Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước - Pdf 24


UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
Đề tài: Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước
cho xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trên địa bàn
huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa
Họ và tên : Ngô Xuân Nhàn
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó Trưởng phòng
UBND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
Lớp: Chuyên viên chính Khóa 3 năm 2014
Thanh Hóa, tháng 4 năm 2014
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp, với gần 70% dân số sống ở nông thôn. Nông thôn
là địa bàn kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước. Công cuộc đổi mới làm cho “dân giàu,
nước mạnh” không thể tách rời việc mở mang phát triển khu vực nông thôn rộng lớn.
Nhìn chung đại bộ phận nông thôn nước ta còn trong tình trạng kém phát triển về
kinh tế- xã hội, cơ sở hạ tầng còn quá thiếu thốn và lạc hậu, điển hình là giao thông và
thông tin liên lạc. Giao thông và thông tin liên lạc là nhân tố quan trọng hàng đầu để mở
mang sản xuất, tiếp cận thị trường, tiếp thu khoa học kỹ thuật và mở mang dân trí. Thực
trạng nông thôn Việt Nam cũng giống như nông thôn của hầu hết các nước đang phát
triển, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kinh tế - xã hội chậm phát triển là
sự yếu kém về hệ thống cơ sở hạ tầng, trong đó đặc biệt phải kể đến là sự yếu kém của cơ
sở hạ tầng giao thông.
Trong quá trình hội nhập và phát triển của đất nước, Giao thông nông thôn (GTNT)
là một trong những Cơ sở hạ tầng quan trọng có tính chất quyết định đến quá trình phát
triển chung của đất nước nói chung và của Tỉnh Thanh nói riêng. Vì nó là cầu nối giữa
sản xuất với sản xuất, giữa sản xuất với tiêu dùng, trong sự lưu thông hàng hóa, giao lưu
giữa các vùng.

NSNN CHO XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GTNT.
1.1. Những vấn đề chung về cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
1.1.1. Khái niệm về cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn là một bộ phận của tổng thể cơ sở hạ tầng vật chất - kỹ
thuật nền kinh tế quốc dân. Đó là những hệ thống thiết bị và công trình vật chất - kỹ thuật
được tạo lập phân bố, phát triển trong các vùng nông thôn và trong các hệ thống sản xuất
nông nghiệp, tạo thành cơ sở, điều kiện chung cho phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực này
và trong lĩnh vực nông nghiệp.
Nội dung tổng quát của cơ sở hạ tầng nông thôn có thể bao gồm những hệ thống cấu
trúc, thiết bị và công trình chủ yếu sau:
+ Hệ thống và các công trình thuỷ lợi, thuỷ nông, phòng chống thiên tai, bảo vệ và
cải tạo đất đai, tài nguyên, môi trường trong nông nghiệp nông thôn như: đê điều, kè đập,
cầu cống và kênh mương thuỷ lợi, các trạm bơm…
+ Các hệ thống và công trình giao thông vận tải trong nông thôn: cầu cống, đường
xá, kho tầng bến bãi phục vụ trực tiếp cho việc vận chuyển hàng hoá, giao lưu đi lại của
dân cư.
+ Mạng lưới và thiết bị phân phối, cung cấp điện, mạng lưới thông tin liên lạc…
+ Những công trình xử lý, khai thác và cung cấp nước sạch sinh hoạt cho dân cư
nông thôn.
+ Mạng lưới và cơ sở thương nghiệp, dịch vụ cung ứng vât tư, nguyên vật liệu,…mà
chủ yếu là những công trình chợ búa và tụ điểm giao lưu buôn bán.
+ Cơ sở nghiên cứu khoa học, thực hiện và chuyển giao công nghệ kỹ thuật; trạm
trại sản xuất và cung ứng giao giống vật nuôi cây trồng.
Nội dung của cơ sở hạ tầng trong nông thôn cũng như sự phân bố, cấu trúc trình độ
phát triển của nó có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, quốc gia cũng như giữa các
địa phương, vùng lãnh thổ của đất nước. Tại các nước phát triển, cơ sở hạ tầng nông thôn

3
còn bao gồm cả các hệ thống, công trình cung cấp gas, khí đốt, xử lý và làm sạch nguồn
nước tưới tiêu nông nghiệp, cung cấp cho nông dân nghiệp vụ khuyến nông.

