TIỂU LUẬN SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI - Pdf 24

GVHD
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
HVTH : ĐÀM HUY BẢNG
STT : 145
NHÓM : NHÓM 8
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 - K20
GV : TS. BÙI VĂN MƯA
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 1
HCM, Tháng 5/2011
GVHD
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Khi nhắc đến khởi nguyên tiềm tàng của nền triết học nhân loại
chúng ta không thể không nói đến hai nền triết học lớn của thế giới, đó
chính là triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại. Có thể nói Hy Lạp cổ
đại và Ấn Độ cổ đại là những cái nôi của triết học thế giới, là khúc dạo
đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học, làm nền
tảng cho toàn bộ hệ thống triết học thế giới sau này. Nét nổi bật của triết
học Hy Lạp cổ đại là đã đặt ra hầu hết các vấn đề cơ bản của triết học mà
sau này các học thuyết triết học khác từng bước giải quyết theo nội dung
của thời đại mình Trong khi đó, triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra và giải
quyết những vấn đề của tư duy triết học. Việc tìm hiểu sự tương đồng và
khác nhau của triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại giúp chúng ta có
khái niệm gần như hoàn chỉnh về triết học phương Tây và triết học

đọan cực thịnh và giai đọan suy tàn. Trong đó sự đấu tranh giữa hai khuynh
hướng nhất nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm của giai đọan cực thịnh đã
để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại.
3 Những đặc điểm cơ bản
- Thứ nhất: thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp
chủ nô thống trị.
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 3
GVHD
- Thứ hai: Có sự phân chia và sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái
duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị - tư
tưởng
- Thứ ba: đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác. Các nhà triết học Hy Lạp
cổ là “những nhà biện chứng bẩm sinh”. Họ nghiên cứu và sử dụng phép biện
chứng để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý
- Thứ tư: gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các
lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh
chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó.
- Thứ năm: coi trọng vấn đề về con người. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn
chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo
hóa
4 Các tư tưởng, trường phái triết học
4.1 Chủ nghĩa duy vật:
4.1.1 Trường phái Milet: Đóng góp chính quan trọng nhất của trường phái
Milet này là đã được đặt nền móng cho sự hình thành các khái niệm đó như khái
niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ sung và làm phong phú thêm
những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh giữa các mặt
đối lập
4.1.2 Trường phái Héraclite: Héraclite là nhà triết học đã nêu lên các phán
đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sau
này Marx đã đề cập và đi sâu. Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp

+ Xocrat: Xuất phát từ đạo đức học duy lý, ông cho rằng, hiểu biết là cơ sở của
điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác; chỉ có cái thiện mới là cơ sở của đạo
đức, tiêu chuẩn của đức hạnh.
+ Platong: xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là “thuyết
ý niệm”, với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm và nhiều tư
tưởng sâu sắc khác về đạo đức, chính trị, xã hội.Quan điểm chính trị - xã hội của
Platong đầy mâu thuẫn và bảo thủ. Ông vừa đòi hỏi xóa bỏ tư hữu, lại vừa đòi
bảo vệ chế độ đẳng cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội; vừa kêu gọi xây dựng
nhà nước cộng hòa lý tưởng, lại vừa bảo vệ địa vị và lợi ích của chủ nô quý tộc.
4.2.4 Triết học nhị nguyên của Arixtốt: Arixtốt là người tổng kết Triết học Hy
Lạp cổ đại, người đặt nền móng vững chắc cho chủ nghĩa duy lý, góp phần thúc
đẩy lý trí Hy Lạp nẩy nở, khoa học, văn minh phương Tây phát triển.
 Quan niệm về sinh thể, con người, linh hồn & nhận thức:
+ Sinh thể (cả con người) đều có thể xác & linh hồn
+ Con người là sinh thể có lý trí, luôn khát vọng nhận thức, bản chất con người
sinh ra là để nhận thức.
+ Nhận thức là hoạt động bản tính của linh hồn, nhưng khi con người mới sinh
ra, linh hồn như một tấm bảng trắng.
 Quan điểm về đạo đức, chính trị - xã hội:
+ XH tốt nhất phải dựa trên chế độ cộng hoà quý tộc, do chủ nô trung lưu lãnh
đạo.
+ Công bằng trong trao đổi sản phẩm là nền tảng của công bằng XH & bình đẳng
giữa các cá nhân…
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 6
GVHD
+ Lý trí, lẽ phải là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh
II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện ra đời
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội:
Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông thôn, toàn bộ

