Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh
Đề tài:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC
VÊĐANTA Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI
Học viên thực hiện: Lâm Thúy Nhi
STT: 50 – Nhóm 5
Lớp: Ngày 4 – Khóa: 22
Viện Đào tạo Sau Đại học
TPHCM, tháng 12/2012
19
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa
Lời mở đầu
Nền đạo học phương đông đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức vô
tận về vũ trụ và nhân sinh. Trong mấy ngàn năm qua, nền đạo học này đã và đang
cống hiến cho nhân loại nhiều bài học vô giá về đạo đức, về triết lý nhân sinh…. và nó
như suối nguồn tuôn chảy bất tận vào hàng triệu triệu trái tim con người trên khắp thế
giới. Nói đến phương đông không thể không nhắc đến Ấn Độ. Ấn Độ là một trong
những cái nôi của nền triết học phương đông. Và cũng chính nơi đây đã khai sinh ra
nhiều trường phái triết học và tôn giáo lớn trên thế giới “một tiểu vũ trụ của các tôn
giáo và các nền triết học” Có một điều chúng ta không thể phủ nhận là triết học
Vedanta và triết học Phật giáo đều ra đời tại Ấn độ nhưng về tư tưởng cũng như về
giáo pháp có nhiều điểm khác biệt.
Có thể thấy rằng Đức Phật, giáo chủ khai sáng Đạo Phật, là một người được
giáo dục trong môi trường của Veda. Từ khi sinh ra, lớn lên và thậm chí cả khi đi xuất
gia tu hành, ngài cũng trang bị cho bản thân bằng những kinh nghiệm đã được hấp thu
từ nền giáo dục của truyền thống Veda. Sự tham cầu học và đạt được những kết quả
tối cao trong phương pháp của hai đạo sĩ A-la-la và Uất-đầu-ca, sự tìm cầu giải thoát
bằng đường hướng khổ hạnh , đã cho thấy rõ điều đó. Hơn nữa, cùng bắt nguồn trên
mảnh đất của triết lý, lẽ tất nhiên Phật giáo và Bà-la-môn giáo không thể nào không có
những mối quan hệ nhất định được.
19
thống chính thống và hệ thống không chính thống. Trong các trường phái tiết học cụ
thể luôn có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện
chứng và phép siêu hình với nhau.
Thứ hai, do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng tôn giáo mà triết học Ấn
Độ cổ đại thường là một bộ phận lý luận quan trọng tạo nên nội dung giáo lý của các
tôn giáo lớn. Tôn giáo của Ấn Độ có xu hướng “hướng nội” đi sâu tìm hiểu đời sống
tâm linh, tinh thần để phát hiện ra sức mạnh của linh hồn cá nhân con người; vì vậy,
triết học Ấn Độ cổ - trung đại mang nặng tính chất duy tâm chủ quan và thần bí.
Thứ ba, triết học Ấn Độ cổ đại rất quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề
thuộc về lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ của
con người) nhằm tìm kiếm phương tiện, con đường, cách thức giải thoát chúng sinh ra
khỏi điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khắc nghiệt.
1.2.2 Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại:
Dưới sự tác động, chi phối, thống trị của triết lý Veda, Upanishad, và giáo lý
đạo Bàlamôn được mệnh danh là tư tưởng truyền thống chính thống, chính người Ấn
Độ đã phân các hệ thống triết học của họ thành hai loại lớn: Các hệ thống chính thống,
và hệ thống không chính thống.
Các trường phái triết học được gọi là hệ thống Bàlamôn chính thống – tức các
darshanas – là các trào lưu bằng cách này hay cách khác đều thừa nhận ưu thế mặc
phải tối cao của kinh Veda và triết lý về Tinh thần sáng tạo vũ trụ tuyệt đối tối cao
Brahman trong Upanishad, biện hộ cho giáo lý của đạo Bàlamôn, bảo vệ cho chế độ
phân biệt đẳng cấp xã hội. Hệ thống triết học chính thống gồm có 6 trường phái, gọi là
6 darshanas (quan điểm): trường phái triết học Samkhya, trường phái triết học Nyaya,
trường phái triết học Vaisesika, trường phái triết học Mimansa, trường phái triết học
Yoga và trường phái triết học Vendata.
