tự tin, thỏa mãn, đồng thời giúp họ tiến
những bước dài trong nấc thang sự nghiệp của mình.
Việc đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho nguồn nhân lực thực sự cần
thiết vì hàng năm có nhiều thanh niên bước vào độ tuổi lao động nhưng chưa đào tạo
được nghề, một chuyên môn nào, ngoài trình độ văn hóa phổ thông. Cùng với nền
kinh tế nhiều thành phần, cơ cấu công nghệ thay đổi, sản xuất ngày càng phát triển
mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật, chuyên môn mới ra đời. Đội ngũ nhân lực cần
phải được đào tạo nâng cao thêm cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất. Không chỉ
đáp ứng được yêu cầu đội ngũ nhân lực trước mắt mà còn trong tương lai.
Đối với xã hội hoạt động đào tạo và phát triển giúp cho xã hội có được nguồn
năng lực chất lượng cao, thúc đẩy sự hợp tác và phát triển trong xã hội. Nguồn
nhân lực được đào tạo và phát triển sẽ có những năng lực, phẩm chất cần thiết, đáp
ứng yêu cầu công việc trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập. Đồng thời con
người được đào tạo và phát triển sẽ mang lại được những phẩm chất tốt, do có quá
trình làm việc nghiêm túc hiệu quả. Bên cạnh đó, nguồn năng lực được đào tạo và
phát triển sẽ làm việc tốt hơn, các doanh nghiệp do vậy cũng hoạt động có hiệu quả
hơn. Vì vậy xã hội – doanh nghiệp – người lao động tăng cường mối quan hệ hợp
tác với nhau, thúc đẩy phát triển kinh tế.
1.1.2.3. Mối quan hệ giữa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo và phát triển đều là công việc cung cấp kiến thức, rèn luyện các kỹ
năng phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động, tuy nhiên đào tạo nhấn mạnh đến
6
việc huấn luyện trong hiện tại và chú trọng đến công việc trong hiện tại, còn phát
triển là chú trọng đến các công việc trong tương lai.Như vậy, đào tạo luôn gắn với
chiến lược phát triển kinh tế lâu dài của doanh nghiệp. Đào tạo chỉ đáp ứng yêu
cầu của công việc hiện tại, còn phát triển giúp thỏa mãn nhu cầu thăng tiến và làm
tăng khả năng thích ứng của người lao động đối với những biển đổi của công việc
trong tương lai.
1.1.3. Vai trò của nguồn nhân lực ở nước ta trong hội nhập kinh tế quốc
tế

nghệ theo hướng đi thẳng vào công nghệ hiện đại để có thể đi trước đón đầu,
nhanh chóng bắt kịp các nước trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho
CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế. Để thực hiện được mục tiêu đó một
cách có hiệu quả, đòi hỏi nước ta phải có một đội ngũ công nhân kỹ thuật lành
nghề, đội ngũ cán bộ chuyên môn có trình độ cao để vừa có khả năng tiếp nhận
khoa học công nghệ, vừa có khả năng tiếp nhận nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài để khắc phục tình trạng thiếu vốn ở trong nước, đồng thời tổ chức quản lý và
sử dụng các nguồn vốn đó một cách hiệu quả trong CNH, HĐH và góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế.
So với nhiều nước trên thế giới Việt Nam có lợi thế dân số đông, tuy nhiên
nếu không được đào tạo một cách bài bản thì dân đông sẽ trở thành gánh nặng cho
toàn bộ xã hội, nếu được đào tạo, đó sẽ là nguồn nhân lực có tác động tích cực trực
tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn
nhân lực chiếm một vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nhân tố quan trọng bậc nhất để đưa Việt
Nam trở thành một nước công nghiệp phát triển, có sức hấp dấn đối với các nhà
đầu tư nước ngoài.