- Thứ ba, các hệ thống triết học - tôn giáo ở Ấn độ cổ đại đều quan tâm tới vấn
đề nhân sinh quan, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo.
4. Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại
4.1. Tư tưởng triết học trong Upanisát: Sự xuất hiện của Upanishad đánh dấu
bước chuyển tiếp từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học. Tư
tưởng đó được thể hiện trong các vấn đề chủ yếu sau: Brátman (đại ngã), Átman
(tiểu ngã), Giải thoát và thực trạng giải thoát.
4.2 Trường phái triết học chính thống: Trường phái Vêđanta. Samkhya,
Yoga, Mimansa, Nyaya, Vaisêsika
- Nguyên nhân dẫn đến sự luân hồi của mỗi cá nhân là vì linh hồn cá biệt nơi mỗi
người thường bị những ham muốn dục vọng che lấp, nên linh hồn rơi vào vòng
ám muội của thế giới vật chất, thường biến, hữu hình, hữu hạn, không giữ được
bản lai thanh tịnh của mình.
- Theo trường phái này, không thể giải thoát bằng cách lễ bái, tích lũy khổ hạnh
hay tin tưởng vào sự cứu rõi của đấng tối cao. Đối với họ, phương pháp đưa đến
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 8
GVHD
sự giải thoát là phải chế dục theo pháp Yoga, diệt trừ nghiệp lực và phải thấu triệt
sáu nguyên lý tạo thành vũ trụ. Nếu thực hiện được như thế thì linh hồn cá biệt
mới đạt đến sự giải thoát hoàn toàn.
4.3 Hệ thống triết học không chính thống
- Triết phái Jaina (Kỳ na giáo): Trường phái này mang đượm màu sắc tôn giáo,
ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên.
- Triết phái Lokayata (hay còn gọi là Carvaka): Triết học Lokayata mang tính
duy vật chủ nghĩa và vô thần tương đối triệt để, nhưng chỉ tồn tại trong một thời
gian tương đối ngắn. Nó được trình bày trong chính kinh Veda, trong các sử thi
và cả trong kinh sách của Phật giáo. Thuyết ấy tuyên bố rằng chỉ có thể biết là
hiện hữu những gì ta tri giác được. Không có thế giới bên kia: chết là hết. Niềm
tin vào những cái như thế bị xem là tưởng tượng kỳ quái. Không có bằng chứng
hợp lý luận cho tính khả thi của cái không thể thấy; không thể dùng sự suy ra như

2. Tương đồng trong xem xét nguồn gốc thế giới tự nhiên, sự ra đời của vạn
vật
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 10
GVHD
Mặc dù triết học thời kỳ này vẫn chưa tách rời được yếu tố thần linh ra
khỏi ý thức của con người. Nhưng khi nghiên cứu về con người và đạo đức nhân
sinh quan, các nhà triết học vẫn đặt vai trò của con người lên hàng đầu.
2.1 Hai nền triết học đều có những trường phái chịu ảnh hưởng của thần
thánh, tôn giáo. Quan điểm là linh hồn con người tồn tại và trải qua luân
hồi. Thế giới tự nhiên là do thần thánh sáng tạo, sắp xếp, có nguồn gốc thần
bí.
• Hy Lạp: Trường phái duy tâm của Pytago coi linh hồn tồn tại bất tử, độc
lập với thể xác và chịu luân hồi. Trường phái Xôcrát-Platông cho rằng hiện tượng
tự nhiên do thần thánh sáng tạo và an bài. Ý niệm của Platông là lý tính, tồn tại
trên trời, chân thực tuyệt đối. Thế giới sự vật là sự sao chép của ý niệm, sinh ra từ
ý niệm, do thần Tạo hóa mô phỏng từ ý niệm. Linh hồn vũ trụ là thần linh, tồn tại
dưới dạng các tinh tú, và chỉ được nhận thức bằng linh hồn vũ trụ của con người.
Con người bao gồm thể xác khả tử và linh hồn bất tử.
• Ấn Độ: Trường phái Upanisat với khái niệm đại ngã, tiểu ngã dựa trên ý
niệm thần thánh hóa căn nguyên vạn vật, xem đại ngã là linh hồn vũ trụ, sinh ra
vạn vật, tiểu ngã là linh hồn con người, biểu hiện cụ thể của đại ngã, chịu luân
hồi báo ứng. Đến trường phái Vêđanta tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của đại ngã
và tiểu ngã, khuyến khích giải thoát tiểu ngã khỏi vây hãm thể xác, quay về với
đại ngã.
2.2 Hai nền triết học đều có những trường phái cho rằng thế giới tạo thành
từ vật chất, không tồn tại thần thánh.
• Ấn Độ:
- Trường phái Nyaga, Vaisêsika có thuyết nguyên tử luận, cho rằng thế giới
vật chất được cấu thành từ các nguyên tử kết hợp lại.
- Phái Lokayata xem sự vật kết thành bởi tứ đại bao gồm đất, nước, gió, lửa.