19
Các trường phái triết học tôn giáo không chính thống có tư tưởng phủ nhận uy
thế tối cao của kinh Veda và Upanishad, phê phán giáo lý của đạo Bàlamôn, đả phá
chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội, bao gồm: Phật giáo, trường phái triết học Jaina và
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Tư tuởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó được viết thành
sách, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn. Hai thứ văn tự căn bản ghi các
sách của Phật giáo là Bắc Phạn ( Sanskrit) và Nam Phạn (Pàli), được tổ chức thành
Tam tạng : Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận.
Theo kinh phật người sáng lập ra Đạo phật là Xitđácta Gôtama (siddharta
Gautama), thái tử của nước Capilavastu, con vua nước Tịnh Phạn thuộc giai cấp Sát
Đế Lỵ, dòng Kiều Tất La là một đại quý tộc ở Ấn Độ, gần dưới chân dãy núi Hy Mã
Lạp Sơn (Bây giờ là nước Népal). Bà Hoàng hậu, vợ của vua Tịnh Phạn là Ma Gia.
19
Năm Ngài hai 29 tuổi sau khi đã để lại cho Tịnh Phạn vương một người cháu
nội là La Hầu La. Thái Tử quyết định rời bỏ Hoàng gia, từ bỏ cuôc đời vinh hoa phú
qúy, trốn ra khỏi hoàng thành, cắt tóc vào rừng sâu mong được yên tĩnh để tìm nghĩ
phương pháp cứu độ chúng sinh thoát khỏi vòng khổ ải và đưa họ lên bờ giác ngô vĩnh
viễn yên vui. Đến năm 35 tuổi Ngài đắc đạo thành Phật với danh hiệu là Phật Thích Ca
Mâu Ni.
Về niên đại của Phật, có người nói Phật sinh năm 563 TCN và mất năm 483
TCN, có người lại cho rằng Phật sinh năm 624 TCN và mất năm 544 TCN. Ngày nay,
tín đồ đạo Phật lấy năm 544 TCN làm năm mở đầu kỳ nguyên Phật giáo.Sau đó Đạo
phật được truyền bá nhanh chống ở bắc Ân Độ.
Từ Thế kỷ IV đến Thế kỷ III TCN, đạo phật đã triệu tập 3 kỳ đại hội ở
Magadha. Sau kỳ đại hội thứ 3 thì Đạo phật mới được truyền đi các nước khác ngoài
Ấn độ và mang nặng bản sắc của các nước đó, chủ yếu là các nước trong khu vực
Đông Nam Á.
Sau đó đến khoảng năm 100 Đại hội Phật giáo được triệu tập lần thứ 4 Pasan,
người ta có đưa thêm một số giáo lý mới, gọi là phật giáo cải cách và từ đây đạo phật
được chia ra 2 phái: tiểu thừa và đại thừa. Sau đại hội lần thứ 4 thì Đạo phật đã được
truyền bá rộng rãi sang nhiều nước trên thế giới. Nhưng lúc này thì Đạo phật đã bắt
đầu suy yếu, và đến thế kỉ thứ 13, Phật giáo được xem là bị tiêu diệt tại Ấn Độ - nơi
sản sinh đạo Phật.
“giải thoát” khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn. Tính
quần chúng của luận điểm nhân sinh Phật giáo thể hiện ở chỗ nêu cao tinh thần “bình
đẳng giác ngộ”, tức là quyền thực hiện sự giải thoát là cho tất cả mọi người mà cao
19
hơn nữa là của mọi “chúng sinh”. Điều này mang tính nhân bản sâu sắc, vượt qua giới
hạn đẳng cấp khắc nghiệt vốn là một truyền thống chính trị ấn Độ cổ đại. Nó nói lên
khát vọng “tự do cho tất cả mọi người”, không thể là độc quyền của một đẳng cấp nào,
dù đó là đẳng cấp tăng nữ hay quý tộc, bình dân hay tiện nô. Nhưng đó không phải kêu
gọi gián tiếp cho quyền bình đẳng về mặt chính trị mà là bình đẳng trong sự mưu cầu
cứu cánh giác ngộ. Có thể, đây là lời kêu gọi gián tiếp cho quyền bình đẳng xã hội của
Phật giáo, và như vậy Phật giáo thật sự là một trường phái thuộc phái “không chính
thống” của nền tư tưởng Ấn Độ cổ đại.