Hàng hoá và con người
Hoạt động
Giao thông nông thôn
Phương tiện
Cơ sở hạ tầng
toàn lãnh thổ, trong đó có những bộ phận có mức độ và phạm vi ảnh hưởng cao thấp khác
nhau tới sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nông thôn, của vùng và của làng, xã.
Tuy vậy, các bộ phận này có mối liên hệ gắn kết với nhau trong quá trình hoạt động, khai
thác và sử dụng.
Do vậy, việc quy hoạch tổng thể phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn,
phối hợp kết hợp giữa các bộ phận trong một hệ thống đồng bộ, sẽ giảm tối đa chi phí và
tăng tối đa công dụng của các cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn cả trong xây dựng cũng
như trong quá trình vận hành, sử dụng.
Tính chất đồng bộ, hợp lý trong việc phối, kết hợp các yếu tố hạ tầng giao thông
không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, mà còn có ý nghĩa về xã hội và nhân văn. Các công trình
giao thông thường là các công trình lớn, chiếm chỗ trong không gian. Tính hợp lý của các
công trình này đem lại sự thay đổi lớn trong cảnh quan và có tác động tích cực đến các
sinh hoạt của dân cư trong địa bàn.
- Thứ hai: Tính định hướng
Đặc trưng này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau của vị trí hệ thống giao
thông nông thôn: Đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, mở đường cho các hoạt động kinh
tế, xã hội phát triển…
Đặc điểm này đòi hỏi trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn phải chú
trọng những vấn đề chủ yếu:
- Cơ sở hạ tầng giao thông của toàn bộ nông thôn, của vùng hay của làng, xã cần
được hình thành và phát triển trước một bước và phù hợp với các hoạt động kinh tế, xã
hội. Dựa trên các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để quyết định việc xây dựng cơ sở
hạ tầng giao thông nông thôn. Đến lượt mình, sự phát triển cơ sở hạ tầng giao thông về
quy mô, chất lượng lại thể hiện định hướng phát triển kinh tế, xã hội và tạo tiền đề vật
chất cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.

1.2. Chi NSNN cho xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
1.2.1. Nội dung, đặc điểm của chi NSNN cho xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT
Chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm nhiều khoản chi với những mục đích khác
nhau, có tính chất và đặc điểm khác nhau. Để phục vụ cho công tác quản lý, người ta dựa
vào những tiêu thức nhất định để xác định nội dung chi đầu tư phát triển cụ thể của
NSNN.
Thứ nhất: Là một khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính ổn định. Chi đầu tư
phát triển từ NSNN là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội cho
mỗi quốc gia. Trước hết, chi Đầu tư phát triển của NSNN nhằm để tạo ra cơ sở vật chất,
kỹ thuật, năng lực sản xuất phục vụ và vật tư hàng hóa dự trữ cần thiết của nền kinh tế;
Đó chính là nền tảng bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đồng
thời, chi đầu tư phát triển của NSNN còn có ý nghĩa là vốn mồi để tạo ra môi trường đầu
tư thuận lợi nhằm thu hút các nguồn vốn trong nước và ngoài nước vào đầu tư phát triển
các hoạt động kinh tế - xã hội theo định hướng của Nhà nước theo từng thời kỳ. Quy mô
và tỷ trọng chi NSNN cho đầu tư phát triển trong từng thời kỳ phụ thuộc vào chủ trương,
đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và khả năng nguồn vốn NSNN.
Tuy vậy, cơ cấu chi đầu tư phát triển của NSNN lại không có tính ổn định giữa các
thời kỳ kinh tế - xã hội. Thứ tự và tỷ trọng ưu tiên chi đầu tư phát triển của NSNN cho
từng nội dung chi, cho từng lĩnh vực kinh tế xã hội thường có sự thay đổi giữa các thời
kỳ. Chẳng hạn, sau một thời kỳ ưu tiên tập trung đầu tư vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng
giao thông, thì thời kỳ sau sẽ không ưu tiên đầu tư nhiều vào lĩnh vực đó nữa vì hạ tầng
giao thông đã tương đối hoàn chỉnh.

