Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
BÙI THỊ HÒA
MÔ HÌNH HÓA TIẾN TRÌNH NGHIỆP VỤ CHO
HỆ THỐNG QUẢN LÝ SINH VIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH
Thái Nguyên, năm 2013
i
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Những kiến thức căn bản trong luận văn này là kết quả của quá trình tự
nghiên cứu trong quá trình công tác và hai năm học Thạc sỹ (2010 - 2012) tại
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Thái Nguyên. Dưới sự
giảng dạy, đào tạo và dìu dắt trực tiếp của các thầy cô trong trường và Viện
Công nghệ thông tin Việt Nam.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa Công
nghệ thông tin, Phòng Đào tạo, Phòng Công tác học sinh sinh viên, Phòng
Đào tạo sau đại học Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông
Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập tại
trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, lời cảm ơn sâu sắc nhất đối với
thầy giáo TS Đặng Đức Hạnh đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng cho tôi
giải quyết các vấn đề trong luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn đến các anh chị đồng nghiệp ở trường Đại học
Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh – Cơ sở phía Bắc, người thân, bạn bè và các
bạn đồng môn lớp cao học CK9D, đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình
làm luận văn tốt nghiệp.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 1 năm 2013
Học viên Bùi Thị Hòa
ii
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH NGHIỆP VỤ HỆ THỐNG
QUẢN LÝ SINH VIÊN 28
2.1. Giới thiệu tiến trình nghiệp vụ Quản lý sinh viên 28
2.1.1. Tiến trình nghiệp vụ Quản lý điểm 28
2.1.2. Tiến trình nghiệp vụ Quản lý kí túc xá 31
2.2. Phân tích yêu cầu nghiệp vụ 33
2.2.1. Các tác nhân: 33
2.2.2. Các Usercase nghiệp vụ 34
2.3 Công cụ xây dựng mô hình BPMN cho hệ thống quản lý sinh viên
45
CHƯƠNG 3:XÂY DỰNG MÔ HÌNH BPMN CHO HỆ THỐNG QUẢN
LÝ SINH VIÊN 46
3.1 Xây dựng mô hình BPMN cho hệ thống Quản lý sinh viên 46
3.1.1. Mô hình BPMN cho nghiệp vụ quản lý thông tin sinh viên 48
3.1.2. Mô hình BPMN cho nghiệp vụ quản lý lớp 49
3.1.3. Mô hình BPMN cho nghiệp vụ quản lý điểm 50
3.1.4. Mô hình BPMN cho nghiệp vụ quản lý tài sản 52
3.1.5. Mô hình BPMN cho nghiệp vụ quản lý phòng 53
3.1.6. Mô hình BPMN cho nghiệp vụ in ấn và thống kê. 54
3.2. Kết quả xây dựng mô hình với sự hỗ trợ của công cụ 54
3.3. Dựa vào mô hình xây dựng các chức năng của hệ thống 56
3.4. Những kết quả đạt được 62
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
iv
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BPMN : Business Process Modeling Notation
BPM : Business Process Management
ESB : Enterprise service bus
Hình 2.7: Mô hình UserCase quản lý tài sản 43
Hình 2.8: Mô hình UserCase quản lý tài sản 44
Hình 2.9: Công cụ Bizagi Process Modeler 45
Hình 3.1. Biểu đồ nghiệp vụ BPMN của nghiệp vụ quản lý sinh viên 46
Hình 3.2. Biểu đồ nghiệp vụ BPMN của nghiệp vụ quản lý thông tin sinh viên
48
Hình 3.3. Biểu đồ nghiệp vụ BPMN của nghiệp vụ quản lý lớp 49