Nội dung triết học nhân sinh của Phật giáo tập trung ở bốn luận điểm (gọi là “tứ
diện đế”). Bốn luận điểm này được Phật giáo coi là bốn chân lý vĩ đại về cuộc sống
nhân sinh cho bất cứ cuộc sống nhân sinh nào thuộc đẳng cấp nào.
- “Khổ đế”: Sự thật nơi cuộc sống nhân sinh không có gì khác ngoài sự đau khổ, ràng
buộc hệ luỵ, không có tự do. Đó là 8 nỗi khổ trầm lâm bất tận mà bất cứ ai cũng phải
gánh chịu: Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Thụ biệt Ly (yêu thương chia lìa), Oán tăng hội (oán
ghét nhau mà phải sống với nhau), Sở cầu bất đắc (cái mong muốn mà không đạt
được), và Ngũ thụ uẩn (5 yếu tố vô thường nung nấu làm khổ).
- “Nhân đế”: là luận điểm giải thích những nguyên nhân sự thật đau khổ nơi cuộc sống
nhân sinh. Đó là 12 nguyên nhân (thập nhị nhân duyên): vô minh, hành, thức, danh
sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh và lão - tử. Trong 12 nhân duyên ấy thì “vô
minh” là nguyên nhân thâu tóm tất cả. Bở vậy diệt trừ vô minh là diệt trừ tận gốc rễ sự
đau khổ nhân sinh. Dưới góc độ nhận thức, vô minh là “ngu tối”, “không sáng suốt”,
“thiếu giác ngộ chân lý”.
- “Diệt đế”: Là luận điểm về khả năng có thể tiêu diệt được sự khổ nơi cuộc sống nhân
sinh, đạt tới trạng thái Niết bàn, cứu cánh của hành động tự do. Luận điểm này cũng
bộc lộ tinh thần lạc quan tôn giáo của Phật giáo; cũng thể hiện khát vọng nhân bản của
nó muốn hướng con người đến niềm hạnh phúc “tuyệt đối”; khát vọng chân chính của
và hoà nhập về với nó khi tiêu tan, đó là Linh hồn vũ trụ tối cao Brahman. Brahman là
thực thể duy nhất, tuyệt đối, vĩnh viễn, bất diệt, “vô hình không thể nắm bắt, không thể
lấy gì tỉ nghĩ, không màu sắc, không mắt, không tai, không tay, không chân, những
hằng hữu không có gì không thấu, ở khắp cả và không thể đụng chạm, không có cái gì
không có nó…”. “Brahman là nguồn sáng của mọi nguồn sáng”, là nguồn sống, là
Linh hồn vũ trụ tối cao.
Hai là, linh hồn cá biệt (Atman) chỉ là hiện thân của Bradman trong mỗi chúng
sinh. Cho nên về bản chất Atman và Brahman là đồng nhất. Nhưng vì Atman thể hiện
trong mỗi thân xác con người với cảm giác, ý chí, dục vọng, nên con người đã lầm
tưởng rằng linh hồn cá nhân là khác với Linh hồn vũ trụ tối cao. Những hành động
của con người nhằm thoả mãn ý chí dục vọng của mình đã gây nên nghiệp báo, luân
hồi, làm cho linh hồn con người vốn bản lai thanh tịnh, trở nên lu mờ ám muội, phải
lặn lội trôi dạt trong thế giới phù du, đầu thai vào hết kiếp này sang kiếp khác, hết thân
xác này đến thân xác khác. Giải thoát chính là dứt bỏ mọi sự ràng buộc của thể xác và
nhục dục đối với linh hồn, phải dốc lòng tu luyện, suy tư, chiêm nghiệm để nhận ra
tính thần thánh của mình, đưa linh hồn bất tử trở về đồng nhất với Linh hồn vũ trụ tối
cao Brahman.
