Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 2
B. PHẦN NỘI DUNG 3
Chương 1 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Khái quát triết học cổ điển Đức 3
1.2. Quan điểm chung về đạo đức và tôn giáo 6
Chương 2: 9
QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO
TRONG TRIẾT HỌC CỦA LUDWIG FEUERBACH 9
2.1 Quan điểm của Ludwig Feuerbach về đạo đức 9
2.2 Quan điểm tôn giáo 13
2.3 Thành tựu và hạn chế trong Triết học Feuerbach 16
2.4 Đóng góp vào cuộc sống 20
Theo Feuerbach, con người vừa mang bản tính cá nhân vừa mang bản tính cộng đồng,
quan hệ giữa người và người chỉ có một đó là tình yêu. Ông coi tình yêu là bản tính vốn
có của con người, là cái thiêng liêng nhất, đáng được tôn trọng, đáng được tôn thờ như
một niềm tin tôn giáo. Quan niệm của ông đã mang lại cho nhân loại một cái nhìn mới
mẻ về chính bản thân mình, khi cho rằng, con người cũng như xã hội loài người là một
thực thể, một bộ phận của thế giới tự nhiên, là kết quả phát triển lâu dài của giới tự
nhiên đem lại.(8) 20
Chương 3: 21
Tài liệu tham khảo 23
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 1 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học là là sản phẩm tinh thần của hiện thực và thời đại, là nền tảng
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái quát triết học cổ điển Đức
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời
Vào cuối thế 18 đầu thế kỷ 19, Tây Âu đã đạt được những thành tựu Kinh
tế – xã hội mới, Chủ nghĩa tư bản được thiết lập ở một số nước như Italia, Anh,
Pháp. Sự thiết lập đó đã đem lại một nền sản xuất ưu việt, và tân tiến chưa từng
có trong lịch sử so với tất cả các chế độ trước đó. Trong khi các nước Tây Âu đạt
được những thành tựu to lớn như vậy nhưng nước Đức cho đến đầu thế kỷ 19 vẫn
là một quốc gia phong kiến lạc hậu. Sở dĩ nước Đức còn ở trình độ rất lạc hậu vì
hai lý do:
Thứ nhất, về địa lý, nước Đức đứng ngoài những đường thương mại quốc
tế lớn, chủ yếu bấy giờ đang phát triển ở bờ biển Đại Tây Dương (Tư bản phát
triển ở Anh, Hà Lan, Pháp), ngoại thương không có điều kiện phát triển nên nền
kinh tế Đức lúc bấy giờ vẫn lạc hậu và kém phát triển.
Thứ hai, trong giai đoạn này nền kinh tế và chính trị của Đức lạc hậu và
rơi vào khủng hoảng. Các lực lượng tiến bộ ở Đức đã bị đàn áp và tiêu hủy phần
lớn, các giai cấp nông dân, tiểu tư sản và tư sản bị chế độ hoàng thân lần lượt đàn
áp. Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng. Chế
độ phong kiến thối nát vẫn được tích cực duy trì làm cản trở đất nước phát triển
theo con đường tư bản chủ nghĩa. Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực
chất, đất nước cũng phân chia thành nhiều tiểu vương quốc nhỏ tách biệt nhau.
(1)
Trong bối cảnh đó, Nước Đức cần phải có cách nhìn mới về hiện tượng tự
nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cần có quan niệm mới về khả năng và hoạt
động của con người. Với nhu cầu đó, triết học cổ điển Đức ra đời. Với sứ mạng
lịch sử đó, Triết học cổ điển Đức thời kỳ này đạt được sự phát triển chưa từng có
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 3 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Dù thế nào đi nữa thì Hegel vẫn là người có công lớn trong việc phát triển
triết học thế giới vì ông là người đầu tiên sử dụng phép biện chứng một cách có
hệ thống, chính nhờ vào phép biện chứng của Hegel mà Marx đã có những thành
công rực rỡ trong việc phát triển lý luận Chủ Nghĩa Xã Hội khoa học, là hạt nhân
của Chủ Nghĩa Marx-Lenin ngày nay.
