!!"#$%&'
Lời mở đầu
Việt Nam với đường bờ biển dài hơn 3200 km, vùng đặc quyền kinh tế biển rộng
hơn 1 triệu km
2
va 1,4 triệu hecta mặt nước nội địa. Vì vậy, nguồn cung thủy hải sản của
Việt Nam tương đối dồi dào và ổn định. Từ lâu, Việt Nam đã là quốc gia sản xuất và
xuất khẩu thủy sản lớn trong khu vực, và xuất khẩu thủy sản trở thành một lĩnh vực
quan trọng trong nền kinh tế.
Trong những năm gần đây, các sản phẩm thủy sản của Việt Nam ngày càng được
đa dạng hóa. Các sản phẩm như tôm cua, cá tra, cá ngừ, mực, bạch tuộc đã tạo được chỗ
đứng trên thị trường các nước và chiếm tỉ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản.
Nhờ việc mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản và cải thiện khả năng đánh bắt xa bờ đã
giúp sản lượng thủy hải sản Việt Nam không ngừng tăng lên.
Hiện nay, Viêt Nam đã có mặt trên 155 thị trường thế giới, trong đó ba thị trường
chính là EU, Mỹ, Nhật Bản. Trong tương lai không xa, ngành nuôi trồng thủy sản Việt
Nam sẽ không ngừng phát triển bền vững. Đây là nguồn cung lớn phục vụ cho việc xuất
khẩu thủy sản sang các thị trường lớn. Trong đó, Nhật Bản là một thị trường hứa hẹn
nhiều tiềm năng mà chúng ta cần khai thác.
Các sản phẩm thủy sản và sản phẩm chế biến từ thủy sản sẽ xuất khẩu vào thị
trường Nhật Bản sẽ tập trung chủ yếu vào các sản phẩm chính như tôm, cua, cá ngừ, bạch
tuộc.
I. Tình hình nhập khẩu thủy sản trên thế giới.
Giai đoạn năm 2008-2009 là thời kỳ khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu, tiêu
dùng giảm mạnh là nguyên nhân chính dẫn đến nhập khẩu giảm sút ở tất cả các quốc
gia.
Đóng góp vào kim ngạch nhập khẩu thủy sản thế giới chủ yếu là các nước có nền kinh tế
phát triển Mỹ, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, và so với mọi năm thì hầu hết các nước có
mức tăng trưởng âm. Cũng trong những năm này, ngành thủy sản có sự giảm sút mạnh
về nhu cầu tiêu dùng ở châu Âu.
nhập khẩu tăng từ 3,57 triệu tấn năm 2005 tới 4, 94 triệu tấn năm 2010, đạt tốc độ tăng
trưởng bình quân 7,35/năm.
Tổng lượng thủy sản 9 tháng đầu năm 2011 ước tính đạt 4,1 triệu tấn, tăng 3,9%
so với cùng kì năm ngoái. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng của khai thác nuôi trồng thủy
sản khá ổn đinh, sẽ là nguồn cung lâu dài và dồi dào cho các doanh nghiệp xuất khẩu
thủy sản trong nước.
1,
Sản lượng thủy sản nuôi phát triển nhanh, từ 1,48 triệu tấn năm 2005 lên đến 2,66
triệu tấn năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân về sản lượng 12,49%/năm.
Hình 2.1. Sản lượng thủy sản Việt Nam 2010-2011 (tính tới tháng 9/2011)
Nguồn : Agroviet.gov.vn
1!/
Nghề khai thác thủy sản Việt Nam đã có sự gia tăng mạnh cả về số lượng tàu
đánh bắt cũng như công suất tàu thuyền. Phương pháp và kĩ thuật dánh bắt ngày càng đa
dạng, cải tiến, sản lượng đánh bắt tăng lên qua các năm. Hệ thống bến cảng, bến cá
bước đầu hình thành, cải thiện một số cơ cơ sở vật chất, hậu cần dịch vụ cho nghề khai
thác và tiêu thị sản phẩm.