Ba là, coi thế giới vật chất là ảo ảnh vô minh của con người mang lại.
19
Chương 3: So sánh triết học Phật giáo và triết học Vedanta
3.1. Những điểm tương đồng
Căn cứ trên cái nhìn của triết học Phật giáo và Vêđanta với tư tưởng Veda vẫn
xứng đáng là nguồn cảm hứng cho sự bộc phát những tư tưởng triết học của dân tộc
Ấn Độ. Trong một giới hạn nào đó, giữa Vêđanta và Phật giáo đã tìm thấy nhau ở
những điểm chung:
3.1.1. Vấn đề trung tâm
Tư tưởng triết học, tôn giáo Ấn Độ tuy thiên sai, vạn biệt, song đều đưa đến
một điểm then chốt, đó là việc giải quyết vấn đề nhân sinh. Những nhà tư tưởng Ấn
Độ đi tìm chân lý không phải để triết lý về những điều trừu tượng viển vông và khô
khan mà đều tập trung vào một mục đích tối cao là “tìm ra chỗ quy hướng của kiếp
giới lý tưởng yên vui, bất biến. Cho nên nói giải quyết vấn đề nhân sinh, bất luận theo
ý nghĩa nào, đều lấy sự giải thoát làm mục tiêu. Tư tưởng giải thoát đã trở thành một
trong những đặc điểm nổi bật và xuyên suốt của triết học, tôn giáo Ấn Độ. Hai giáo
phái triết học này đều đi đến một mục đích chung, một lý tưởng cao cả nhất đó là giải
thoát.
3.1.4. Nguyên lý cơ bản
Vấn đề nghiệp lực được coi là nguyên lý cơ bản của hai trường phái này, đồng
thời cũng là của tất cả các trường phái triết học, tôn giáo Ấn Độ. Nghiệp là những
hành vy thiện hay ác, do “thân nghiệp, “khẩu nghiệp” mà con người đã tạo tác ở kiếp
trước rồi chất chứa trong tâm thức của con người để đến kiếp này trở thành động lực
chi phối đến vận mệnh. Làm điều thiện thì có nghiệp tốt ứng báo điều lành, điều tốt
19
cho đời sau. Gây điều ác thì có nghiệp xấu ứng báo điều xấu cho đời sau. Do đó linh
hồn con người phải chịu đầu thai vào hết loài này hay loài khác.
3.2. Những điểm khác biệt
3.2.1. Ý nghĩa chính trị - xã hội
Phật giáo: trong xã hội Ấn độ cổ đại thời bấy giờ, với sự thống trị của tư tưởng
duy tâm – tôn giáo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp rất khe khắt, nghiệt ngã.
Phật giáo ra đời là tiếng nói trong làn sóng phủ nhận uy thế của kinh Vêđa, phê phán
giáo lý Bàlamôn, lên án chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội; đòi tự do tư tưởng và bình
đẳng xã hội. Đó là sự thể hiện ý chí phản kháng của nhân dân lao động chống lại
những bất công trong xã hội Ấn Độ đương thời.
Vêđanta: đại diện cho tầng lớp Tăng lứ, quý tộc, giai cấp thống trị trong xã hội
Ấn Độ cổ đại ra sức bảo vệ quyền lời cho chế độ mình, biện hộ cho giáo lý Balamon,
thừa nhận uy thế của kinh Vêđa.
3.2.2. Thế giới quan
Phật giáo: Cho rằng thế giới về bản chất là một dòng biến ảo vô thường, không
do một vị thần sáng tạo ra cả. Do vậy, trong thế giới không thực có vật, không thực có
cái ngã, không có thực thể nào tồn tại thường định và vĩnh viễn. Theo triết lý Phật
giáo, sở dĩ vũ trụ vạn vật biến hóa vô thường chính là do vạn vật trong vũ trụ chịu sự
đẳng. Đây là sự phân biệt chủng tộc, màu da, cũng như về nguồn gốc xuất thân. Những
người thuộc giai cấp dưới phải tuân thủ nghiêm ngặt và phải tin tưởng tuyệt đối vào sự
an bài này. Thân phận con người không được tôn trọng như nhau, những người thuộc
giai cấp trên thì được tôn trọng tuyệt đối, còn những người thuộc giai cấp dưới được
19
coi là những kẻ nô lệ. Đời sống vật chất của những người thuộc giai cấp thấp còn chưa
đầy đủ, thì làm gì có cơ hội thăng hoa trong đời sống tinh thần.