6
Thứ hai: Phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển của NSNN luôn gắn liền với việc
thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Chi NSNN cho đầu tư phát triển là nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở nền
tảng trong việc thực hiện kế hoạch chi đầu tư phát triển từ NSNN. Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ có ý nghĩa quyết định đến mực độ và thứ

hàng hóa, dịch vụ công nói chung và trong việc hưởng thụ cơ sở hạ tầng GTNT nói riêng.

7
Để thực hiện vai trò trên, Nhà nước tổ chức xây dựng quy trình chi, chính sách, chế
độ và thực hiện kiểm soát chi, đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong việc cung cấp và sử
dụng các công trình cơ sở hạ tầng GTNT, đưa các công trình GTNT đến người dân để mở
mang sản xuất, tiếp cận thị trường, tiếp thu khoa học kỹ thuật và mở mang dân trí.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHO XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG GIAI ĐOẠN 2011-2013
2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Quảng Xương
2.1.1 Khái quát về huyện Quảng Xương
Quảng Xương là huyện đồng bằng ven biển có diện tích tự nhiên 227,65 km2 bằng
2,04% diện tích toàn tỉnh; dân số 233.766 người (dân số trung bình năm 2012) bằng 6,8%
tổng dân số toàn tỉnh. Mật độ dân số 1.026 người/ km2. Về tổ chức hành chính gồm 35 xã
và 1 thị trấn. Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 22.764,5 ha; Phía Nam giáp huyện
Tĩnh Gia, Nông Cống; phía Tây giáp huyện Đông Sơn; Phía Đông là Vịnh Bắc Bộ; Về
phía Bắc giáp thành phố Thanh Hoá, huyện Hoằng Hoá, Thị xã du lịch Sầm Sơn,
Kinh tế của huyện có sự phát triển khá ổn định, trong những năm vừa qua được
đánh giá là nhanh và cao hơn so với trung bình chung của tỉnh, giá trị gia tăng giai đoạn
2011 đến 2013 đạt trung bình khoảng 17%.
Tuy có lợi thế về địa lý, giao thông, song vẫn là huyện thuần nông; chủ yếu sống
bằng nghề nông; Xuất phát từ thực trạng đó những năm gần đây cấp ủy, chính quyền
huyện đã xác định hướng phát triển đó là: Phát triển du lịch, dịch vụ thương mại; Phát
triển chăn nuôi theo mô hình trang trại trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học; phát triển
kinh tế biển cả đánh bắt, nuôi trồng và chế biến; khôi phục nghề truyền thống và đưa các
nghề mới huyện có lợi thế cạnh tranh… Trên cơ sở xác định hướng phát triển huyện đã có
nhiều chính sách khuyến khích phát triển như: Hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông; hỗ
trợ đào tạo nghề; hỗ trợ kinh phí cho các dự án làng nghề; kinh phí đưa giống mới vào sản

bình
Xấu
2011 101,1 12,1 30,6 45,8 12,6 29,5 41,4 30,2
2012 130,7 65,2 30,6 27,7 7,2 78,3 40,5 11,9
2013 150,7 85,0 40,0 15,5 7,2 90,1 49,5 11,1
Nguồn: Theo thống kê báo cáo hàng năm của Phòng Công Thương.
Qua số liệu trên cho ta thấy km đường giao thông liên xã đã được xây dựng tăng lên
qua các năm. Năm 2011 huyện có 101,1 km đường giao thông liên xã, năm 2012 con số
này là 130,7 km thì đến năm 2013 trên địa bàn huyện đã có trên 150,7 km. Điều này thể
hiện trong những năm gần đây chính quyền địa phương đã chú trọng việc đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng GTNT.
Nguồn vốn thực hiện các tuyến GTNT liên xã
Cơ sở hạ tầng GTNT là một trong những điều kiện cơ sở cơ bản có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Phát triển giao thông nông thôn
không chỉ có tác dụng tích cực đến sự đi lại, vận chuyển hàng hoá và thông thương giữa
các vùng mà nó còn là cầu nối quan trọng trong quá trình thu hút đầu tư giữa các vùng
trong nước và các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
Theo thống kê số liệu về đường giao thông và chất lượng đường giao thông liên xã
như trên có thể nhận thấy trong những năm qua, Đảng và chính quyền địa phương đã có
nhiều chủ trương, chính sách nhằm xây dựng và phát triển nông nghiệp nông thôn, trong
đó GTNT là một vấn đề được lãnh đạo các cấp rất chú trọng quan tâm. Phát triển GTNT
trở thành yêu cầu bức thiết khách quan trong tiến trình phát triển nông nghiêp và nông
thôn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, những năm gần đây lĩnh vực đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng GTNT ở nước ta đã có nhiều bước tiến bộ.
Tuy nhiên do mang đặc tính của hàng hóa, dịch vụ công cộng là tính tiêu dùng
chung và không cạnh tranh trong tiêu dùng nên nguồn vốn chủ yếu để cung cấp cho xây
dựng cơ sở hạ tầng GTNT và đặc biệt là đường GTNT liên xã chủ yếu là từ nguồn ngân
sách Nhà nước. Nguồn vốn này được tăng lên hàng năm, điều đó được thể hiện qua.
Bảng 2.2: Tổng hợp chi NSNN trên địa bàn cho đầu tư XDCB