Sản lượng khai thác thủy sản trong giai đoạn những ăm gần đây tiếp tục tăng với
mức tương đối ổn định.
Hình 2.2. Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam
Nguồn: Agroviet.gov.vn
('('*++ !!"#$%&'
Năm 2011, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã cán đích 6,1 tỷ USD, tăng 21%
so với năm 2010. Đây là mức phát triển vượt bậc trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khó
khăn, cũng như ảnh hưởng của tác động từ biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh trong
nuôi trồng thủy sản.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Nhật Bản đang
là thị trường dẫn đầu cả về giá trị lẫn sản lượng nhập khẩu thủy sản của Việt Nam.
Hình 2.3. Xuất khẩu thủy sản của Việt nam 2009 - 2011
Nguồn: Agroviet.gov.vn
năm 2011 (GT)
So với cùng
kỳ 2011 (%)
Mỹ 97,205 111,381 -0,2 1.018,249 +6,7
EU 91,759 108,538 -16,5 955,572 -14,6
Nhật Bản 94,748 112,003 -6,9 907,799 +15,2
Cũng theo thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam
(VASEP), năm 2011, đa số các mặt hàng thủy sản xuất khẩu đều tăng trưởng so với
những năm trước. Trong đó tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Trong năm 2011,
thị phần xuất khẩu tôm sang Nhật có giảm sút nhưng giá tôm vẫn tăng ổn định thể hiện
nhu cầu thị trường vẫn tốt, đặc biệt trong những tháng cuối năm do nhu cầu của các lễ
hội. Nhật bản là thị trường lớn thứ 2 của tôm xuất khẩu Việt Nam. Đặc biệt, giá trị xuất
khẩu cá ngừ sang thị trường Nhật Bản trong 9 tháng đầu năm 2011 tăng 82,8% so với
năm 2010. Giá trị xuất khẩu cá ngừ tại thị trường Nhật Bản tăng mạnh.
Thị trường Nhật bản chiếm 23,2% giá trị xuất khẩu mặt hàng mực và bạch tuộc của
Việt Nam, đứng thứ 2 sau Hàn quốc xét theo thị trường đơn lẻ. Xuất khẩu mực và bạch
tuộc tăng trưởng 16,4% năm 2011 so với cùng kì năm trước. Cũng theo VASEP, Nhật
Bản đang dẫn đầu các thị trường nhập khẩu mực, bạch tuộc của Việt Nam với mức tăng
trưởng hàng tháng cao.
Nguồn: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Chỉ trong tháng 6/2012, với giá trị nhập khẩu tăng gần 60% so với cùng kỳ năm
ngoái, Nhật Bản đã vượt lên dẫn đầu trong số các bạn hàng lớn và gắn bó với của nhuyễn
thể chân đầu Việt Nam. Dự báo từ nay đến cuối năm, xuất khẩu mực, bạch tuộc sang Nhật
Bản tiếp tục tăng trưởng mạnh với giá xuất hấp dẫn, ổn định hơn so với các thị trường
nhập khẩu khác.
Do nhiều ảnh hưởng của thiên tai, mức độ nhập khẩu của Nhật đã có giảm sút
vào cuối năm 2011, nhưng dần ổn định và tăng trở lại khoảng đầu năm 2012. Có thể
thấy, với đà tăng trưởng như hiện tại, cùng với nguồn hàng dồi dào, chất lượng, xuất
khẩu thủy sản Việt Nam sẽ còn tiếp tục được đẩy mạnh và có chỗ đứng trên thị trường
thương mại của Nhật.
Các nhà cung cấp thủy sản hàng đầu cho Nhật Bản bao gồm: Trung Quốc, Thái
Lan, Hoa Kỳ, Nga, Chile, Việt nam xếp thứ 6 trong số các đối tác của Nhật Bản.