1.1.4. Nội dung và phương pháp đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta trong
hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.4.1. Nội dung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
- Đào tạo và phát triển chuyên môn – kỹ thuật
Đào tạo và phát triển chuyên môn – kỹ thuật là nội dung đào tạo căn bản nhất
vì không có chuyên môn thì người lao động không thể làm việc được . Đào tạo và
phát triển chuyên môn – kỹ thuật bao gồm đào tạo các tri thức nghề nghiệp, các kỹ
năng nghề nghiệp và các phẩm chất, kinh nghiệm nghề nghiệp.
8
- Đào tạo và phát triển kỹ năng cơ bản
Những kỹ năng cơ bản là những kỹ năng cần thiết đối với hầu hết người lao
động, bao gồm kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ngoại ngữ. Đào tạo và phát triển những
kỹ năng này giúp cho người lao động có thể hòa nhập dễ dàng với môi trường làm

công việc và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng bước về cách quan sát, trao đổi, học hỏi và
làm thử cho tới khi thành thạo dưới sự hướng dẫn và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng bước
về cách quan sát, trao đổi, học hỏi và làm thử cho tới khi thành thạo dưới sự hướng
dẫn và chỉ dẫn chặt chẽ của người dạy.
- Đào tạo theo kiểu học nghề:
Trong phương pháp này, các chương trình đào tạo bắt đầu bằng việc học lý
thuyết ở trên lớp, sau đó các học viên được đưa đến nơi làm việc dưới sự hướng
dẫn của công nhân lành nghề trong một vài năm, được thực hiện các công việc
thuộc nghề cần học cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề. Phương
pháp này dùng để dạy một nghề hoàn chỉnh cho công nhân.
Các phương pháp này thực chất chỉ là sự kèm cặp của công nhân lành nghề
đối với người học và là phương pháp thông dụng ở Việt Nam.
- Kèm cặp và chỉ bảo:
Phương pháp này thường dùng cho cán bộ quản lý và các nhân viên giám sát
có thể học được các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc trước mắt và công
việc tương lai thông qua sự kèm cặp, chỉ bảo của những người quản lý giỏi hơn.
Có ba cách để kèm cặp là:
- Kèm cặp bởi người lãnh đạo trực tiếp.
- Kèm cặp bởi một cố vấn.
- Kèm cặp bởi người quản lý có kinh nghiệm hơn.
- Luân chuyển và thuyên chuyển công việc:
Luân chuyển và thuyên chuyển công việc là phương pháp chuyển người quản
lý từ công việc này sang công việc khác để cung cấp cho họ những kinh nghiệm
làm việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong tổ chức. Những kinh nghiệm và kiến
thức thu được qua quá trình đó sẽ giúp cho họ có khả năng thực hiện được công
việc cao hơn trong tương lai. Có thể luân chuyên và thuyên chuyển công việc theo
ba cách:
10
Chuyển đối tượng đào tạo đến nhận cương vị quản lý ở một bộ phận khác
trong tổ chức nhưng vẫn với chức năng và quyền hạn như cũ.

- Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp:
Đối với những nghề tương đối phức tạp hoặc các công việc có tính đặc thù, thì
việc đào tạo bằng kèm cặp không đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất
lượng. Các doanh nghiệp có thể tổ chức các lớp đào tạo với các phương tiện và
thiết bị dành riêng cho học tập. Trong phương pháp này hướng trình đào tạo gồm 2
phần: lý thuyết và thực hành. Phần lý thuyết được giảng tập trung cho các kỹ sư,
cán bộ kỹ thuật phụ trách còn phần thực hành được tiến hành ở các xưởng thực tập
do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn. Phương pháp này giúp cho học
viên học tập có hệ thống hơn.
- Cử đi học ở các trường chính quy:
Các doanh nghiệp cũng có thể cử người lao động đến học tập ở các trường
dạy nghề hoặc quản lý do các Bộ, ngành hoặc do Trung ương tổ chức. Trong
phương pháp này, người học sẽ được trang bị tương đối đầy đủ cả kiến thức lý
thuyết lẫn kỹ năng thực hành. Tuy nhiên phương pháp này tốn nhiều thời gian và
kinh phí đào tạo.