Vốn đầu tư từ Ngân sách 30.796 45.717 59.739 112.701
Vốn đầu tư Vận tải đường bộ 8.350 12.832 19.450 40.758
Tỷ lệ phần trăm vốn đầu tư cho
GTVT so với VĐT từ NS(%)
27,1% 28,1% 32,5%
36,2%
Nguồn: Số liệu quyết toán năm 2010,2011,2012 và báo cáo Kho bạc năm 2013
Trong những năm gần đây, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho giao thông
vận tải nói chung và cho giao thông nông thôn nói riêng tăng lên qua các năm, năm 2010
là 8.350 triệu đồng, năm 2011 tổng vốn đầu tư của Nhà nước là 12.832 triệu đồng, năm
2012 là 19.450 triệu đồng đến năm 2013 tổng vốn đầu tư của Nhà nước cho cơ sở hạ tầng
giao thông nông thôn đã là 40.758 triệu đồng. Tuy lượng vốn tăng song tỷ trọng vốn đầu
tư của Nhà nước cho GTNT so với vốn ngân sách Nhà nước có sự tăng giảm không đều
song điều đó thể hiện Nhà nước không chỉ tập trung đầu tư cho giao thông nông thôn mà
còn cá cơ sở hạ tầng nông thôn khác.
Bảng 2. 4: Cơ cấu vốn đầu tư từ Ngân sách
Đơn vị: Triệu đồng

10
Năm Dự toán Thực hiện
Trong đó
Tỷ lệ
(TH/DT)
NS Huyện NS Xã
2011 19.500 45.717 11.947 33.770 234%
2012 23.000 59.739 13.538 46.201 260%
2013 70.500 112.701 37.980 74.721 159%
Nguồn: Số liệu quyết toán năm
Nhận thấy cơ cấu vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn chủ
yếu là nguồn vốn ngân sách xã. 2011 vốn ngân sách xã chiếm 74%, nguồn vốn ngân sách


11
phát triển, tiến bộ xã hội giữa các vùng. Trong những năm gần đây, cùng với việc tập
trung nâng cấp một số trục giao thông quốc lộ chính, ngân sách Nhà nước đã hỗ trợ đầu tư
phát triển mạng lưới giao thông địa phương trong đó có xây dựng tuyến GTNT liên thôn.
* Nguồn vốn huy động từ trong dân
Huyện Quảng Xương có trên 70% dân số là làm nghề nông, nhìn chung khu vực
nông thôn còn nghèo, thu nhập nông dân làm ra chỉ đảm bảo cuộc sống hàng ngày, nên sự
mong muốn của nhân dân là rất lớn. Họ mong ước có một nền kinh tế khá hơn để họ có
được nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại tốt hơn. Điều đầu tiên họ mong muốn là có các con đường
giao thông thuận tiện hơn có thể đi lại, giao lưu buôn bán trong vùng và ra cả ngoài vùng
để góp phần giảm bớt sự khó khăn cũng như phát triển kinh tế.
Với một địa bàn nông thôn rộng lớn, trong khi yêu cầu xây dựng các công trình cơ
sở hạ tầng giao thông với khối lượng vốn lớn mà quá trình thu hút nguồn vốn vào xây
dựng CSHT giao thông nông thôn lại hạn hẹp. Nên những năm qua. Địa phương đã có
chủ trương huy động nguồn lực trong dân vào xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn,
trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn được đặc biệt khuyến khích. Địa
phương đã huy động được một số lượng ngày công lao động và tiền của nhân dân làm
đường ở huyện và ở xã.
2.3. Đánh giá chung về cơ chế sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
GTNT từ nguồn Ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện.
Nhìn lại chặng đường tồn tại và phát triển của Huyện Quảng Xương trong những
năm qua có thể đánh giá công tác quản lý đầu tư XDCB nói chung và xây dựng cơ sở hạ
tầng GTNT nói riêng về cơ bản tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, thực hiện phân
bổ vốn cho các dự án đã có thủ tục đầu tư trong danh mục các dự án thuộc kế hoạch hàng
năm. Việc phân bổ vốn đầu tư đã tập trung hơn vào các công trình trọng điểm, ưu tiên các
dự án hạ tầng nông thôn, các công trình thiết yếu phục vụ dân sinh.
Hàng năm, UBND các xã, thị trấn và các đơn vị trực thuộc huyện căn cứ vào quy
hoạch tổng thể phát triển của huyện, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm, các quy
hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để đề

- Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 16,3 triệu đồng năm 2009 lên 18,7 triệu
đồng năm 2013
Nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung gắn với công nghiệp chế biến
bước đầu được hình thành, sản phẩm nông nghiệp đa dạng hơn Nhờ đường giao thông
thuận tiện nên nông dân đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng.
Về quan hệ sản xuất trong nông nghiệp được đổi mới một bước quan trọng. Kinh tế
nông hộ được tiếp tục tăng cường và phát triển, đã xuất hiện những nhân tố mới như trang
trại hộ gia đình sản xuất kinh doanh đa dạng với bình quân diện tích trên 3-5ha/ hộ sử lao
động thường xuyên, thuê 3 triệu đồng ngày công lao động thời vụ hàng năm.
Đời sống của nhân dân đã được cải thiện, nông nghiệp đã đóng góp tích cực tạo việc
làm, tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn hiện nay
vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm hơn nữa:
+ Hệ thống đường nông thôn cốt yếu rất lớn, tổng cộng khoảng 550 km tương
đương với khoảng hơn 13 km đường trên một xã. Mạng lưới đường nông thôn tương đối
phát triển. Tuy nhiên, mạng lưới đường nông thôn không được bảo trì để đảm bảo tình
trạng tốt của tuyến đường. Gần 80% được đánh giá là ở trong tình trạng xấu sau 4 đến 5
năm sử dụng.

13
+ Rất nhiều tuyến đường huyện và đường xã xây dựng với tiêu chuẩn kỹ thuật thấp.
Một số vấn đề hết sức nghiêm trọng là cầu và cống rất thiếu hoặc năng lực thấp. Cầu tạm
còn tồn tại ở nhiều nơi, tạo nên những lỗ hổng vắt ngang đường trên những tuyến đường
nông thôn. Những vấn đề khác là thiếu công trình thoát nước dọc tuyến, đường quá hẹp
và các tuyến đường được xây dựng với cao độ quá thấp ở các vùng ngập lụt nên thường
xuyên bị ngập.
+ Một số xã có đường thôn xóm rất rộng lớn, ước tính tổng cộng khoảng 100 km.
Thực tế hầu hết các tuyến đường này là đường mòn, đường đất không cho phép các
phương tiện cơ giới thường xuyên qua lại được, chính là những “cơ sở hạ tầng giao thông