Hình 3.4. Biểu đồ nghiệp vụ BPMN của nghiệp vụ quản lý điểm 50
Hình 3.5. Biểu đồ nghiệp vụ BPMN của nghiệp vụ quản lý tài sản 52
vii
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Hình 3.6. Biểu đồ nghiệp vụ BPMN của nghiệp vụ quản lý phòng 53
Hình 3.7. Biểu đồ nghiệp vụ BPMN của nghiệp vụ in ấn và thống kê 54
Hình 3.8. Chức năng cập nhật thông tin sinh viên 56
Hình 3.9. Chức năng cập nhật điểm lý thuyết 58
Hình 3.10. Chức năng cập nhật điểm thực hành 58
Hình 3.11. Chức năng tra cứu điểm môn học lý thuyết 60
Hình 3.12. Chức năng tra cứu điểm thực hành 60
Hình 3.13. Chức năng tra cứu điểm trung bình học kỳ 61
Hình 3.14. Chức năng tra cứu danh sách sinh viên học lại môn học lý thuyết
61
Hình 3.15. Chức năng in hồ sơ kiểm tra quá trình 62
Hình 3.16. Chức năng in phiếu báo điểm đánh giá học phần 62
1
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
LỜI MỞ ĐẦU
Khi nói về quy trình nghiệp vụ, chúng ta hiểu đó là tất cả các quy trình
bên trong một công ty hoặc tổ chức, dù lớn hay nhỏ đều phải tuân theo trên tất
cả các hoạt động. Mặt khác, chúng ta cũng nhận thấy nhiều tổ chức điều hành
các hoạt động của họ theo một cách rời rạc làm cho các quy trình trở nên
Chương 3: Xây dựng mô hình BPMN cho hệ thống quản lý sinh viên.
3
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
CHƯƠNG 1: QUẢN LÝ QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ VÀ
ĐẶC TẢ BPMN 2.0
1.1 Quy trình nghiệp vụ và quản lý quy trình nghiệp vụ.
1.1.1 Quy trình nghiệp vụ.
Khi nói về quy trình nghiệp vụ, chúng ta hiểu đó là tất cả các quy trình
bên trong một công ty hoặc một tổ chức, dù lớn hay nhỏ đều phải tuân theo tất
cả các hoạt động. Lãnh đạo của các tổ chức chính phủ, phi lợi nhuận, các
doanh nghiệp nhỏ và lớn, đáng đứng trước những câu hỏi khó khăn:
Làm thế nào tổ chức có thể cải thiện mức độ dịch vụ khách hàng và
nâng cao năng suất mà không cần các chi phí phát sinh?
Làm thế nào để có thể quản lý rủi ro và tuân thủ chúng mà không
mất đi lợi thế kinh doanh?
Làm thế nào để trao quyền cho mỗi nhân viên đối mới khám phá sản
phẩm mới, tìm kiếm thị trường mới, hoặc phát triển các cách hiệu
quả hơn để thoả mãn khách hàng?
Một nghiên cứu của Robert Half Management thực hiện năm 2007 với
1.400 lãnh đạo kinh doanh đã cho thấy việc cải tiến các quy trình kinh doanh
là ưu tiên hàng đầu mà họ cần thực hiện trong các năm tới (Hình 1.1)
Cải tiến quy trình nghiệp vụ
65%
Nâng cấp công nghệ
62%
Mở rộng sản phẩm dịch vụ mới
nghiệp tiêu chuẩn hóa và tối ưu hóa các quy trình hoạt động với mục đích
giảm chi phí, tăng chất lượng hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu cần thiết.
Về mặt công nghệ, BPM là một công cụ giúp tổ chức/doanh nghiệp thiết kế,
mô hình hóa, triển khai, giám sát, vận hành và cải tiến các quy trình kinh
doanh một cách linh hoạt.
Có thể coi BPM là công nghệ thúc đẩy hợp các giữa Công nghệ thông
tin và người dùng nhằm xây dựng các ứng dụng có khả năng tích hợp con
người, quy trình và thông tin trong tổ chức doanh nghiệp.
