TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề Tài Số 1:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC
VEDANTA Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI
GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
SVTH: Trần Kim Nghĩa
Lớp: Cao Học K22 Ngày 4
STT: 44
Nhóm: 05
1
TP.HCM 12/2012
LỜI MỞ ĐẦU
Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền đạo học phương đông nói riêng và
cho cho nhân loại nói chung. Chính nơi ấy đã sản sinh ra nhiều trường phái, tôn giáo
lớn trên thế giới. Có thể nói Ấn độ là “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết
học”. Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của
triết học. Trong khi giải quyết những vấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận và
nhân sinh quan, triết học ấn Độ đã thể hiện tính biện chứng và tầm khái quát khá sâu
sắc, đã đưa lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng di sản của triết học nhân loại.
Một xu hướng cơ bản trong triết học ấn Độ cổ, trung đại là quan tâm giải quyết
những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tâm linh tôn giáo với xu hướng "hướng nội", đi
tìm cái "Đại ngã" trong cái "Tiểu ngã" của một thực thể cá nhân. Có thể nói, sự phản
tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học ấn Độ cổ,
trung đại (trừ phái Lokayata), và hầu hết các học thuyết đều biến đổi theo xu hướng từ
vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên. Có thể điều đó
là sự phản ánh trạng thái trì trệ của "phương thức sản xuất châu á" ở ấn Độ vào tư duy
triết học; đến lượt mình, triết học lại trở thành một trong những nguyên nhân của tình
thánh kinh Veda. Bộ phận sớm nhất của văn học Veda là bốn tập Veda: RigVeda,
Samaveda, Atharvaveda, Yajurveda. Bộ phận muộn của văn học Veda là Brahmana,
Aranyaka và Upanisad. Nhìn chung trong các tập này chúng ta chỉ thấy các ước vọng
3
của con người, nó phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và đa thần giáo, chưa có những
khái quát triết học. Song ta có thể nhận ra những bước phát triển mới của tư duy trừu
tượng. Khuynh hướng rõ rệt là người Ấn Độ đi tìm những điểm giống nhau giữa vô
vàn hiện tượng và sự vật khác nhau. Đi xa hơn người ta thừa nhận một nguyên lý vũ
trụ với sức mạnh vô hạn biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh thần và trong nghi lễ.
Ở đây đã phôi thai hai quan điểm đối lập nhau mà ta có thể nhận thấy trong tư tưởng
triết học về sau là quan niệm coi thế giới bị chi phối bởi một nguyên lý phi nhân cách
và quan niệm coi một vị thượng đế nhân cách hóa điều khiển mọi quá trình vũ trụ
b) Tư tưởng triết học Ấn Độ thời cổ điển
Vào thời kỳ cổ điển (hay Bà La Môn-Phật giáo), tuy nền kinh tế và xã hội nô lệ
đã phát triển cao hơn trước nhưng vẫn bị kìm hãm bởi tính chất kiên cố của tổ chức
công xã nông thôn, bởi sự phân chia đẳng cấp ngặt nghèo và sự thống trị của nhà nước
quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền. Về đời sống tinh thần, thế giới quan duy
tâm, tôn giáo của kinh thánh Veda, Upanisad và đạo Bà La Môn được suy tôn là hệ tư
tưởng chính thống ngự trị trong đời sống tinh thần của con người. Các trường phái triết
học thời kỳ này đa dạng, phản ánh lợi ích của các tầng lớp xã hội khác nhau được trình
bày thành hệ thống chặt chẽ, được chia làm hai phái: phái chính thống thừa nhận uy thế
tối cao của kinh Veda, đạo Bà La Môn và phái không chính thống bác bỏ uy thế kinh
Veda và đạo Bà La Môn. Phái chính thống bao gồm 6 trường phái: Safmkhya,
Mimana, Vedanta, Yoga, Nyaya, Vaisesia. Phái không chính thống, hay phái tà giáo có
3 trường phái: Jaina, Lokayata, Phật Giáo.
c) Tư tưởng triết học thời kỳ sau cổ điển
Từ thế kỷ VII đạo Hồi xâm nhập vào Ấn Độ, ở bình diện tư tưởng, cuộc cạnh
tranh uy thế giữa đạo Phật, đạo Bà La Môn và đạo Hồi diễn ra ngày càng quyết liệt.