CHO XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GTNT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG GIAI ĐOẠN 2013 - 2015
3.1. Mục tiêu
Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam nói chung và nông nghiệp, nông thôn Huyện
Quảng Xương nói riêng trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà
nước đã đạt được những bước phát triển ổn định, khá toàn diện, cải tạo và nâng cao được
đời sống của người dân nông thôn. Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn thì nông thôn hiện nay còn nhiều khó khăn,
yếu kém. Đặc biệt là cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn, do đó phát triển cơ sở hạ tầng
là giải pháp quan trọng bậc nhất trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp
và nông thôn trên địa bàn huyện.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp
nông thôn nói riêng có một số chỉ tiêu cơ bản phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn năm
2015 cụ thể như sau:
- Thuỷ lợi: đảm bảo năng lực tưới tiêu cho lúa, hoa màu và cây công nghiệp.
- Giao thông: ưu tiên đầu tư cho các xã chưa có đường ô tô, 50% tuyến đường giao
thông nông thôn được rải nhựa.
- Giáo dục: 97% số người từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết.
- Y tế: 100% số xã có trạm y tế, nâng cấp 60% số trạm y tế hiện có.
Tuy nhiên không có những giải pháp mạnh mẽ và đồng bộ để giải quyết hai vấn đề
chủ yếu là vốn và cơ chế chính sách đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn thì sẽ khó đạt
được những mục tiêu đề ra.
3.2. Quan điểm phát triển cơ sở hạ tầng GTNT của huyện
Với chủ trương: Việc đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn được gắn chặt giữa
các nguồn lực theo phương châm: Nhà nước đầu tư hỗ trợ, cộng đồng xã hội tham gia đầu
tư, gắn chặt việc xây dựng với các chương trình khác.
Huyện Quảng Xương đã vạch rõ đường lối và quan điểm phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông nông thôn như sau:
- Quan điểm về chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng GTNT
- Quan điểm về tính hiệu quả trong đầu tư

dưỡng hệ thống giao thông tại địa phương
Mỗi huyện phải có một đội chuyên trách lo việc xây dựng, duy tu mạng lưới cơ sở
hạ tầng giao thông hoặc sử dụng các thành phần kinh tế theo chế độ hợp đồng giao khoán.
- Đối với Cấp xã
Xã là địa bàn thực hiện phần chủ chốt và trực tiếp hưởng thụ thành quả mà việc phát
triển cơ sở hạ tầng giao thông, không chỉ trong sản xuất nông nghiệp, giao lưu hàng hoá
mà còn cả lợi ích về mặt văn hoá- xã hội. Xã là cấp cân đối từ tất cả các nguồn tự có,
nguồn tài trợ từ cấp trên và của bên ngoài, cũng như sự đóng góp của công đồng dân cư
theo kế hoạch đã được Hội đồng nhân dân xã thông qua. Xã chịu sự quản lý, kiểm tra của
huyện về mặt kỹ thuật cũng như việc sử dụng các nguồn vốn do cấp trên hỗ trợ.
Mỗi xã cần có một ban trực tiếp phụ trách công tác giao thông để quản lý kế hoạch
và hướng dẫn thôn xóm quản lý đường xã trên địa bàn.
Đối với những người làm công tác bảo dưỡng giao thông cần có chế độ thù lao
tương xứng với công sức của họ bỏ ra, địa phương có thể trả bằng thóc hay bằng tiền.
Nên áp dụng hình thức khoán quản lý duy tu cho cá nhân hoặc nhóm người lao động
do xã chỉ đạo, dân đấu thầu. Huyện tổng kết kinh nghiệm, hướng dẫn xã tổ chức giao thầu
theo đúng quy chế do huyện đề ra.

16
3.3.3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng vốn đầu tư từ nguồn
NSNN cho xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT
Trong khâu lập kế hoạch và phân bổ vốn:
- Trước hết, khi triển khai bố trí vốn cho từng dự án đầu tư, UBND huyện phải tuân
thủ các nguyên tác bố trí kế hoạch theo quy định của cơ quan Nhà nước cấp trên
Tập trung bố trí vốn cho các mục tiêu theo quy định, trong đó ưu tiên bố trí vốn cho
các dự án đã quyết toán vốn đầu tư.
Phải ưu tiên bố trí kế hoạch để trả nợ khối lượng đã vượt kế hoạch năm trước.
Thanh toán vốn đầu tư
Để thực hiện tốt công tác thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho xây dựng cơ sở
hạ tầng GTNT trên địa bàn huyện Quảng Xương ngoài những giải pháp vĩ mô về phía nhà