- Các bài giảng, các hội nghị hoặc các hội thảo:
Các buổi giảng bài hay hội nghị có thể được tổ chức tại doanh nghiệp hoặc ở
một hội nghị bên ngoài, có thể được tổ chức riêng hoặc kết hợp với các chương
trình đào tạo khác. Trong các buổi thảo luận, học viên sẽ thảo luận theo từng chủ
đề dưới sự hướng dẫn của người lãnh đạo nhóm và qua đó họ học được các kiến
thức kinh nghiệm cần thiết.
Đào tạo theo kiểu chương trình hóa với sự trợ giúp của máy tính:
Đây là phương pháp đào tạo kỹ năng hiện đại ngày nay mà nhiều công ty ở
nhiều nước đang sử dụng rộng rãi. Trong phương pháp này, các chương trình đào
tạo được viết sẵn trên đĩa mềm của máy tính, người học chỉ việc thực hiện theo các
hướng dẫn của máy tính, phương pháp này có thể sử dụng để đào tạo rất nhiều kỹ
năng mà không cần có người dạy.
12
Đào tạo lại theo phương thức từ xa:
Đào tạo từ xa là phương thức đào tạo mà giữa người dạy và người học không

minh: coi trọng phát triển nguồn nhân lực là một trong những chìa khóa của sự
thành công. Để có được một đội ngũ lao động có chất lượng nhờ dựa vào một nền
giáo dục hiện đại và thành công. Không phải những thập kỷ gần đây, Nhật Bản
mới coi trọng giáo dục mà phát triển lĩnh vực này từ lâu được coi là một quốc sách.
Thực tế giáo dục phổ thông trước chiến tranh đã đạt mức gần như 100%. Sau chiến
tranh, việc mở rộng giáo dục đã tạo nên cái gọi là “Kỷ nguyên bùng nổ giáo
dục”.Giáo dục bắt buộc cấp trung học cơ sở đã tạo điều kiện cho các em từ độ tuổi
6-15 được học tập miễn phí… cùng với tỷ lệ cao học sinh gia nhập các trường cao
đẳng, đại học, sau đại học, đã đưa Nhật Bản trở thành một cường quốc về giáo dục
của thế giới. Ở Nhật Bản con người luôn được coi là yếu tố quyết định nhất trong
quá trình sản xuất. Nhận thức này, một mặt là kế thừa truyền thống coi trọng con
người đã có từ trước trong lịch sử phát triển của Nhật Bản, mặt khác đó còn là xuất
phát từ hoàn cảnh đặc thù của nước Nhật sau chiến tranh. Ngoài con người Nhật
Bản với bàn tay và khối óc, Nhật Bản không có gì khác cả về tài nguyên thiên
nhiên và nguồn vốn, là một nước quần đảo, luôn bị đe dọa nhấn chìm hoặc phá hủy
bởi những trận động đất và núi lửa thường xuyên xảy ra. Do vậy ngay từ bé, trẻ em
Nhật Bản đã được dạy dỗ, khắc sâu một điều là muốn tồn tại và phát triển, người
Nhật Bản không có cách nào khác là phải quyết tâm vươn lên học giỏi và làm việc
cật lực. Và ngay sau chiến tranh, không những Chính phủ, giới kinh doanh, nhà
trường, mà từng cá nhân người Nhật đã tỏ rõ quyết tâm của mình bằng cách phát
triển nhân tố con người.