Được sự ủng hộ của giai cấp thống trị là tín đồ Hồi giáo, đạo Hồi từng bước phát triển.
Sự phát triển của đạo Hồi đã làm cho đạo Phật suy yếu và đến thế kỷ XII, bị loại ra
không”, đem đối lập “không” và “có”, quy cái “có” về cái “không”, thể hiện một trình
độ tư duy trừu tượng cao.
CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ
VEDANTA
2.1. Triết học Phật giáo
2.1.1. Hoàn cảnh ra đời
Trước khi Phật ra đời, xã hội Ấn độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về
mọi mặt của đời sống xã hội. Thời kỳ này tầng lớp Bà La Môn được kính trọng, tôn
sùng tuyệt đối; bởi họ là những người được coi là có tri thức, có khả năng giảng dạy
đạo lý và cúng tế thần linh. Còn giai cấp Sát Đế lợi (vua chúa, tướng lĩnh….) thống trị
quốc gia, thâu tóm gần như toàn bộ đất đai. Trong khi đó, các giai cấp dưới phải lao
động vất vả, chịu mọi sự khổ cực để cung phụng cho các giai cấp trên. Chính những lý
do này khiến cho đời sống xã hội ngày càng nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến sự
phản kháng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, đòi quyền tự do, bình đẳng.
Cũng chính vào thời điểm này ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã xuất hiện. “Phật
giáo xuất hiện như là sự đáp ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt nó
phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của nhân dân Ấn độ; mặt khác nó phản kháng
chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng giữa con người. Nó
công khai chống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Bà la môn, bác bỏ uy
quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người”.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển
Người sáng lập Đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni là Siddharha(Tất Đạt Đa) họ là
Gautama (Cù Đàm), con trai đầu của vua Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng họ Sakya, có
kinh đô là thành Kapilavatthu (Ca- tỳ - la - vệ). Phật Thích Ca sinh ngày 8 tháng 4 năm
563 TCN và mất năm 483 TCN. Năm 29 tuổi, ông từ bỏ cuộc sống vương giả đi tu
6
luyện tìm con đường diệt trừ nỗi đau khổ của chúng sinh. Sau 6 năm khổ luyện, ông đã
"ngộ đạo", tìm ra chân lý "Tứ diệu đế" và "Thập nhị nhân duyên". Trong quá trình phát
triển, để phù hợp với từng thời đại, thích nghi với từng dân tộc, Phật giáo dần dần phân
hóa thành hai bộ phái lớn đó là tiểu thừa và đại thừa hay còn gọi là Phật giáo nam
Phật đã nói "Như mặn là vị của nước biển, còn vị của đạo ta là giải thoát"
Tóm lại, Đạo Phật là con đường giải thoát dành cho tất cả chúng sanh, không
phân biệt ai. Đạo Phật nói lên sự thật, là một con đường khách quan để đi tới chân lý.
Giáo lý của Đạo Phật không phải do Phật sáng tạo ra mà là chân lý khách
quan. Phật chỉ là người phát hiện, dấn thân và chứng đắc để rồi truyền dạy lại cho
chúng sanh cách giải thoát với lòng từ bi vô lượng. Sự cao quý của Phật ở chỗ xem tất
cả chúng sanh là bình đẳng và hoàn toàn có thể thành Phật. Hơn thế, khi hiểu Đạo Phật
sẽ thấy các đức Thế tôn thậm chí không coi Phật là một quả vị, là chứng đắc mà chỉ
là sự quay về với bổn nguyên của vũ trụ.
2.2. Triết học Vedanta
2.2.1. Hoàn cảnh ra đời
Trường phái Vedanta (Kết thúc Vêđa) xuất hiện vào thế kỷ II TCN,
do Badarayana khởi xướng và Sankara phát triển. Là một trường phái triết học – tôn
giáo, Vedanta tiếp nối các tư tưởng của Upanisad, đưa ra các kiến giải siêu hình và duy
tâm về nguyên nhân hình thành thế giới (vũ trụ và vạn vật). Cho tới ngày nay, triết hệ
Vedanta vẫn ảnh hưởng rất bao quát và sâu sắc. Có thể hiểu từ ngữ Vedanta theo hai
nghĩa. Nghĩa gốc của nó là cuối thời kinh Veda, tức chuyển qua thời các Upanishad.