chuyên môn đi kiểm tra thực tế nhằm tránh tình trạng chủ đầu tư xây dựng không đúng hồ
sơ thiết kế đã được thẩm định, đặc biệt với các công trình chống xuống cấp có vốn đầu tư
dưới 20 triệu đồng có thể xảy ra tình trạng chủ đầu tư làm hồ sơ khống.
- Thường xuyên đôn đốc các chủ đầu tư, ban quản lý dự án triển khai công tác báo
cáo vốn đầu tư theo đúng quy định.
3.3.4. Giải pháp chính sách phát triển cơ sở hạ tầng GTNT.
Giải pháp 1:. Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và kỹ thuật.
Một trong những nguyên nhân làm cho đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông hiệu quả
chưa cao đó là do đội ngũ cán bộ quản lý và kỹ thuật. Hầu hết các địa phương có cán bộ
quản lý vốn đầu tư phát triển kinh tế nông thôn nói chung va quản lý các dự án phát triển
cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn nói riêng là rất kém. Đội ngũ này không có kinh
nghiệm kiến thức chuyên môn, hay nếu có thì rất hạn chế, trình độ học vấn thấp nên gây
ra lãng phí, thất thoát lớn trong công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn
như tham ô tiền đầu tư xây dựng cơ bản, tăng tiền vật liệu hay mua vật tư kém chất lượng.
Với những thực trạng trên, trong những năm tới để quá trình đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông ở nông thôn hiệu quả cần phải có chính sách đào tạo và đào tạo lại đội
ngũ cán bộ quản lý:
+ Thực hiện tổ chức thường xuyên các lớp đào tạo ngắn hạn về trình độ quản lý kinh
tế, kỹ thuật cho các cán bộ cấp huyện, xã
+ Có chính sách đào tạo độ ngũ lãnh đạo kế cận bằng việc cử các cán bộ trẻ đi học,
bồi dưỡng kiến thức và thực thi khuyến khích con em địa phương học tập tại các trường
đại học, cao đẳng về phục vụ quê hương.
Giải pháp 2: áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông
nông thôn.
Giao thông nông nông thôn muốn phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng
trong phát triển các ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật luôn là vấn đề then chốt. Hiện
nay, việc nhanh chóng phổ cập tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và xây dựng nông
thôn, đặc biệt là xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là con đường có hiệu quả
đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu và hiện đại hoá kinh tế nông thôn.
Trong thực tế của nước ta hiện nay, các phương tiện thiết bị xây dựng rất lạc hậu do

dụng đất nông nghiệp để địa phương xây dựng và phát triển nông thôn. Với các công trình
lớn Nhà nước cần phải huy động vốn thông qua nhiều công cụ huy động khác nhau song
các công cụ này phải đảm bảo một cách hợp lý giữa thời hạn, phương thức thanh toán,
giao dịch, trao đổi về loại tiền huy động. Khai thác triệt để mọi nguồn thu của ngân sách
Nhà nước, cải tiến hệ thống thuế; đây là nguồn vốn cơ bản để đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng giao thông nông thôn.
Đối với vốn góp của dân chúng ta huy động cả đóng góp bằng tiền, bằng sức lao
động và đóng bằng hiện vật.
Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta cần khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng
nông thôn theo hình thức BOT, BT, BTO. Trong ba hình thức trên cần khuyến khích đầu
tư theo hình thức BT vì hình thức này đem lại lợi ích cho cả hai bên đối tác trong lĩnh vực
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn.
Đối với cơ chế hoàn vốn.
Trong thực tế những năm qua, vốn đầu tư của các doanh nghiệp, các nhân trong và
ngoài nước vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn là rất nhỏ bé. Mà nguyên
nhân chủ yếu là cơ chế hoàn vốn của Nhà nước với vấn đề này còn chưa rõ ràng, làm cho
các doanh nghiệp cá nhân không dám bỏ tiền đầu tư. Mục tiêu hoàn vốn là để tái đầu tư,

19
vì thế cơ chế vốn phải được tính toán phù hợp với điều kiện của từng vùng. Chúng ta phải
sác định mức phí sử dụng mà nguời hưởng lợi từ công trình phải trả sao cho thời gian thu
hồi không quá lâu, phí thu hồi được đầy đủ, hấp dẫn được các đầu tư mà lại phù hợp với
thu nhập của người sử dụng.
Để huy động một nguồn vốn quan trọng này vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
nông thôn đòi hỏi Nhà nước cần có chính sách đổi mới cơ chế hoàn vốn rõ ràng.
+ Nếu tư nhân và các doanh nghiệp bỏ tiền đầu tư xây dựng, bảo dưỡng các con
đường, cơ sở hạ tầng giao thông đường sông, cầu cống sẽ được quyền thu phí nguời dân,
các phương tiện qua lại, các đơn vị đóng trên địa bàn có sử dụng các công trình cơ sở hạ
tầng giao thông nông thôn này.
+ Khuyến khích các đầu tư nước ngoài đầu tư vào các hình thức BOT, BT, BOT vào