cho con người cuộc sống hạnh phúc:
Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, cá trường phái triết học đều nghiên cứu
về vai trò của con người và tự nhiên, mỗi thời kỳ có một sự quan tâm khác biệt
nhưng cùng tô màu vẽ sắc cho các nền triết ấy. Vì vậy, đây chính là nền tảng,
tiền đề cho sự phát triển của 2 nền triết học này trong các giai đoạn sau.
• Ấn Độ: giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa
cuộc sống, nguồn gốc nỗi khổ).
• Hy Lạp: Tìm hiểu, lí giải quan hệ linh hồn – thể xác, đời sống đạo đức,
chính trị, xã hội của con người.
6. Bên cạnh những ưu điểm, hai nền triết học Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại đều
chưa rõ ràng, chưa hệ thống hóa và giải thích được nguồn gốc, tính chất vai
trò của phạm trù đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn.
7. Cả hai nền triết học đều đề cao lao động trí óc đã thúc đẩy hình thành
tầng lớp tri thức, họ đã sử dụng tư duy lý luận để nghiên cứu thế giới và xây
dựng nền triết học và khoa học đồ sộ, sâu sắc.
8. Trong quá trình nhận thức, suy tư triết lý, đôi khi đã đạt tới ý tưởng siêu
thực, vượt qua tầm suy nghĩ, nhận thức giác quan đạt tới những phán đoán
siêu hình về sự tồn tại.
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 13
GVHD
II. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC
HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Triết học Ấn Độ cổ đại
1.1 Triết học có sự đan xen với tôn giáo:
Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín
ngưỡng tôn giáo. Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư tưởng triết học
ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua các bộ kinh Vêđa,
Upanisát.
Ấn Độ cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ với hai hệ thống triết học, là hệ
thống chính thống và hệ thống không chính thống dựa trên cơ sở thái độ đối với

cổ đại là những nhà hiền triết, nhà tôn giáo, nhà giáo dục, đạo đức, chính trị - xã
hội, thiên về cải tạo thế giới, giải thoát chúng sinh ra khỏi điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội khắc nghiệt.
1.2 Triết học có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm,
giữa phép biện chứng và phép siêu hình:
Do chịu ảnh hưởng bởi tinh thần Vêđa mà triết học Ấn Độ cổ đại không
thể phân chia rõ ràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện
chứng và phép siêu hình mà chủ yếu được chia thành hệ thống chính thống và hệ
thống không chính thống. Trong các trường phái triết học cụ thể luôn có sự đan
xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng và phép
siêu hình.
Chẳng hạn như những nhà tư tưởng của phái Samkhya sơ kỳ bộc lộ những
tư tưởng có tính duy vật chứa ít nhiều biện chứng về bản nguyên hiện hữu. Họ
đưa ra học thuyết về sự tồn tại của kết quả trong nguyên nhân trước khi nó xuất
hiện và học thuyết về sự chuyển hóa thực tế của nguyên nhân trong kết quả. Họ
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 15
GVHD
cho rằng loại nào có nguyên nhân của loại đó “Trồng Sali được Sali, trồng Vrihi
được Vrihi”. Từ đó mà trong quan niệm về sự hình thành sự vật, họ cho rằng nếu
vạn vật của thế giới này là vật chất thì yếu tố tạo nên vạn vật với tính cách là
nguyên nhân cũng là vật chất, đó là “vật chất đầu tiên” (Prakriti) một dạng vật
chất tiềm ẩn, không hình dạng, không giới hạn, không thể nhận biết được bằng
cảm tính. Thế giới vật chất là thể thống nhất của ba yếu tố: Sativa (nhẹ nhàng,
thuần khiết), razas (tích cực, năng động), tamas (nặng, ỳ). Khi ba yếu tố trên ở
trạng thái cân bằng thì Prakriti ở trạng thái chưa biểu hiện, tức là trạng thái không
thể trực quan được. Nhưng khi sự cân bằng bị phá vỡ thì sự sinh thành vạn vật
của vũ trụ khởi đầu.
Ngược lại, các nhà tư tưởng của phái Samkhya hậu kỳ lại có khuynh
hướng nhị nguyên luận khi thừa nhận sự tồn tại song song của hai yếu tố đầu tiên
là vật chất (Prakriti) và tinh thần (Purusa). Yếu tố tinh thần (Purasa) mang tính