Duy trì và phát triển nhân lực không đơn giản chỉ là việc rèn luyện sức khỏe,
cơ bắp mà quan trọng hơn là đào tạo rèn luyện năng lực trí tuệ cho người lao động
để tạo ra năng suất lao động ngày một cao. Trí lực con người không phải là cái
bẩm sinh, “nhất thành bất biến” mà phải được đào tạo, rèn luyện thường xuyên,
14
liên tục ngay từ khi còn ở tuổi mẫu giáo. Nhật Bản là nước đứng đầu thế giới trong
lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực “ từ xa” thông qua quá trình giáo dục từ tiền phổ
thông cho đến khi thạo nghề làm ra sản phẩm xã hội. Ở Nhật Bản, giáo dục tiểu
học và trung học cơ sở tuy được miễn phí nhưng là bắt buộc, ngay từ khi bước

Ở Nhật Bản nhà nước có vai trò quan trọng như là người khởi xướng, vạch kế
hoạch và tổ chức trong việc phát huy và sử dụng nhân tố con người. Nhà nước là
người vạch ra những định hướng, mục tiêu kinh tế lớn trong tứng thời kỳ, nhờ đó
huy động và khai thác được hết nguồn lực lớn, nhất là nhân lực để phát triển kinh
tế. Nhà nước tạo ra một xã hội có trật tự và luật pháp, hình thành được một hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp với từng thời kỳ. Bộ máy chính phủ của Nhật
Bản mặc dù gọn nhẹ nhất thế giới, nhưng là một bộ máy mạnh, hoạt động có hiệu
quả. Chính phủ Nhật Bản mạnh còn nhờ tập hợp được một đội ngũ công chức giỏi
và có trách nhiệm cao. Hầu hết họ đều tốt nghiệp từ trường đại học nên có năng lực
và rất được nể trọng.
Chính phủ Nhật Bản đã thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề con người đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội và biết tập trung mọi nguồn lực để đầu tư thích
đáng, có hiệu quả. Những kinh nghiệm của Nhật Bản trong lĩnh vực đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực đã để lại những bài học kinh nghiệm cho các nước, trong
đó có Việt Nam tham khảo và vận dụng.
1.2.2 Hàn Quốc
Hàn Quốc là một trong những nước có tỷ lệ ngân sách đầu tư cho giáo dục ở
mức cao hàng năm. Chính vì vậy, tỷ lệ học sinh đến trường của Hàn Quốc cũng rất
cao, bậc tiểu học 100%, trung học cơ sở 70% và trung học phổ thông là 60%.Như
vậy, có thể nói, trong suốt quá trình tiến hành công nghiệp hóa từ sau khi kết thúc
chiến tranh, đặc biệt là từ đầu thập kỷ 1960, Hàn Quốc đã rất chú trọng đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực đi đôi với các chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất
khẩu. Các viện nghiên cứu được chú trọng đầu tư những trang thiết bị và phương
tiện hiện đại, có chế độ trả lương ưu đãi để lôi cuốn các nhà khoa học và các kỹ sư
tài năng của Hàn Quốc ở nước ngoài trở về góp sức vào công cuộc xây dựng đất
nước. Nhờ có chính sách phát triển nguồn nhân lực đồng bộ với chính sách phát
16
triển công nghệ và các biện pháp đẩy nhanh sự phát triển của các nghành công
nghiệp mới, nên chỉ sau một thời gian ngắn, Hàn Quốc đã thành công trong việc
sản xuất và xuất khẩu nhiều mặt hàng có hàm lượng khoa học công nghệ cao.

Đầu tư cho giáo dục là dạng đầu tư có lợi nhất.