Ngoài ra còn có các nhà cung cấp như Indonexia, Nauy, Hàn Quốc, Đài Loan …
Như vậy, xuất khẩu thủy sản sang Nhật, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt
với nhiều đối thủ khá nặng ký.
Từ 2006 - 2010, Việt Nam luôn đứng đầu về cung cấp tôm đông lạnh cho thị trường
Nhật Bản và đây cũng là thị trường nhập khẩu lớn nhất tôm của Việt Nam. Hầu hết các
sản phẩm của ta đều đáp ứng được yêu cầu của thị trường Nhật, được người tiêu dùng ưa
chuộm. Tuy nhiên sản phẩn của ta đang vấp phải khó khăn tương đối lớn, đó là phải cạnh
tranh với các sản phẩm của các nước Ấn Độ, Indonexia… là những nước rất mạnh trong
khu vực về xuất khẩu thuỷ sản. Mặt khác, chất lượng sản phẩm của chúng ta chưa được
đánh giác cao, chủng loại chưa đa dạng, do đó vấn đề cạnh tranh với các nước trên là rất
khó khăn. Ngoài ra, cạnh tranh với một số nước nữa như là Nauy, Chilê, Trung Quốc.
Inđonesia sẽ là đối thủ mạnh nhất của Việt Nam tại thị trường này khi mà lượng xuất
khẩu của Inđônêsia liên tục tăng mạnh trong thời gian qua và sẽ tiếp tục tăng mạnh trong
thời gian tới. Bên cạnh Inđônêsia thì xuất khẩu của Ấn Độ tới Nhật Bản cũng sẽ tăng
mạnh do nước này đang gặp nhiều khó khăn từ các thị trường xuất khẩu khác như EU,
Nga và Mỹ.
III. Thị trường Nhật Bản
2')'/;,#$
2')')'>#"
Quan hệ đối tác chiến lược giữa 2 nước Việt Nam và Nhật Bản ngày càng phát triển
mạnh mẽ. Nhật Bản là một trong những đối tác quan trọng nhất của Việt Nam trên nhiều
lĩnh vực như chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục, đào tạo Đặc biệt, mối quan
hệ giữa hai nước sẽ càng được thắt chặt hơn nữa trong Năm hữu nghị Việt Nhật 2013,
cũng là dịp kỷ niệm 40 thiết lập quan hệ ngoại giao song phương.
Quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản trên tất cả các lĩnh vực chưa bao giờ tốt đẹp
như hiện nay. Đặc biệt, sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau giữa Chính phủ và nhân dân hai
nước đang tạo nền móng vững chắc cho mối quan hệ Việt Nhật.
với mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các tiêu chuẩn của của nước này hầu như
tương đương, thậm chí cao hơn cả những tiêu chuẩn quốc tế thông thường nhưng được áp
dụng phù hợp với nguyên tắc của WTO.
Việc nhập khẩu các mặt hàng hải sản và thực phẩm chế biến vào thị trường Nhật
Bản cần tuân theo các luật sau đây:
1) Luật thương mại quốc tế và trao đổi ngoại hối,
2) Luật về an toàn vệ sinh thực phẩm
3) Luật hải quan.