(bản chất, ý nghĩa đời sống, nguồn gốc nổi khổ của con người) nhằm tìm kiếm
phương tiện, con đường, cách thức giải thoát chúng sinh ra khỏi điều kiện tự
nhiên và kinh tế - xã hội khắc nghiệt mà không thấy mối quan hệ giữa con người
trong lao động sản xuất.
Upanishad bàn tới vấn đề "luân hồi", "nghiệp báo". Vì Atman "linh hồn"
tồn tại trong thể xác con người trần tục nên ý thức con người lầm tưởng rằng
"linh hồn" đó khác với "linh hồn vũ trụ" bất tử. Những cảm giác, ham muốn dục
vọng và hành động của con người nhằm thỏa mãn những ham muốn đó trong đời
sống trần tục đã gây ra những hậu quả, gieo đau khổ ở kiếp này và cả kiếp sau,
gọi là "nghiệp báo" (Karma). Do vậy, linh hồn bất tử cứ bị giam hãm vào hết thể
xác này đến thể xác khác, bị che lấp, ràng buộc bởi thế giới hiện tượng như ảo
ảnh, gọi là sự "luân hồi" (Samsara), không nhận ra và không trở về đồng nhất với
chân bản của mình là Brahman được.
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 17
GVHD
Muốn giải thoát linh hồn bất tử khỏi vòng vây hãm của luân hồi, nghiệp
báo để đạt tới đồng nhất với "Tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối thì con người
phải dốc lòng toàn tâm tu luyện hành động và tu luyện tri thức. Bằng nhận thức
trực giác, thực nghiệm tâm linh, con người mới nhận ra chân bản của mình, khi
đó linh hồn bất tử mới đồng nhất được với "linh hồn vũ trụ tối cao" và bắt đầu
"siêu thoát" (moksa).
Thừa nhận quan niệm "Luân hồi" và "Nghiệp báo" trong Upanishad, Phật
giáo đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sự giải thoát cho
chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn
(Nirvana). Từ sự lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Thích Ca Mâu Ni
đã đưa ra thuyết "Tứ diệu đế" và " Thập nhị nhân duyên" để giải thoát chúng sinh
ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi. Thuyết “tứ diệu đế” là cốt lõi
của quan niệm nhân sinh quan của Phật giáo.
Từ đó cho thấy xu hướng cơ bản trong triết học Ấn Độ cổ đại là quan tâm
giải quyết các vấn đề nhân sinh dưới gốc độ tâm linh tôn giáo với xu hướng

điểm tôn giáo nhằm tìm kiếm con đường, phương tiện, cách thức giải thoát con
người, mà không thấy mối quan hệ giữa con người trong lao động sản xuất.
1.5 Triết học Ấn Độ cổ đại ngã về dung trực giác
Trường phái Mimansa coi cảm giác là nguồn gốc duy nhất của nhận thức.
Nhận thức trong triết học Ấn Độ bắt đầu từ luân lý đạo đức, nhận thức gắn liền
với đạo đức. Trong nhận thức, triết học Ấn Độ đề cao việc tự nhận thức, tự hiểu.
Điều này quy định tính chất trực nhận, trực giác trong triết học Ấn Độ. Từ đó,
một lôgíc kéo theo là công cụ, phương tiện nhận thức lại nghiêng về ẩn dụ, hình
ảnh.
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 19
GVHD
1.6 Triết học Ấn Độ cổ đại thường tôn trọng và có khuynh hướng phục cổ,
không có những bước nhảy vọt về chất
Triết học Ấn Độ ít thấy có những bước nhảy vọt về chất mà chỉ là sự phát
triển cục bộ, kế tiếp xen kẽ. Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục
bộ, thêm bớt hay đi sâu vào từng chi tiết, xuất phát từ tinh thần Vêđa chia ra làm
hai hệ thống: hệ thống chính thống ủng hộ tinh thần Vêđa và trường phái không
chính thống phản đối lại tinh thần Vêđa.
Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng hộ,
bảo vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và phát triển nó hơn là
vạch ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thứ triết học mới. Do vậy
nó không mâu thuẫn với các học thuyết đã được đặt nền móng từ ban đầu, không
phủ định nhau hoàn toàn và dẫn đến cuộc đấu tranh trong các trường phái không
gay gắt và cũng không triệt để. Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến
kéo dài quá lâu và bảo thủ, kết cấu kinh tế, giai cấp trong xã hội đan xen, cộng
sinh bên nhau.
2. Triết học Hy Lạp cổ đại
2.1 Triết học gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên:
Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng
hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới

Tây. Có thể nói triết học Hy Lạp cổ đại rất nhất quán, kiên định một quan điểm,
một lập trường.
Ba nhà triết học duy vật thuộc trường phái Mi-lê (tên một đô thị cổ Hy
Lạp) là Talét, Anaximăngđrơ và Anaximen cho rằng có những thực thể vật chất
đầu tiên, vĩnh viễn vận động tạo ra mọi vật trên thế giới. Theo Talét đó là nước,
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 21
GVHD
theo Anaximăngđrơ đó là một thực thể vô định và vô hạn, theo Anaximen đó là
không khí. Hêraclít không thuộc trường phái nói trên, ông cũng cho rằng bản
nguyên của vũ trụ là lửa, lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh
ra vạn vật.
Ngược lại, một số nhà triết học thuộc trường phái Êlê (tên một đô thị cổ ở
miền nam nước Ý) như Xênôphan, Pácmênít, Dênông và trường phái Pitago lại
có những quan điểm duy tâm, siêu hình về nguồn gốc vũ trụ. Họ cho rằng, thế
giới là một tồn tại bất động và bất biến (trường phái Êlê), con số là bản nguyên
của vũ trụ (trường phái Pitago).
Đối lập lại chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn.
Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã xây
dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật. Theo ông, giới tự
nhiên bắt nguồn từ ý niệm.
Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của
Platôn là Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy
Lạp - La Mã, nhưng là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ
thuyết ý niệm của Platôn; mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của
mọi sự vật, mà hình thức của mọi hình thức là tư duy (hình thức thuần tuý).
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử
triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại chứng tỏ rằng, ngay từ đầu, lịch sử triết học là lịch
sử đấu tranh giữa hai thế giới quan, hai phương pháp luận đối lập nhau. Cuộc đấu
tranh ấy phản ánh lợi ích của những tầng lớp, những giai cấp khác nhau trong xã
hội có giai cấp đối kháng.

thực sự sống trong xã hội, không thể sống ngoài xã hội Arixtốt, một nhà duy
lý, chấp nhận các nguyên lý chính yếu của Platông “Con người không thể là con
người nếu không có xã hội "
K20 – Đêm 1 - Nhóm 8 Trang 23
GVHD
2.4 Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tách chủ thể với khách thể để nhận xét
khách quan
Các nhà triết học Hy Lạp đã nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi
con người là chủ thể để nghiên cứu, chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan. Đặt
trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại; còn vấn đề con người
chỉ được nghiên cứu để giải thích thế giới mà thôi. Cho nên triết học Hy Lạp cổ
đại thể hiện đậm nét về bản thể luận của vũ trụ.
Platông đã chia thế giới thành thế giới ý niệm (lý tính, tồn tại trên trời,
mang tính phổ biến, chân thực tuyệt đối, bất biến, vĩnh hằng, duy nhất…) và thế
giới sự vật (cảm tính, tồn tại dưới đất, mang tính cá biệt, ảo giả, tương đối, khả
biến, thoáng qua, đa tạp…). Bằng thuyết ý niệm này, ông đã lý giải sự sinh thành
của thế giới sự vật, con người và hoạt động của linh hồn…
2.5 Triết học Hy Lạp ngã về tư duy duy lý
Triết học Hy Lạp ngã về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ. Thế mạnh của
Hy Lạp là khoa học, kỹ thuật và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân
lý vô hạn cùng. mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy
luật của Triết học Hy Lạp, đi gần toàn thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất
thấp đến mức độ bản chất cao hơn cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá,
cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.
Triết học Hy Lạp nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo
hướng đi lên. Một nét nữa của triết học Hy Lạp thiên về hướng ngoại, chủ động,
tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể,
phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể
2.6 Triết học Hy Lạp cổ đại có sự đấu tranh giữa các trường phái mang tính
chất quyết liệt, triệt để, có sự phát triển về chất khá rõ rệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status