Tự thân từ ngữ Vedanta có nghĩa là ‘cứu cánh và mục đích của kinh Veda’. Như thế,
triết hệ Vedanta quan tâm ưu tiên tới Brahman, thực tại tối hậu được mô tả trong các
Upanishad, triết hệ Vedanta cũng tự xem mình có nghĩa vụ liên tục cung cấp các thông
giải triết lý cho những tư liệu lớn rộng và muôn hình muôn vẻ trong kinh Veda. Tác
8
phẩm sớm sủa nhất và hiện vẫn lưu hành của triết hệ này có tên là Vedantasutra, trong
đó có cả những tóm lược các cuộc tranh luận diễn ra ở những thời kỳ trước nó.
2.2.2. Những tư tưởng chính
Những tư tưởng triết học cơ bản của Vedanta là:
Một là, thừa nhận sự tồn tại của Brahman – linh hồn vũ trụ là thực tại tinh thần
tối cao, là bản chất, là nguồn sống vĩnh hằng, là cội nguồn chi phối mọi sự sinh thành
và hủy diệt của mọi cái trong thế giới.
Hai là, coi Atman – linh hồn cá nhân – là hiện thân của Brahman nơi thể xác
triết học của giáo lý đạo Bàlamôn – Hinđu.
CHƯƠNG III: SO SÁNH TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT
HỌC VEDANTA
3.1. Những điểm khác biệt giữa tư tưởng triết học Vedanta và Phật
giáo
3.1.1. Quan niệm về giá trị con người
Quan niệm về giá trị con người của triết học Vedanta
Vedanta một trong những phái triết học được xem thuộc hệ thống của Bà la môn
giáo do đó nó cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi những đặc điểm của tôn giáo này. Trong xã
hội thời kỳ Bà La Môn Giáo (giai đoạn thứ hai của quá trình hình thành Ấn độ Giáo),
không phải người nào cũng có quyền được mong cầu một cuộc sống hạnh phúc trên cả
hai phương diện vật chất và tinh thần, chỉ có những tầng lớp thượng lưu, những người
của đẳng cấp trên, cụ thể là Bà la môn và Sát đế lợi. Thời kỳ này đạo Bà La Môn phát
10
triển rất mạnh, chiếm địa vị độc tôn trên vũ đài tư tưởng, chi phối gần như toàn bộ đời
sống tinh thần của xã hội.
Nói về sự phân chia giai cấp trong Rig Veda cũng đã khẳng định : giai cấp Bà la
môn được sinh ra từ miệng của Brahma, hai tay của Ngài tạo thành đẳng cấp sát đế lợi.
Hai bắp đùi của ngài là đẳng cấp Phệ xá. Từ hai bàn chân của Ngài là giai cấp thủ đà
la. Qua đây cho chúng ta thấy được rằng, Ấn độ giáo quan niệm về giá trị con người
hết sức bất công và không có sự bình đẳng. Đây là sự phân biệt chủng tộc, màu da,
cũng như về nguồn gốc xuất thân. Những người thuộc giai cấp dưới phải tuân thủ
nghiêm ngặt và phải tin tưởng tuyệt đối vào sự an bài này, cụ thể là của những giáo sĩ
Bà La Môn. Bà La Môn sở dĩ được coi là giai cấp tối cao, bởi vì họ là người độc quyền
về tri thức. Họ không những giải thích, chú giải các bộ kinh về Veda, dạy dỗ mọi người
mà còn có quyền thay mặt mọi người tiếp xúc với các đấng thần linh.