Luật thương mại quốc tế và trao đổi ngoại hối
Việc nhập khẩu hải sản vào thị trường Nhật Bản chịu những hạn chế nhất định, được
liệt kê dưới đây:
- Hạn ngạch nhập khẩu
- Phê duyệt nhập khẩu
- Xác nhận nhập khẩu (xác nhận trước/ xác nhận tại điểm làm thủ tục thông quan)
a) Hạn ngạch nhập khẩu
Việc nhập khẩu những mặt hàng hải sản dưới đây cần tuân thủ theo hạn ngạch nhập
khẩu theo quy định của Luật thương mại quốc tế và trao đổi ngoại hối. Nhà nhập khẩu các
loại hải sản này cần có giấy chứng nhận hạn ngạch nhập khẩu và phê duyệt nhập khẩu của
Bộ trưởng Bộ Thương mại. Các mặt hàng này bao gồm: cá trích (tiếng Nhật: nishin), cá
tuyết (tiếng Nhật: tara), cá đuôi vàng, cá thu, cá ngừ, horse mackerel, cá thu đao, sò điệp,
mắt sò điệp, mực (tươi sống, ướp lạnh, đông lạnh, phi lê hoặc khô)
Có bốn cách thức phân bổ hạn ngạch bao gồm phân bổ hạn ngạch dành cho các
công ty thương mại (cấp hạn ngạch dựa trên hoạt động trước đó), phân bổ hạn ngạch dành
cho các công ty kinh doanh hải sản, hạn ngạch tiêu dùng và phân bổ hạn ngạch trên cơ sở
hoạt động lần đầu. Các công ty nhập khẩu mới bắt đầu hoạt động, về lý thuyết, cần xin
phân bổ hạn ngạch hoạt động lần đầu (việc phân bổ hạn ngạch có thể được thực hiện theo
hình thức bốc thăm), nếu không họ có thể nhận được phân bổ hạn ngạch cấp lại từ các
công ty đã được cấp hạn ngạch.
b) Phê duyệt nhập khẩu
Để nhập khẩu các loại hải sản dưới đây, công ty nhập khẩu cần nhận được bản phê
loại và thành phần phụ gia, dư lượng thuốc trừ sâu, độc tố nấm Lệnh cấm nhập khẩu
thực phẩm có thể được áp dụng trong trường hợp một loại phụ gia, thuốc trừ sâu hoặc các
thành phần khác bị cấm lưu hành tại Nhật Bản, hoặc trong trường hợp mức độ quá mức
độ cho phép hoặc khi độc tố nấm vượt quá mức độ cho phép. Theo đó, hải sản và các loại
thực phẩm chế biến sẽ được kiểm tra tại điểm sản xuất trước khi nhập khẩu. Nếu mức độ
vượt quá tiêu chuẩn của Nhật Bản, sẽ có các hướng dẫn cụ thể.
Các tiêu chuẩn về dư lượng thuốc trừ sâu được thực hiện thông qua hệ thống phủ
nhận tới năm 2006. Theo đó, các loại thuốc trừ sâu sẽ không chịu sự kiểm soát nếu không
có quy định gì dành cho chất đó. Tuy nhiên, luật sửa đổi đã áp dụng hệ thống xác thực, do
đó, hiện nay việc phân phối các sản phẩm trên lý thuyết bị cấm nếu sản phẩm đó có chứa
một chất cụ thể nào đó, thậm chí ngay cả khi không có luật quy định. Hệ thống danh sách
xác thực được áp dụng với tất cả các mặt hàng thực phẩm, bao gồm cả thủy sản nuôi hoặc
thủy sản tự nhiên.
Từ năm 2011, các mặt hàng hải sản chịu kiểm dịch bắt buộc theo quy định của Bộ Y
tế (kiểm dịch tất cả các lô hàng theo quy định của Bộ Y tế nhằm đảm bảo không có các
mặt hàng thực phẩm có khả năng cao vi phạm Luật an toàn vệ sinh thực phẩm). Các mặt
hàng thực phẩm chịu kiểm dịch bắt buộc, không tính theo nước xuất xứ, bao gồm trứng cá
hồi và cá nóc. Thêm vào đó, các loại tôm nuôi tại Thái Lan (kiểm tra oxolinic acid) và
tôm được sản xuất tại Việt Nam (kiểm tra chloramphenicol, nitrofurans ) cũng chịu quy
định kiểm dịch bắt buộc.