Một bộ ứng dụng BPM bao gồm các thành phần quan trọng dưới đây:
5
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Mô hình hóa các quy trình: Phác họa các quy trình dự kiến và cách
thức hoạt động của chúng. Chúng ta cần một công cụ mô hình hóa
quy trình để xác định quá trình kinh doanh. Nó có thể bao gồm các
cách nhìn khác nhau xuất phát từ phía người làm nghiệp vụ và
người làm công nghệ. Ở đó người sử dụng phi kỹ thuật (chẳng hạn
một nhà phân tích kinh doanh) có thể tạo ra một sơ đồ giống như
mô hình của quản lý nghiệp vụ và người sử dụng kỹ thuật có thể kết
nối mô hình với dịch vụ web và các điểm tích hợp khác. Một mô
hình chia sẻ duy nhất là cách tốt nhất để thông tin quan trọng không
bị mất khi bàn giao cho bên khác. Để hội đủ điều kiện như BPM,
mô hình phải có khả năng thực thi, hoặc có thể ép các hành động
lên thiết kế quy trình, chuyển tác vụ sang cho người dùng, gửi các
thông điệp cho hệ thống….
Một máy tính thực thi quy trình dựa trên mô hình server cài đặt tất
cả các quy trình và các tài nguyên của nó – con người, tổ chức, hệ
thống – quản lý trình tự, thực thi các quy tắc nghiệp vụ và kiểm soát
từng bước nhằm đảm bảo thực thi quy trình hoàn hảo, đóng gói, và
quản lý ngoại lệ.
Một không gian làm việc, thường dựa trên trình duyệt, ở đó con
Mỗi khách hàng có thể ưu tiên các chức năng trên một cách khác nhau, tùy
thuộc vào quy mô dự kiến của BPM mà họ triển khai, kỹ năng tổ chức và sử
thích, hoặc các loại công nghệ sử dụng.
1.1.3 Các chuẩn công nghệ của BPM
Để theo kịp với sự phát triển của các tiêu chuẩn công nghệ là một
nghiệp vụ không hề đơn giản. Các thị trường ở giai đoạn đầu, chẳng hạn như
7
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
thị trường BPM, thường thiếu sự tiêu chuẩn hóa hiệu lực cho đến khi chúng
trở nên hoàn thiện. Những chuyên gia tiêu chuẩn: họ có thể giúp làm giảm sự
mập mờ giữa các cách tiếp cận khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho tính khả
chuyển giữa các công cụ khác nhau và có khả năng giảm chi phí bên trong và
bên ngoài. Điều quan trọng là các nhà hoạch định chính sách hiểu được giá trị
và tương đối trưởng thành và các bên cam kết tuân theo các chuẩn BPM khi
xem xét chiến lược tổng thể BPM của họ. Các tiêu chuẩn BPM được tập trung
vào một trong hai mục đích: 1) các ký hiệu trực quan phổ biến. 2) trao đổi các
mô hình quy trình giữa các công cụ.
Ký hiệu trực quan phổ biến cho các biểu đồ quy trình:
Ký hiệu mô hình quy trình trực quan phổ biến thiết lập tiêu chuẩn để
làm thế nào để đọc và xây dựng các biểu đồ quy trình. Các mô hình cung cấp
một ngôn ngữ phổ biến để mọi người trao đổi về các quy trình qua các nhóm,
các đơn vị khác nhau, các công cụ khác nhau, và thậm trí các ngành công
nghiệp khác nau. Điều này giúp cho mọi việc học công cụ mới dễ hơn, mở
rộng thư viện các phân tích nghiệp vụ khả dụng, và tăng cường khả năng tái
sử dụng của các quy trình.
Ký hiệu mô hình hóa quy trình nghiệp vụ (BPMN – Business Process
Modeling Notation) phát triển bởi nhóm OMG (Object Management Group)
đang là một chuẩn quan trọng cho mục đích này, và đã ổn định trong hơn hai
năm qua. Hầu hết các đối tác đã cam kết hỗ trợ BPMN trở thành ngôn ngữ mô
hình hóa, nhưng chưa chuẩn hóa hoàn toàn các sản phẩm mà họ cung cấp.
tượng của BPMN và sẽ được tích hợp vào chuẩn BPMN trở thành
một định dạng trung gian mặc định.