Quan điểm của Phật giáo về giá trị con người
Vì nhận ra được cuộc đời là chuỗi dài của khổ đau, luôn bị sanh, lão, bệnh, tử
chi phối nên thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, quyết
chí ra đi tìm đạo cứu đời. Sau khi chứng được quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh
không chấp nhận quan điểm của Ấn độ giáo về Atman (linh hồn). Theo Phật “ý tưởng
về linh hồn, về Ngã là một sự tin tưởng sai lạc, không có thực trong thực tại và nếu tin
tưởng như thế sẽ phát sinh những tư tưởng bất thiện về “tôi”, và “của tôi”, dục vọng
ích kỷ, kiêu căng ngã mạn, gây ra xung đột giữa cá nhân với cá nhân và giữa dân tộc
này với dân tộc khác…” .Cho dù linh hồn-được hiểu đơn giản là phần phi vật chất
trong con người cũng phải do duyên sinh. Đức Phật phân tích một người là tập hợp của
năm yếu tố: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó sắc (thuộc vật chất), bốn cái còn lại
12
(thuộc phi vật chất). Nói cách khác, ngũ uẩn là một hợp thể duyên sinh vô ngã, không
có cái nào tồn tại vĩnh cữu.
Mặt khác, Đức Phật bác bỏ về linh hồn nhằm không muốn cho các đệ tử của
Ngài mất thời gian tư biện về những vấn đề siêu hình. Theo Ngài những vấn đề này
không liên quan gì đến mục đích phạm hạnh, không có ích trong việc diệt trừ khổ đau,
thành tựu chánh trí và chứng ngộ niết bàn. Trong kinh Alagaddùpama Sutta thuộc
Majjhimà Nikàya Phật dạy: “ Này các Tỳ kheo, ta không thấy một linh hồn nào mà
nếu chấp nhận sẽ không còn phát khởi buồn sầu, bi thương, thống khổ, phiền muộn,
đớn đau”
3.1.3. Tư tưởng Nghiệp
Theo Ấn độ giáo nói chung và Vedanta nói riêng, Nghiệp là “hành động cá
nhân, đóng vai trò chủ chốt trong mọi việc, duy trì sự hài hòa vũ trụ, nhưng nó cũng
ảnh hưởng quan trọng đến sự liên hệ của một người trong thế giới vật chất và quần
thể”. Mặt khác, Nghiệp còn đóng vai trò quan trọng quyết định số phận của con người
và nó là động cơ chính tạo ra vòng luân hồi tái sinh. Trong Chàndogya Upanishad có
nói: “Những người khi ở trần gian này biết cư xử tốt, thì rồi cũng nhanh chóng sẽ được
sinh ra ở những đẳng cấp cao như giới Brahman, như Kshatriga, hay là như Vaisya.
Nhưng những kẻ ở trần gian này hành động, làm việc tồi tệ, độc ác… thì kiếp sau họ sẽ
được sinh ra như sự độc ác mà họ đã cư xử, sinh ra làm con chó, con heo, hoặc làm
giới Chandala (hạng người thấp kém nhất của xã hội, dạng thối tha, bị xã hội ruồng
rẫy)”
Đối với Phật giáo, Đức Phật cũng đã sử dụng thuyết Nghiệp ấy. Bởi vì trong
hết mọi tham ái, dục vọng, chấp trước…., là sự trở về sống thật với con người hằng
hữu xưa nay, bất sanh bất diệt. Phật giáo phủ nhận vai trò sáng tạo muôn loài của
Brahman và nói rằng: “Brahman chỉ là một giống sinh vật cao cấp hơn người, tuy sống
hạnh phúc và thọ mạng lâu hơn người, nhưng vẫn ở trong vòng sống chết luân hồi. Bản
thân Brahman, chính vì thiếu trí tuệ, cho nên tự cho mình là thượng đế, là đấng tạo thế.
Còn những người tu đạo Bà La Môn, tuy tự đặt cho mình cái đích cao nhất là hòa mình
vào Brahman, nhưng từ trước tới nay, chưa từng có một tu sĩ Bà La Môn nào dám mạo
nhận mình đã hòa hợp được với Brahman cả”
Trên đây là một số quan điểm cũng như về tư tưởng khác nhau giữa Phật giáo
và Ấn độ giáo. Dù có sai khác nhưng Phật giáo và Ấn giáo vẫn là suối nguồn tâm linh,
đã và đang tuôn chảy trong hàng triệu triệu trái tim của con người trên thế giới.