Mức giới hạn trên được áp dụng đối với kiểm dịch ở trên là 0,002 ppm đối với
fenitrothion and 0,01 ppm đối với oxolinic acid, acetochlor và triazophos. Các chất
nitrofurans và chloramphenicol không được phép có trong thực phẩm.
f, Luật hải quan
Theo Luật hải quan, việc nhập khẩu hàng hoá có nhãn mác giả mạo xuất xứ thành
phần thực phẩm bị cấm hoàn toàn. Nhà nhập khẩu cần tự khai báo nhập khẩu hoặc uỷ
quyền cho các công ty có thẩm quyền như các công ty chuyên làm các thủ tục hải quan
(bao gồm cả các trung gian chuyên thực hiện các dịch vụ thông quan) thực hiện.
Để hàng hoá từ một nước khác được phép nhập khẩu vào Nhật Bản, cần khai báo
hàng nhập khẩu với cơ quan hải quan tương ứng tại kho ngoại quan nơi hàng hoá được
2')'2'
Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển. Thu nhập bình quân đầu
người cao, cuộc sống của người dân khá ổn định. Tuy nhiên, những năm gần đây kinh tế
Nhật Bản có phần chững lại. Người tiêu dùng cũng như doanh nghiệp Nhật Bản đang thắt
chặt hầu bao trước triển vọng ảm đạm của nền kinh tế ảnh hưởng lớn tới lượng hàng hóa
tiêu thụ ở thị trường này.
Bộ trưởng Kinh tế Nhật Bản cũng không phủ nhận khả năng Nhật Bản rơi vào suy
thoái kinh tế. Theo các nhà phân tích, có rất nhiều nguyên do khiến kinh tế Nhật Bản gặp
khó khăn, từ việc tỷ giá cao của đồng yen Nhật Bản, cho đến tình trạng sản phẩm Nhật
Bản bị tẩy chay tại Trung Quốc vì tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Senkaku/Điếu
Ngư.
Tình hình căng thẳng tranh chấp biển đông giữa các nước Đông Bắc  gồm : Nhật
Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc về tranh chấp biển đông ảnh hưởng mạnh mẽ tới kinh tế của
Nhật Bản. Cụ thể, Lượng hàng xuất khẩu của Nhật sang Trung Quốc, đặc biệt là mặt hàng
ôtô, đã sụt giảm nghiêm trọng Ngoài ra, Khủng hoảng nợ khối đồng Euro cũng khiến
xuất khẩu Nhật sang châu Âu bị ảnh hưởng đáng kể.Hơn thế nữa, giá đồng Yên tăng cao
khiến hàng hóa Nhật càng trở nên đắt đỏ ở thị trường nước ngoài. Các công ty điện tử
Nhật như Sony và Panasonic lỗ nặng do không cạnh tranh được với Samsung, Apple.
Điều đáng lo ngại lớn hơn là sự suy thoái kinh tế tại Nhật Bản có thể sẽ đẩy hàng
loạt quốc gia tại khu vực châu Á lâm vào cảnh khó khăn, do phụ thuộc vào thương mại và
đầu tư từ Nhật.
2')'='.3!
Dân cư và thói quen tiêu dùng của người Nhật
Nhật Bản là một quốc đảo nên thủy sản cùng với các sản phẩm thủy sản chế biến
từ lâu là một phần không thể thiếu trong lối sống của người Nhật Bản. tuy nhiên, do tác
động của tỷ lệ sinh giảm và dân số già đi, tiêu dùng nội địa cũng như nhập khẩu thủy sản
của Nhật có xu hướng giảm dần về sau.
Theo kết quả khảo sát của Bộ Ngoại thương và truyền thông Nhật Bản về thu nhập
và mức chi tiêu gia đình, sức mua hàng năm đối với hàng thúy sản đã giảm và tỷ trọng
hàng thủy dản trong tổng chi phí cho thực phẩm đã giảm từ 9,5% năm 2006 xuống 8,655
11. Sau khi đàm phán hay thống nhất vấn đề gì đó dù là không quan trọng lắm cũng cần
phải làm bản tóm tắt nội dung đã thống nhất gửi lại cho đối tác.