1.1.2.3. Johann Gottlieb Fichte
Johann Gottlieb Fichte (19/5/1762 – 27/1/1814) là một nhà triết học
Đức. Ông là một trong những nhân vật sáng lập phong trào triết học được gọi là
chủ nghĩa duy tâm Đức, một phong trào đã phát triển từ các tác phẩm lý luận và
đạo đức của Immanuel Kant. Fichte thường bị coi như là một con số mà triết lý
hình thành một cầu nối giữa các ý tưởng của Kant và chủ nghĩa duy tâm của
Hegel. Fichte cũng đã viết triết học chính trị và được xem là một trong những cha
đẻ của chủ nghĩa dân tộc Đức.
1.1.2.4. Ludwig von Andreas Feuerbach
Ludwig von Andreas Feuerbach (28/7/1804 - 13/9/1872) là một nhà
triết học Đức và nhà nhân chủng học. Ông là con trai thứ tư của luật gia nổi
tiếng Paul Ritter von Johann Anselm Feuerbach, anh trai của nhà toán học Karl
Wilhelm Feuerbach, và chú của họa sĩ Anselm Feuerbach.
Ông là đại diện cuối cùng, là sự kết thúc vẻ vang của Triết học cổ điển
Đức. Ông là nhà cải cách triệt để, nhà duy vật và vô thần. Feuerbach bắt đầu sự
nghiệp của mình với tư cách là một nhà duy tâm, là môn đệ và là học trò của
Hegel. Ông thuộc nhóm Hegel trẻ. Tư tưởng cải cách triết học của ông nhen
nhóm từ 1828 và được hình thành từ năm 1829, khi ông vừa hoàn thành Luận án
Tiến sĩ và bắt đầu giảng môn logic học và siêu hình học tại Erlangen. Triết học
Feuerbach là sản phẩm tất yếu của những điều kiện mới, hình thành vào cuối
những năm 30 - đầu những năm 40. Đó là thời kỳ nhen nhóm tình thế cách mạng
ở nhiều nơi trên nước Đức, thời kỳ gia tăng các cuộc đấu tranh tư tưởng giữa giai
thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu
hình và vô hình.
Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu
tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất
mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 6 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một
cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng
vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống
trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.
Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình,
mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại
một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên
kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử,
hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo,
được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng
cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
1.2.3. Sơ lược các quan điểm về đạo đức và tôn giáo
1.2.3.1 Quan niệm về đạo đức
+ Nho gia: những phạm trù đạo đức thể hiện các nguyên tắc cơ bản của
đạo đức Nho gia – đạo đức hướng đến xây dựng mẫu người quân tử, và muốn trở
thành người quân tử cần phải tu thân.
(3)
+ Đạo gia: đạo đức thực hiện theo quan điểm vô vi, khuyên con người
trong cuộc sống phải thực hiện sáu điều: a) Tri túc (biết đủ thì dừng lại), b)
Không cạnh tranh, không bạo động, lấy thiện thắng ác, lấy nhu thắng cương, c)
Công thành thân thoái, d) Sống vô tư, hồn nhiên, đ) Lấy đức báo oán, e) Tu luyện
tính khoa học và tôn giáo không thể kết hợp được với nhau. Vì lý tính khoa học
mang lại cho con người hiểu biết đúng đắn về thế giới còn tôn giáo chỉ mang lại
cho người những ảo tưởng.
+ Paul Henri Ditrich Holbach: Tôn giáo được bịa đặt để đặt các vua
chúa lên trên các dân tộc, và đặt các dân tộc nhận thấy cuộc sống vô cùng khổ
cực của mình trên trái đất này và tìm cách thay đổi nó thì người ta lấy Thượng
để để đe dọa họ, hòng buộc họ khuất phục, chấp nhận.
+ Wihelm Joep Schelling: ông coi giới tự nhiên là sản phẩm sáng tạo của
Thượng đế. Bằng trực giác nghệ thuật, con người chỉ có thể nhận biết một cách
mơ hồ về Thượng đế - cái tuyệt đối. Khi không tin tưởng vào trí tuệ lý trí mà
cũng không hài lòng với trực giác ngoại (phi) lý, Senlinh đặt niềm tin vào ý chí.