1.2.3.Ấn Độ
Chính phủ Ấn Độ nhận thấy một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu để
cải thiện mức sống dân cư vùng nông thôn và phát triển nguồn nhân lực là xúc tiến
công nghiệp nhỏ ở vùng nông thôn trong chương trình công nghiệp hóa với một
đất nước có hơn 900 triệu dân, trong đó 75%dân sống bằng nghề nông. Các loại
hình công nghiệp có quy mô như ở Bangalore, Mysore, Auragabad và phổ biến ở
vùng ngoại ô thành phố Hyderbad… đã nói lên sự thành công của Chính phủ Ấn
Độ trong việc phát triển doanh nghiệp nhỏ nông thôn thông qua hệ thống tài chính
tín dụng, các tổ chức nghiên cứu, các dự án phát triển, các chương trình đào tạo, hỗ
trợ tiếp thị, áp dụng công nghệ mới…
Chủ trương có tính chiến lược của Ấn độ trong phát triển nguồn nhân lực là
đào tạo lao động làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Mục tiêu là phổ cập
công nghệ thông tin cho mọi người vào năm 2008, đẩy nhanh tốc độ thâm nhập
của máy vi tính trong nước từ mức trung bình 1PC cho 500 người hiện nay (năm
1998) lên tới 1PC cho 50 người với khả năng truy nhập phổ biến Internet/Intranet
vào năm 2008, với các ứng dụng phong phú về mọi mặt của đời sống kinh tế và xã
hội của đất nước. Cùng với mục tiêu công nghệ thông tin cho mọi người vào năm
2008, Chính phủ Ấn Độ sẽ đưa ra các chính sách nhằm tạo cơ sở để phát triển
nhanh chóng ý thức công nghệ thông tin, nối mạng trong chính phủ, công nghệ
thông tin phục vụ phát triển kinh tế, xâm nhập các ứng dụng công nghệ thông tin
vào nông thôn, huấn luyện người dân sử dụng công nghệ thông tin như: ngân hàng
từ xa, khám bệnh từ xa, trung tâm thông tin từ xa, thương mại điện tử…Huấn
luyện các chuyên gia công nghệ thông tin đạt trình độ thế giới cả về chất và lượng.
TIỂU KẾT CHƯƠNG I:
Chương 1 đã tập trung đưa ra những phương hướng và một số biện pháp,
phương pháp về phát triển nguồn nhân lực. Thông qua cách đào tạo, quản lý và
18
phát triển nguồn nhân lực của một số nước tiêu biểu như Nhật Bản, Hàn Quốc…
Từ đó có những giải pháp và phương thức phát triển nguồn nhân lực phù hợp với

Công lập 243 275 305 322 326
Dân lập 34 47 64 71 77
Nguồn: Tổng cục thống kê
Bảng 2.2: Về cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp
Năm 2005 2006 2007 2008 2009
20
Số trường 284 269 275 282 282
Công lập 227 205 203 203 198
Dân lập 57 64 72 79 84
Nguồn: Tổng cục thống kê
• Về quy mô giáo dục
Quy mô giáo dục đại học - cao đẳng và giáo dục nghề nghiệp tăng trong các
năm vừa qua và tiếp tục tăng trong những năm sắp tới để đáp ứng nhu cầu nhân lực
ngày càng tăng của các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Nâng dần quy mô tuyển sinh mới hàng năm của cả mạng lưới để đạt mục tiêu
tuyển khoảng 420.000 sinh viên trong năm 2010; gần 600.000 sinh viên trong năm
2015 và 1.200.000 sinh viên trong năm 2020.
Tổng quy mô đào tạo đại học, cao đẳng của cả mạng lưới đạt khoảng 1,8
triệu người vào năm 2010: 3,0 triệu người vào năm 2015 và 4,5 triệu người vào
năm 2020.
Quy mô đào tạo của các trường đại học
Quy mô đào tạo của các trường đại học, cao đẳng được xác định trên cơ sở
bảo đảm các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng chất lượng như: số lượng, chất lượng
giảng viên, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, phòng học, phòng thí nghiệm, thực
hành, ký túc xá sinh viên, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
đào tạo, quản lý nhà trường , đồng thời được cân đối phù hợp với đặc điểm của
các trường, ngành nghề đào tạo, bậc đào tạo và năng lực quản lý để bảo đảm chất
lượng đào tạo ngày càng được nâng cao. Định hướng quy mô đào tạo (số lượng
sinh viên đã quy đổi theo hình thức đào tạo chính quy) của các nhóm trường đại
học, cao đẳng như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status