3.2.4. Tư tưởng giải thoát
Phật giáo: Cho rằng giải thoát tức là trạng thái đời sống tin thần của con người
vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục, là sự “diệt” hết mọi dục vọng và
đạt tới cảnh trí Niết bàn với cái tâm tuyệt đối thanh tĩnh, không vọng động, an lạc, bất
sinh, bất diệt và tự do tự tại, bằng con đường tu luyện đạo đức giữ nghiêm giới luật và
tu luyện tri thức, thiền định, thực nghiệm tâm linh để đạt tới giác ngộ theo “Tam học”
(giới, định, tuệ).
Bằng học thuyết “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên” và “Bát chính đạo”, Phật
giáo đã chỉ ra căn nguyên biến đổi không ngừng của vũ trụ và thế gian, tìm ra nguồn
góc của nỗi khổ cuộc đời con người, từ đó vạch ra con đường, cách thức để giải thoát
chúng sinh ra khỏi nghiệp báo, luân hồi, đó là con đường trung đạo. Trong kinh
Chuyển Pháp Luân, Đức Phật đã nói: “Người xuất gia có hai cực đoan cần tránh, một
con đường thấp hèn chủ trương cuộc sống chỉ cần khoái lạc, một con đường cực nhọc
vô ích như chủ trương của phái khổ hạnh ép xác. Con đường trung đạo thì ở giữa hai
thái cực kia, có thể dẫn đến giác ngộ và giải thoát”.
Vêđanta: Phạm trù giải thoát được định nghĩa là sự xóa bỏ mọi ràng buộc của
thế giới nhục dục, đưa tiểu ngã (Atman) hay linh hồn cá biệt phải nhận thức được và
hòa nhập vào đại ngã (Bratman). Con đường giải thoát là con đường nối liền tiểu ngã
tương đối với đại ngã tuyệt đối, bằng nhận thức trực giác nhận ra bản chất chân thực
của thực tại vũ trụ, chân bản của con người và thực tướng của vạn vật, vượt qua thế
giới hiện tượng hữu hình, hữu hạn, thường biến, giả tướng, đưa linh hồn cá biệt đồng
nhất với tinh thần thế giới vô ngã, tuyệt đối, tối cao.
19
5. Doãn Chính và Lương Minh Cừ (1991), Lịch Sử Triết Học ấn Độ Cổ Đại, NXB:
Đại Học Và Giáo Dục Chuyên Nghiệp.
6. Trang web: />60_14-1_15-1/
19
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Khái quát về triết học Ấn Độ thời cổ đại 2
1.1Bối cảnh Ấn Độ thời cổ đại 2
1.2Triết học Ấn Độ cổ đại 2
1.2.1. Đặc điểm triết học Ấn Độ cổ đại 2
1.2.2. Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại 3
Chương 2: Khái quát về triết học Phật giáo và triết học Vedanta 5
2.1Triết học Phật giáo 5
2.1.1. Điều kiện ra đời 5
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển 5
2.1.3. Các nét đặc trưng 6
2.1.3.1. Thế giới quan 6
2.1.3.2. Nhân sinh quan 7
2.2Triết học Vedanta 9
2.2.1. Điều kiện ra đời 9
2.2.2. Quá trình hình thành và phát triển 9
2.2.3. Các nét đặc trưng 10
Chương 3: So sánh triết học Phật giáo và triết học Vedanta 11
3.1Những điểm tương đồng 11
3.1.1 Vấn đề trung tâm 11
3.1.2 Thế giới quan và nhân sinh quan 11
3.1.3 Quan niệm yếm thế và giải thoát 12
3.1.4 Nguyên lý cơ bản 12
3.2Những điểm khác biệt 13
3.2.1 Ý nghĩa chính trị - xã hội 13