Sự đề cao ý chí này của ông đã được Soopenhauơ phát triển.
+ Hegel: Tôn giáo là phương thức mà ý niệm tuyệt đối sử dụng để tự
khám phá ra chính mình, để rũ bỏ mọi dấu vết vật chất bám vào mình nơi trần
gian mà quay về với mình, quay về với cái khởi đầu trong tính toàn vẹn và đầy
đủ của nó.
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 8 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Chương 2:
QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO
TRONG TRIẾT HỌC CỦA LUDWIG FEUERBACH
Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về con người,
Feuerbach lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của mình. Trên cơ sở đó, ông
xây dựng hệ thống quan điểm về đạo đức và tôn giáo của mình.
2.1 Quan điểm của Ludwig Feuerbach về đạo đức
Trong triết học của ông Quan điểm đạo đức đề cập rải rác trong một số tác
phẩm nên nếu cố gắng đào sâu phân tích chúng ta có thể tìm thấy nhiều nét đặc
trưng.
Theo Feuerbach tính cảm giác là động lực chủ yếu quyết định hành vi của
mỗi cá nhân và xã hội nói chung. Feuerbach phân biệt đạo đức của con người với
đạo đức tôn giáo, Feuerbach phủ nhận Thượng đế, đề cao tôn giáo “thuần khiết”
của tình yêu. Do vậy đạo đức học của Feuerbach có cơ sở từ nguyên lí nhân bản
và chủ nghĩa tự nhiên. Nếu cảm giác là tính chân lí, thì nó chi phối đạo đức, đó là
điều dễ hiểu. Các hình thức của tính cảm giác rất đa dạng: Tình yêu cuộc sống,
khát vọng, hạnh phúc, ích kỉ, quyền lợi, nhu cầu thoả mãn bản chất cảm tính của
con người, sự hài lòng.v.v….tất cả chúng đều hiện hữu, ngự trị trong con người,
biến con người thành một thực thể phức tạp.
2.1.2 Về tự do và tất yếu
Feuerbach nói, con người tự do trong tính tất yếu của mình. Con người
hành động vì thích thú, vì bị thúc giục từ một nỗi đam mê nào đó, nhưng khi
hành động con người thể hiện mình tự do. Tự do thực sự không nằm ngoài thời
gian và không gian, ngoài các sự vật được tri giác. Tự do tinh thần chỉ đến khi
thể xác được giải phóng. Feuerbach viết: “chỉ có tự do cảm tính mới là tự do tinh
thần, chỉ có khát vọng hạnh phúc mới gắn tự do với tính tất yếu”. Khái niệm tự
do của Feuerbach về cơ bản đồng nhất với khái niệm tự do của Spinoza. Con
người theo Spinoza, chỉ là phần quá nhỏ bé của thiên nhiên, vì vậy hoạt động vừa
nó phải phù hợp với “trật tự thiên nhiên phổ quát”. Trong quá trình hoạt
động,con người tìm thấy mình, khẳng định mình bằng xúc cảm và tư duy, bằng
khả năng tự bảo vệ.
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 10 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Đối với Feuerbach tự do là sự thống nhất con người với hoàn cảnh, nơi
bản chất của nó bộc lộ ra chủ nghĩa chim tự do trong không khí, con cá tự do
trong biển cả, con người tự do ở nơi nào và khi nào mà hoàn cảnh sống của nó
cho phép nó thoả mãn khát vọng hạnh phúc. Quan điểm trừu trượng, tự nhiên chủ
nghĩa Feuerbach về tự do tương xứng với đòi hỏi của các nhà khai sáng tư sản
Đứng trên quan điểm nhận thức, ông cho rằng thực tiễn là hoạt động bản
năng mang tính thấp hèn, cần được loại ra khỏi nhận thức, trục xuất ra khỏi hệ
thống triết học mà không thấy được vai trò của thực tiễn đối với hoạt động nhận
thức và đối với đời sống xã hội.