3.2. Những điểm tương đồng giữa triết học Vedanta và Phật Giáo
3.2.1. Điểm quan sát cơ bản:
Đối với việc giải quyết vấn đề nhân sinh, trong tư tưởng giới Ấn Độ cũng có rất
nhiều thuyết khác nhau, nhưng tựu trung đều quan sát quanh vấn đề “Bản ngã”. Bản
ngã là trung tâm của vũ trụ, là cuốn sách chứa đầy ý nghĩa thâm áo và có một giá trị vô
cùng cao cả. Về sau, trong tư tưởng giới Ấn Độ cũng có người không tán thành quan
niệm đó, nhưng chung quy ta không thấy một thuyết nào là không lấy vấn đề Bản ngã
làm điểm quan sát cơ bản. Thuyết “Vô ngã” của Phật giáo, mới nhìn ta thấy có vẻ như
mâu thuẫn với lập trường Bản ngã, nhưng thực ra thì cũng chỉ giải thích Bản ngã dưới
một hình thức khác mà vẫn lấy Bản ngã làm trung tâm điểm, như thế không có gì sai
biệt cả.
3.2.2. Sự nhất trí về nhân sinh quan và vũ trụ quan:
Từ vấn đề nhân sinh, tất nhiên lại phải tiến đến vấn đề vũ trụ, mà cái đặc sắc về
vũ trụ quan của các học phái Ấn Độ ở chỗ họ cho rằng vũ trụ là phản ảnh rộng lớn của
15
con người. Nói một cách khác, muốn khảo sát vũ trụ tất phải đứng trên lập trường nhân
sinh để quy định bản chất của vũ trụ. Như vậy, con người là tiểu vũ trụ trong cái đại vũ
trụ. Khuynh hướng ấy đã có từ ngàn xưa và được lưu truyền qua các thế hệ dưới nhiều
hình thức. Vũ trụ quan của Phật giáo cũng thừa nhận rằng, vũ trụ chẳng qua chỉ là sản
Sự duy trì và truyền bá này hoàn toàn phụ thuộc vào các giáo sĩ mà thôi. Có một điều
chúng ta không thể phủ nhận, dù Ấn độ giáo không được truyền bá rộng rãi như Phật
giáo nhưng ở tại Ấn độ nó có ảnh hưởng rất lớn và số lượng tín đồ rất đông, chiếm tỉ lệ
83% dân số (số lượng này được các nhà nghiên cứu thống kê vào năm 1991)
Đề cập đến Phật giáo, người ta thường gọi Phật giáo là đạo của Từ bi, trí tuệ hay
là đạo của sự giác ngộ, giải thoát. Mặc dù ngày nay tại Ấn độ Phật giáo không có nhiều
tín đồ, các Phật tử vẫn xem Ấn độ là đất thánh khai sinh ra Phật giáo, vì lịch sử Phật
giáo bắt đầu tại đó và hầu hết kinh điển Đạo Phật đều được kết tập tại Ấn độ.
Trong hơn hai mươi lăm thế kỷ qua, Phật giáo đã phát triển và lan rộng đến rất
nhiều nước trên thế giới và có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với đời sống của hàng triệu
triệu trái tim con người. Hàng mấy ngàn năm qua, giáo lý Phật giáo luôn là kim chỉ
nam định hướng cho nhận thức, hoạt động của con người và góp phần giáo dục, hoàn
thiện nhân cách cho từng cá nhân.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Văn Mưa (2011), Triết học phần I-Đại cương về lịch sử
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học sau đại học (2005)- Hà Nội
3. Trang web : http://vi.wikipedia.org/wiki/Vedanta
4. Trang web: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-94_4-10965_5-50_6-1_17-
38_14-1_15-1/
5. Trang web: http://www.quangduc.com/triet/136sauphai6.html
18
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ 2
1.1.Bối cảnh Ấn Độ thời cổ đại 2
1.2.Quá trình phát triển tư tưởng Ấn 2
1.3. Đặc điểm triết học Ấn Độ 4
CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ VEDANTA 5
2.1. Triết học Phật giáo 5