12. Chú ý tặng quà khách vào một số dịp lễ của Nhật
13. Gửi thiếp chúc mừng nhân dịp ngày thành lập công ty
14. Hàng hóa, cho dù bất kỳ loại gì cũng phải có hình thức đẹp, sạch sẽ.
2'('*++%7.?@!%&
2'(')'*++%70"#$%&
Nhật Bản là nước nhập khẩu thủy sản lớn hàng đầu thế giới. Tiêu thụ thủy sản
của Nhật Bản có xu hướng giảm trong những năm giai đoạn 2008 - 2010. Tuy nhiên, do
ngành sản xuất thủy sản của Nhật Bản bị ảnh hưởng của thảm họa động đất và sóng
thần đầu năm 2011 và đặc biệt mối lo ngại hiện tượng nhiễm phóng xạ từ nhà máy điện
hạt nhât Fukushima đối với các loại thủy sản đánh bắt tại Nhật Bản nên trong thời gian
sau này Nhật Bản có nhu cầu tăng nguồn cung từ nước ngoài.
Do ảnh hưởng của thiên tai, động đất, sóng thần, nhiều nhà hàng và doanh nghiệp
nằm trong khu vực tàn phá nặng nề. Nhập khẩu thủy sản ở Nhật đang tẳng trưởng và dự
đoán sẽ còn tăng nhiều, tạo cơ hội cho các nhà cung cấp nước ngoài. Đây là một thị
trường tiềm năng mà Việt Nam nên chú trọng xuất khẩu.
Nhật Bản nhập khẩu ròng với các sản phẩm nhập khẩu đều chiếm vị trí thứ 1, 2
trên thế giới như: các loại cá đông lạnh, động vật thân mềm, động vật giáp xác và các
sản phẩm chế biến từ động vật giáp xác, Filê cá, cá chế biến và trứng cá…
Hiện nay, một số mặt hàng truyền thống của người Nhật được tiêu thụ mạnh và phải
dựa nhiều vào nguồn nhập khẩu vì cung cấp trong nước không đủ đáp ứng cho nhu cầu
ngày càng cao như sản phẩm từ cá ngừ, cá chình, cá song hay tôm, mực, bạch tuộc.
2'('('/A!B.?@4%
Các mặt hàng được tiêu thụ nhiều nhất lần lượt là cá ngừ, tôm, mực ống, cá tráp và
cá hồi.
!'*,
Trong các mặt hàng thủy sản, hiện tôm và mực đang là những mặt hàng có tốc độ
tăng trưởng cao và được người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng. Năm 2010, kim ngạch
xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Nhật Bản đạt trên 581 triệu đô la Mỹ, tăng 27,6% so
23,3%/năm so với năm 2009. Hiện Việt Nam đang chiếm khoảng 8% thị phần và đứng
thứ 6 trong số các nước xuất khẩu mực vào Nhật Bản.
Ngoài ra, do giá rẻ, nhu cầu tiêu dùng cá basa ở Nhật Bản cũng đang tăng lên do số
người tiêu thụ món ăn được chế biến từ cá basa như tẩm bột rán có xu hướng tăng.
Trong đó các loại sản phẩm được tiêu thụ mạnh hơn cả là các sản phẩm cá chế biến
và cá tươi, các sản phẩm đông lạnh có mức tiêu thụ thấp hơn.
3.3. Giá cả và các kênh phân phối hàng thủy sản ở Nhật Bản.
2'2')I9/
Giá cả và nhu cầu thủy sản toàn cầu đang tăng.