Feuerbach chưa hề nghĩ đến nghiên cứu vai trò lịch sử của điều ác về mặt
đạo đức. Đối với ông, lịch sử nói chung là một lĩnh vực không được dễ chịu lắm
và đáng ngại, mặc dù ông đã từng phát biểu châm ngôn sau đây: “Khi con người
mới vừa sinh ra từ giới tự nhiên, chỉ là một sinh vật tự nhiên đơn thuần chứ
không phải là người. Con người là sản phẩm của con người, của văn hóa, và của
lịch sử”, Từ việc công nhận con người như là sản phẩm của văn hoá, của lịch sử,
Feuerbach đi đến quan điểm cho rằng, tính ích kỷ không chỉ mang tính cá nhân
như các nhà tư tưởng, các nhà đạo đức học trước ông (đặc biệt là những người
theo eudaimonism - chủ nghĩa duy hạnh) tuyên bố, mà nó còn mang tính xã hội.
Feuerbach viết: "Không chỉ có một tính ích kỷ đơn độc hay là tính ích kỷ
cá nhân mà còn có một tính ích kỷ xã hội, một tính ích kỷ của gia đình, của tập
thể, của cộng đồng, một tính ích kỷ yêu nước. Tất nhiên, tính ích kỷ là nguyên
nhân của mọi điều ác, nhưng cũng là nguyên nhân của mọi điều thiện, bởi vì
không cái gì khác ngoài tính ích kỷ đã tạo nên sự chiếm hữu ruộng đất, nên
thương nghiệp, cũng vì tính ích kỷ mà có nghệ thuật, có khoa học tính ích kỷ
ngăn cấm sự trộm cướp, dối trá, làm hạn chế sự ngoại tình".
Theo Feuerbach, lòng mong muốn hạnh phúc là bẩm sinh ở con người, do
đó, nó phải là cơ sở của mọi đạo đức. Song, lòng mong muốn hạnh phúc phải
chịu hai sự uốn nắn. Thứ nhất, sự uốn nắn của những hậu quả tự nhiên của hành
vi của chúng ta: sau trác táng thì đến chán chường, sau thói quen chơi bời quá độ
thì đến bệnh tật. Thứ hai, sự uốn nắn của những hậu quả xã hội của những hành
vi đó: nếu như chúng ta không tôn trọng lòng mong muốn hạnh phúc đó của
những người khác thì những người đó sẽ phản kháng lại và phá hoại lòng mong
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 12 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
Feuerbach viết - là Thượng Đế, thứ hai - lí tính, thứ ba và cuối cùng là con người".
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 13 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Điều đó cũng đã được chứng thực bằng việc ra đời của các tác phẩm nổi tiếng của
ông về đề tài tôn giáo: Bàn về cái chết và sự bất tử của linh hồn (1830); Bản chất
của Kitô giáo (1841); Bản chất của tôn giáo (1845); Tập bài giảng về bản chất của
tôn giáo (gồm 30 bài, mà ông đã đọc từ tháng 10 năm 1848 đến tháng 3 năm 1849
theo yêu cầu của sinh viên).
2.2.1 Nguồn gốc tôn giáo
Feuerbach cho rằng tôn giáo và niềm tin vào thượng đế đã chia cắt thế
giới cùng con người thành thế giới trần tục và thế giới thiên đường, tôn giáo làm
tha hoá con người để dễ dàng thống trị nó. Tôn giáo không chỉ làm tha hóa mà
còn tước đi ở con người tính năng động, sáng tạo, sự tự do và năng lực độc lập
phán xét. Ông đòi hỏi phải phải lựa chọn: hoặc là tôn giáo – tín ngưỡng – thượng
đế, hoặc là khoa học nhân bản – tình yêu – con người.
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa nhân bản, Feuerbach cho rằng yếu tố
quan trọng hàng đầu tạo tiền đề cho sự xuất hiện tôn giáo là trạng thái tâm lý của
con người. "Thượng Đế không phải là thực thể sinh lý hay thực thể vũ trụ-
Feuerbach viết- mà là thực thể tâm lý". Chính sự xúc cảm mạnh, sự chiêm
nghiệm hay trạng thái đau khổ của con người là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo.