Sự trao đổi các mô hình quy trình giữa các công cụ là một vấn đề thách
thức. Không có chuẩn nào nêu trên hỗ trợ đầy đủ, liền mạch sự trao đổi này.
9
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Cho tới khi các công nghệ BPM và các chuẩn gắn liền với nó trở nên hoàn
thiện trong tương lai, một số mức của công việc tích hợp tùy biến vẫn sẽ yêu
cầu phải chuyển các mô hình giữa các công cụ khác nhau.
1.1.4. Quá trình phát triển của BPM
Trong quá trình hình thành và phát triển, BPM đã trải qua nhiều dạng
thức với sự tiếp nối của nhiều công nghệ. Thập niên 80 chứng kiến sự phát
triển của các ứng dụng quản lý theo luồng công việc. Luồng công việc
(Workflow) là thuật ngữ được sử dụng để miêu tả các quy trình được gắn liền
với hệ thống, trong đó liệt kê danh sách các công việc cần hoàn thành, cả thủ
công lẫn tự động hóa và lên kế hoạch từ trước trong doanh nghiệp/ tổ chức.
Việc tích hợp các ứng dụng quản lý trong doanh nghiệp/ tổ chức với những
quy trình này đòi hỏi phải tùy chỉnh với chi phí tốn kém và khả năng linh hoạt
thấp. Trong thời gian đó, sự xuất hiện của các công nghệ tích hợp ứng dụng
doanh nghiệp (EAI – Enterprise Application – Intergration) đã cải thiện phần
nào sự giao tiếp giữa các hệ thống – giúp các dữ liệu tự động đồng bộ trên
toàn tổ chức; dữ liệu trong một hệ thống được kế thừa và sử dụng trong các hệ
thống khác mà không cần thiết phải nhập liệu lại.
Cuối những năm 90, thị trường các ứng dụng quản lý theo luồng công
việc và thị trường EAI bắt đầu hội tụ, ranh rới giữa các giải pháp này gần như
bị xóa nhòa với sự xuất hiện của các giải pháp kết hợp các tính năng bao trùm
cả hai lĩnh vực – đó là BPM. Quá trình này được mô tả trong hình 2 dưới đây:
10
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Tích hợp ứng
Quy
trình
làm
trung
tâm
11
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
con người và khả năng hỗ trợ các quy trình phức tạp. Con người tham gia
theo hai hướng:
Dưới góc độ nhân viên tác nghiệp: BPM thể hiện các đơn vị tham gia
trong quy trình dưới dạng các nhiệm vụ, mỗi nhiệm vụ có hướng dẫn
công việc chi tiết, tình trạng, mức độ ưu tiên, ngày hoàn thành và các
thuộc tính khác. Nhân viên tác nghiệp sử dụng BPM để giám sát và
thực hiện các nhiệm vụ được giao cho họ hoặc cho các nhóm làm
việc của họ.
Dưới góc độ người quản lý: Người quản lý sử dụng BPM để kiểm
soát quy trình thực hiện công việc thông qua các báo cáo đồ họa, cho
phép họ nắm bắt nhanh chóng tình trạng công việc và cảnh báo các
nút thắt cổ chai (điểm tắc nghẽn) nếu có. Họ cũng thường xuyên
tham gia vào các nhiệm vụ bằng cách tham gia vào quá trình phê
duyệt.
Các ứng dụng BPM phản ánh quy trình theo thời gian thực, cho phép
người quản lý không chỉ dễ dàng xác định các nút thắt cổ chai hay các hoạt
ở các doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, mỗi giao dịch thông thường diễn ra
trong thời gian ngắn. Có thể chỉ có một hệ thống thực hiện một giao dịch
riêng biệt, và khi chạy rất ít khi dừng lại. Khi việc xử lý diễn ra nhanh, hầu
hết các giao dịch dược xử lý theo cơ chế first-in, first-out. BPM được tối ưu
cho các quy trình tự động, không có tương tác với con người.