Nhu cầu đối với sản phẩm cá và thủy sản đã tăng ở các nước phương Tây và Trung
Quốc khi người tiêu dùng tìm kiếm các sản phẩm thực phẩm có lợi cho sức khỏe. Cùng
với trữ lượng cá trên toàn cầu đang suy giảm, đã làm tăng nhu cầu dẫn đến giá cả toàn cầu
tăng lên. Do sự gia tăng trong cạnh tranh, vị trí thống lĩnh trong ngành cá và thủy sản của
Nhật Bản đang bị thu nhỏ lại. Theo một quan chức công ty thủy sản Nippon Suisan
Kaisha của Nhật Bản :"Thời kì thuận lợi đã chấm dứt khi thị trường thủy sản ở Nhật Bản
là thị trường của người mua". Để cạnh tranh, các doanh nghiệp phải cố gắng giảm chi phí
ở mức thấp nhất để hạ giá thành sản phẩm.
Các công ty Nhật Bản đang gặp nhiều khó khăn trong việc đảm bảo các nguồn
cung các sản phẩm thủy sản và cá nhập khẩu. Người tiêu dùng và người mua ở Nhật Bản
khá ý thức với giá và với giá cả ngày càng tăng, những yếu tố này đang thay đổi tiêu dùng
đối với sản phẩm thủy sản và cá ở Nhật Bản. Ví dụ, ở Nhật Bản mức tiêu thụ surimi (thịt
cá xay nhuyễn) đã giảm xuống còn 52% trong tổng tiêu thụ toàn cầu so với mức 65% của
năm năm trước đây, do sự phổ biến của surimi ở các nước phương Tây
Nhiều nhà hàng và các nhà bán lẻ cá đang đối phó với giá tăng bằng cách sửa đổi
thực đơn của họ hoặc bán cá trong khẩu phần nhỏ hơn. Ví dụ, thanh sushi Mutenkura ở
Itami, tỉnh Hyogo, đã tăng cung cấp các món ăn sushi của họ chiếm 30% trong thực đơn,
do đó làm giảm tác động của giá cá tăng.
Theo bảng thống kê giá bán lẻ mới nhất của bộ Nông, Lâm, Thủy sản Nhật Bản
tháng 12/2011:
Đối với mặt hàng thủy sản chủ lực của Nhật Bản như cá ngừ bán tại trung tâm
Tuy nhiên, do có rất nhiều loại thủy sản khác nhau về chủng loại và kích cỡ, nên
trước tiên hàng thủy sản thường được phân theo chủng loại kích cỡ tại thị trường địa
phương, sau đó vận chuyển đến thị trường bán buôn trung tâm như thị trường bán buôn
trung tâm thành phố Tokyo, thị trường bán buôn trung tâm Nagoya, và thị trường bán
buôn trung tâm thành phố Osaka. Tại các thị trường bán buôn trung tâm, thủy sản được
các đại lý bán buôn và các đại lý bán buôn trung gian mua đấu giá, sau đó được chuyển
đến các cửa hàng bán lẻ và các nhà hàng. Ngày càng có nhiều lượng khách hàng lớn cũng
như các chuỗi dịch vụ thực phẩm và các công ty chế biến thực phẩm mua một trực tiếp
một khối lượng thủy sản đáng kể từ nhà sản xuất hoặc mua phần thủy sản còn lại trên thị
trường để đảm bảo nguồn cung ổn định cho thị trường và cắt giảm chi phí.
*F
Đối với thủy sản chế biến nhập khẩu, hàng thường được giao tới các nhà máy sản
xuất chế biến thực phẩm, cửa hàng bán lẻ và chuỗi dịch vụ thực phẩm, và các đại lý bán
buôn hàng công nghiệp thực phẩm ở Nhật Bản thông qua các nhà nhập khẩu cũng như các
công ty nhập khẩu.
Đối với thực phẩm đông lạnh, có những trường hợp sản phẩm đã được chế biến và
đóng gói trước khi nhập vào Nhật Bản. Gần đây, ngày càng nhiều số lượng các sản phẩm
thủy sản chế biến như ướp muối, sấy khô được các nhà sản xuất phân phối trực tiếp cho
những người tiêu dùng.
<+2'('/?7J7;A;.9.7F4
%&