Nhưng sự chiêm nghiệm hay trạng thái đau khổ, trạng thái xúc cảm không phải là
hiện tượng có tính chủ quan như chủ nghĩa duy tâm chủ quan quan niệm , mà
chúng có tính khách quan, nghĩa là gắn liền với các hiện tượng tự nhiên và đời
sống xã hội. Feuerbach viết " tôn giáo là giấc mơ của tinh thần con người nhưng
trong giấc mơ đó chúng ta không phải ở trên bầu trời mà ở trên mặt đất trong
vương quốc của hiện thực, chúng ta nhìn thấy các đối tượng của hiện thực không
phải trong thế giới thực tế của tính tất yếu mà là trong thế giới say mê của trí
tưởng tượng và sự kỳ quặc. Nhiệm vụ của tôi là bóc trần bản chất đích thực của
xuất phát điểm của lịch sử toàn cầu. Quan hệ của đứa bé đối với cha mẹ mình,
của chồng đối với vợ, của anh đối với em, của bạn bè đối với nhau, nói chung là
quan hệ của con người đối với con người, nói tóm lại, các quan hệ đạo đức thuần
túy chính là các quan hệ tôn giáo.
2.2.2.3. Mối quan hệ giữa tôn giáo với khoa học
Feuerbach cho rằng khoa học không thể dung hòa với tôn giáo, giữa chúng
có sự khác biệt về nội dung, phương pháp và vai trò: Về nội dung, bằng những
bằng chứng khoa học đương thời, Feuerbach phủ nhận quan điểm của Kinh
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 15 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Thánh về Chúa Sáng Thế. Về phương pháp, ông cho rằng khoa học và tôn giáo
có phương pháp tiếp cận các đối tượng nghiên cứu khác nhau. Về vai trò,
Feuerbach giải thích rằng, sự hình, tồn tại và phát triển của tôn giáo gắn liền với
sự ngu đốt, sự lạc hậu, tôn giáo được truyền bá một cách rộng rãi trong quảng đại
quần chúng. Còn khoa học là sự khai sáng trí tuệ.
2.2.2.4. Mối quan hệ giữa tôn giáo với triết học duy tâm
Feuerbach nhận thấy rằng, tôn giáo chính là xuất phát điểm của chủ nghĩa
duy tâm, còn chủ nghĩa duy tâm chính là hình thức phái sinh của tôn giáo.
Ông
viết: “Bản chất của triết học tư biện hàm chứa trong bản chất duy lí hiện thực của
thần thánh. Triết học tư biện chính là thần học duy lý chính hiệu” (Feuerbach,
Sđd.,t.I, tr 137)
2.2.2.5. Mối quan hệ giữa tôn giáo với nghệ thuật
Theo Feuerbach, trong tôn giáo và nghệ thuật thì trí tưởng tượng có vai trò
chủ đạo, chúng đều cần những phương tiện biểu đạt như hình ảnh, biểu tượng,
biểu trưng. Nghệ thuật và tôn giáo tác động một cách trực tiếp tới tình cảm con
người, gây nên trong họ những cảm xúc mạnh.
Feuerbach phủ nhận Thượng đế, đề cao tôn giáo “thuần khiết” của tình
yêu. Đạo đức học của Feuerbach do vậy, có cơ sở từ nguyên lí nhân bản và chủ
nghĩa tự nhiên.
Feuerbach phê phán quan niệm về con người cả ở các nhà duy vật thế kỷ
XVII - XVIII lẫn triết học tư biện Hegel. Vấn đề là ở chỗ, Đêcáctơ, La Méttơn,
Điđrô là những nhà tư tưởng lớn của thời đại mình đã đề cao năng lực tư duy, ý
chí sáng tạo, khát vọng tự do của con người, nhưng do chịu sự chi phối của các
nguyên lý cơ học và xu thế toán học hoá tư duy, nên đôi khi họ mô tả cơ thể
người theo một môtíp hết sức máy móc, đại loại như "con người - cỗ máy", “xã
hội - tổ hợp máy". Không chỉ Feuerbach, mà trước đó, quan điểm trên đã bị các
nhà duy tâm, các nhà thần học phê phán quyết liệt. Feuerbach cho rằng, các nhà
duy vật thế kỷ trước đã không làm nổi bật hình ảnh con người sống động, bằng
xương, bằng thịt.