Workflow cũng đặt trong tâm vào việc quản lý quy trình, nhưng chúng
thường có các thành phần có độ thiếu chính xác và có độ trễ (ví dụ như chúng
được gắn với con người). Chúng ta có thể gửi công việc tới ai đó để phê duyệt,
nhưng cá nhấn đó có thể đang ngừng làm việc. Có thể có nhiều thành phần xử
13
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
lý (con người hay các hệ thống) có thể đảm nhiệm các mảng khác nhau của
công việc, và một thành phần xử lý có thể xử lý nhiều kiểu công việc khác
nhau. Tổng công việc cần được phân tán đều giữa các thành phần xử lý. Một
vài quá trình xử lý có thể mất một vài phút hoặc một vài giờ, vì thế công việc
quan trọng lớn có thể gán độ ưu tiên cao hơn – được giao phó trước. Trong
một số trường hợp cụ thể Workflow thường được sửa đổi khi một cá nhân tìm
kiếm các thông tin bổ xung. Chất lượng cần được kiểm tra – không chỉ là tính
chính xác trong các thao tác của hệ thống, mà có thể còn do những sai sót do
con người tạo ra. Hầu hết các sản phẩm Workflow có thể gọi các chương trình
một cách tự động (ví dụ như các engine BPM), nhưng được tối ưu hóa cho
nhiều thành phần xử lý và nhiều độ trễ trong quy trình. Nhưng nhiều sản
phẩm Workflow trên thị trường ngày nay không chú trọng vào các quy trình
vắt chéo qua nhiều doanh nghiệp ví dụ như các công cụ BPM.
1.2 Thiết kế quy trình nghiệp vụ với BPMN2.0
1.2.1 Khái niệm về BPMN 2.0
Nhóm OMG đã phát triển một chuẩn mô hình và ký hiệu quy trình
nghiệp vụ BPMN (Business Process Modell and Notation). Mục đích chính
của BPMN là cung cấp một tập ký hiệu dễ hiểu đối với tất cả người làm
nghiệp vụ, từ các nhà phân tích nghiệp vụ những người tạo ra bản nháp ban
hóa sử dụng các gateway. Một gateway tương tự như ký hiệu quyết định trong
flowchart.
Ngoài ra, một quy trình trong luồng có thể chứa các quy trình con,
chúng có thể được biểu diễn một cách hình tượng bởi biểu đồ quy trình
nghiệp vụ khác gắn kèm thông qua siêu liên kết tới một ký hiệu quy trình.
Nếu một quy trình không được chia nhỏ thành các quy trình con, nó được
15
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
xem như một tác vụ - một quy trình ở mức thấp. Một dấu „+‟ trong ký hiệu
quy trình có nghĩa là quy trình đã được chia nhỏ, nếu nó không có dấu „+‟, nó
là một tác vụ.
Hình 1.3: Biểu đồ BPMN cho một hệ thống mua hàng trực tuyến
Chúng ta có thể xác định „ai làm gì‟ bằng cách đặt các sự kiện và các
quy trình vào trong các vùng được gọi là pool cho biết ai đang thực hiện một
quy trình. Hơn nữa chúng ta có thể phân chia một pool vào các lane. Một pool
trong tổ chức đó (mặc dù chúng ta còn có thể dùng chúng để biểu diễn các thứ
khác như các chức năng, ứng dụng và hệ thống)
1.2.1.1 Kiến trúc lõi của BPMN.
Kiến trúc công nghệ của BPMN được dựa trên khái niệm các lớp mở
rộng trên một loạt các yếu tố cơ bản gồm các thành phần đơn giản được xác
định là thành phần lõi của đặc tả. Từ tập lõi của cấu trúc, lớp được sử dụng để
mô tả các thành phần bổ sung của đặc tả được mở rộng và thêm vào các đặc tả
và dựa trên các đường phụ thuộc rõ ràng giữa các lớp.
16
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Hình 1.4: Biểu diễn lõi và kiến trúc lớp của BPMN.
Hình trên cho thấy các nguyên tắc cơ bản của phân lớp có thể được gói
trong cách xác định rõ ràng. Cách tiếp cận sử dụng các kiến trúc chính thức