với phương châm “lấy công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, lấy thành thị lôi kéo nông thôn,
lấy doanh nghiệp hỗ trợ nông dân” và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, các
chương trình, dự án khác đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.
* Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn
Đường giao thông: Nhựa hóa hoặc bê tông hóa đường trục xã, liên xã đạt tiêu chuẩn
theo cấp kỹ thuật của Bộ giao thông vận tải; cứng hóa đường trục thôn, xóm đạt tiêu
chuẩn; Cứng hóa đường ngõ, xóm sạch không lầy lội vào mùa mưa; cứng hóa trục chính
nội đồng.
* Một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả đề án xây dựng mô hình nông
thôn mới
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các văn bản, chỉ thị, nghị quyết tạo
chuyển biến sâu sắc về nhận thức của cán bộ đảng viên và nhân dân trong huyện về chủ
trương xây dựng nông thôn mới để mọi người tự giác tham gia và vận động người khác
tham gia.
Tổ chức thực hiện điều tra, khảo sát thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn
từng xã để xây dựng phê duyệt đề án, các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đối với cấp
xã.
Tổ chức triển khai xây dựng, sớm hoàn thành các mô hình điểm để nhân rộng.
Thông qua xây dựng thí điểm để hiện thực hóa mô hình nông thôn mới trên thực tế ở các
xã trong huyện, rút kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện và làm cơ sở cho việc banh hành
cơ chế chính sách triển khai diện rộng.
Nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách mới khuyến khích đầu tư chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, phát triển các hoạt động văn hóa xã hội và xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội
trong nông thôn. Điển hình như:
- Nhóm cơ chế chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn gồm: Cơ chế
chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là
doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm,
doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động…; Thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ dịch vụ công:
cấp nước sạch, xây dựng quản lý chợ; thu gom rác, tưới tiêu ; cơ chế chính sach khuyến
khích đối với các xã đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới (diện rộng),…

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho xây
dựng cơ sở hạ tầng GTNT trên địa bàn huyện.
Quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT là một vấn đề phức tạp, liên quan đến
nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều vấn đề ở tầm vĩ mô và vi mô. Mặt khác do điều kiện thời
gian và khả năng tiếp cận còn hạn chế, nên mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình
nghiên cứu, không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự góp ý của các thầy cô để
tiểu luận hoàn thiện hơn. Xin cảm ơn!
2. Khuyến nghị
A- Đối với HĐND-UBND huyện Quảng Xương
- Nhất thiết phải lập đồ án qui hoạch chung xây dựng nông thôn mới cho từng xã,
trong quá trình lập qui hoạch phải khảo sát kỹ hiện trạng điều kiện tự nhiên và kinh tế xã
hội của từng xã, cần chú trọng vào các tuyến đường giao thông nội đồng.
- Nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn đầu tư xây dựng giao thông
nông thôn, bằng các hình thức sau:
+ Đối với các tuyến đường đầu tư bằng 100% vốn ngân sách nhà nước (Đường
huyện, đường xã, đường nội đồng) cần xác định các tuyến đường huyết mạch, phù hợp
với định hướng phát triển kinh tế trong từng thời kỳ để ưu tiên đầu tư, hạn chế việc đâu tư

22
dàn trải dẫn đến thiếu vốn hoặc vốn đâu tư không theo kịp tiến độ thi công dự án.
+ Đối với các tuyến đường huy động sự đóng góp của nhân dân địa phương
(đường thôn, xóm) huyện nên đầu tư nâng cấp các tuyến đường đất và đường cấp phối
chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật thành các tuyến đường cấp phối đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, để
tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của người dân, sau đó huy động dận tự đóng góp
hoàn thiện kết cấu mặt đường.
+ Tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức tự quản của người dân trong quá
trình sử dụng các tuyến đường.
B- Đối với UBND tỉnh Thanh Hóa
Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế ban hành chính sách khuyến khích phát triển kinh
phí giao thông nông thôn hàng năm, tăng kinh phí hỗ trợ cho các xã có xây dựng các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status