Đóng góp lớn nhất của Feuerbach chính là ở chỗ, ông đã vượt qua một
thói quen tư duy để hình thành cách suy nghĩ mới, cả trong quan niệm về tự
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 17 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
nhiên, về lý luận nhận thức lẫn trong cách hiểu về con người. "Triết học hiện đại
từ bỏ tư tưởng kinh viện " tuyên bố đó của Feuerbach trong “Những nguyên
nhân cơ bản của triết học về tương lai” tự nó đã thể hiện thiên hướng cải cách
tích cực của ông. Triết học cần từ bỏ tính sách vở, những biện luận thuần tuý của
tư duy để đến với cuộc sống, được vật chất hoá trong hoạt động thực tiễn của con
người. Cái cần có trong dự án cải cách triết học của Feuerbach - sự kết hợp giữa
chủ nghĩa duy vật và thuyết nhân bản đã được hiệu chỉnh, hoàn thiện, phát triển
lên trình độ cao, trình độ của chủ nghĩa duy vật biện chứng triệt để và khoa học.
Quan điểm của Feuerbach được coi là một bước tiến dài trong quá trình
nhận thức tôn giáo. Ông cho rằng tôn giáo là sùng bái thần tượng con người đã
khách quan hóa bản thân nhưng lại không nhận ra khách thể chính là bản chất
đúng đắn động lực của phát triển. Trọng tâm phân tích của Feuerbach là làm sáng
tỏ tính khách quan của tự nhiên, chứ không phải tính biến đổi, tính quy luật, tính
tất yếu khách quan và tính lịch sử của nó. Với những diều vừa nêu, có thể thấy
rằng Feuerbach chưa thể vượt qua khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật siêu hình.
Trong thuyết nhân bản - đạo đức, Feuerbach nhấn mạnh giá trị con người,
"tố chất người" nói chung, song chưa nêu ra được những tính quy định xã hội
thực sự làm nên bản chất con người. Feuerbach đã tuyệt đối hoá tình yêu, coi tình
yêu là bản chất của con người mà không chú ý đến mặt xã hội và không thấy
được điều kiện chính trị xã hội mà con người sống. Feuerbach phê phán con
người trong triết học của Hegel là trừu tượng trong khi quan điểm của ông về con
người cũng trừu tượng.
Đạo đức học của Feuerbach, theo Friedrich Engels, tỏ ra nghèo nàn hơn
Hegel do tính dung tục hoá, tính đơn giản và tính ảo tưởng của nó. Feuerbach lấy
con người làm điểm xuất phát, nhưng đó không phải là con người sống trong một
thế giới hiện thực với những quan hệ phức tạp, mà là con người trừu tượng, phi
lịch sử mặc dù đôi khi ông cũng đưa ra hình ảnh tương phản: "trong một cung
điện người ta suy nghĩ khác trong một túp lều tranh". Friedrich Engels chỉ rõ
rằng, tư tưởng đạo đức của Feuerbach đầy ắp những giấc mơ đẹp, nhưng ông lại
không vạch ra từ đâu và bằng cách nào đề biến chúng thành hiện thực. "Đối với
Feuerbach, Friedrich Engels viết, thì tình yêu ở đâu và bao giờ cũng là một ông
thần lắm phép lạ có thể giúp vượt mọi khó khăn của đời sống thực tiễn và điều đó
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 19 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
diễn ra trong một xã hội chia thành những giai cấp có những lợi ích đối lập hẳn
với nhau!( ) hãy yêu nhau đi, hãy ôm hôn nhau đi, không cần phân biệt nam nữ
và đẳng cấp, thật là giấc mơ thiên hạ thuận hoà". Quan niệm thiện - ác, hạnh
phúc - đau khổ, tình yêu - thù địch ở Feuerbach bị chia cắt một cách siêu hình,
thiếu hẳn yếu tố tác động và chuyển hoá. Đây là bước thụt lùi so với Hegel. Ngay
Feuerbach đã phê phán triết học Hegel- người thầy của ông. Tuy Feuerbach
không phải là người đầu tiên phủ nhận quan điểm của thầy nhưng ông đã có sự
tiến bộ. Trước đây, khi Aristote đứng trên quan niệm duy vật tiến bộ phê phán
thuyết ý niệm của Platon đã rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên luận. Quan điểm triết
học của Feuerbach không sâu, còn nhiều siêu hình phiến diện nhưng đã thiên về
lập trường duy vật.
Xuyên suốt tư tưởng triết học của Feuerbach là vấn đề con người và tôn
giáo. Triết học về đạo đức thông qua con người của Feuerbach thể hiện quan
điểm của giai cấp tư sản muốn khẳng định tính sáng tạo của con người. Nó có ưu
điểm là đã quan tâm đến con người về mặt tự nhiên- sinh học, tuy nhiên, lại quá
đề cao tình yêu mà không quan tâm đến những khía cạnh khác của đời sống con
người.
Feuerbach đứng vững trên lập trường duy vật nhận thức đúng đắn về tôn
giáo khi cho rằng tôn giáo không chỉ là những ảo tưởng phi lý mà còn là ước mơ,
khát vọng của con người. Thượng đế được thần thánh hóa để mang lại niềm tin
thực hiện những ước mơ, khát vọng đó, không phải Thượng đã sinh ra con người
mà con người đã sinh ra Thượng đế.
Triết học Feuerbach còn nhiều hạn chế nhưng đã đạt được thành tựu to lớn
là tiền đề của triết học Mác sau này.
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 21 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20
Giáo viên hướng dẫn Đề tài 19: Vấn đề tôn giáo và đạo đức
TS. BÙI VĂN MƯA trong triết học của Ludwig Feuerbach
Phụ lục
(1)Như Ph.Ăngghen nhận xét, “có thể coi đây là một trong những thời kỳ
yếu hèn nhất trong lịch sử nước Đức”, “Mọi thứ sắp lung lay, xem chừng sắp sụp
đổ, thậm chí chẳng còn tời một tia hy vọng chuyển biến tốt lên vì dân tộc, thậm
chí không còn đủ sức vượt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi”.
(2) Trang 2 Giáo trình đạo đức học Mác – Leenin; TS. Đinh Ngọc Quyên,
TS. Lê Ngọc Triết, ThS Hồ Thị Thảo – http://cnx.org/content/col10808/1.1/
kienthuc.net/diendan/triet-hoc-phuong-tay/9950-quan-niem-ve-con-nguoi-trong-
triet-hoc-l-feuerbach.html
5. Cac.Mác và Ph.Ăng-ghen Toàn tập. Tập 3. (1845-1847). Hà Nội: Nxb.
Chính trị quốc gia, 1995. Địa chỉ truy cập: http://triethoc.edu.vn/index. php?
option=com_content&view=article&id=14:lun-cng-v-phoi-bc&catid=6:h-hinh-
tam-thc-hc&Itemid=193
6. Lịch sử tư tưởng trước Mác, Trần Đức Thảo, NXB. Khoa học xã hội,
1995( Nguồn mở: Triethoc.edu.vn, http://triethoc.edu.vn/index.php?option=com
_content&view=article&id=258:lch-s-t-tng-trc-marx-phn-11&catid=40:trn-c-tho
&Itemid=203)
7. Các. Mác và Ph. Ăng-ghen. Toàn tập, tập 21. Hà Nội: Nxb. Chính trị
Quốc gia, 1999.
8. http://triethoc.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&i
d=160:ludwid-feuerbach-va-s-cao-chung-ca-trit-hc-c-in-c&Itemid=5
9. Triết học phần 1,2 , TS. Bùi Văn Mưa, TS. Trần Nguyên Ký, PGS TS.
Lê Thanh Sinh, TS. Nguyễn Ngọc Thu, TS. Bùi Bá Linh, TS. Bùi
Thanh Xuân, Trường Đại học Kinh tế, 2010.
10. Trần Văn Toàn về “Ludwig Feuerbach va quan- niệm vô- thần lối
mới”. Địa chỉ truy cập: http://vibiwebsite.com/VIBI_WV/?p=653
11. Tạp chí triết học
HVTH: Lê Thị Thùy Trang 23 Tiểu luận triết học
Nhóm 7 Đêm 1 K20