Tiểu luận triết học SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
−−
ĐỀ TÀI 1:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC
VEDANTA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
GVPT : TS.BÙI VĂN MƯA
HVTH : PHẠM THỊ HỒNG
NGA
STT : 47
Nhóm : 05
Lớp : TCDN – Ngày 4
Khoá :22
TP.HCM, Tháng 12/2012
TP.HCM, Tháng 12/2012
LỜI MỞ ĐẦU

Nền đạo học phương đông đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức
vô tận về vũ trụ và nhân sinh, cái nôi của nền triết học nhân loại. Trong đó, chúng ta
không thể không nói đến nền triết học Ấn Độ cổ đại, đã hình thành và phát triển,
vừa mang tính đa dạng vừa mang tính thống nhất, tạo ra sự sống động ,muôn màu,
muôn vẻ của nền triết học nhân loại.
Trong thời kỳ cổ đại, mặc dù cùng được hình thành và phát triển từ trong
truyền thống Vêđa, nhưng các trường phái triết học Ấn Độ lại luôn xung đột lẫn
nhau. Đó là sự mâu thuẫn giữa hệ thống chính thống và phi chính thống. So với các
nền triết học cổ đại khác, nền triết học Ấn Độ biểu hiện ra là một nền triết học chịu
ảnh hưởng lớn từ nhiều tư tưởng tôn giáo. Hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ
cổ đại đều có sự thống nhất giữa tư tưởng triết học và tư tưởng tôn giáo (trừ trường
phái Lokayata). Hai trường phái theo tư tưởng triết học còn lại là Jaina và Phật giáo,
tuy tuyên bố đoạn tuyệt với truyền thống văn hóa Veda (truyền thống tôn giáo). Do

Họ tổ chức ra các công xã nông thôn và phân chia ruộng đất cho các thành viên
trong công xã.
− Khoảng 1000 đến 600 năm trước CN, thế lực người Aryan bành trướng dẫn đến
sự phân hóa giai cấp gay gắt tạo điều kiện hình thành các quốc gia. Trong đó,
hùng mạnh nhất là quốc gia Magadha ở hạ lưu sông Hằng.
− Về sau, vương triều Magadha bị lật đổ, thành lập nên triều đại Maurya (312
trCN), Asoka đã thống nhất và kiểm soát toàn bộ Ấn độ. Sau khi Asoka mất
vương triều này suy sụp và dẫn đến diệt vong vào năm 28 trCN. Ấn độ lại bị
ngoại bang xâm lược, mãi đến thế kỷ IV thì mới mới được thống nhất dưới triều
Gupta và triều đại Harsa.
1.1.4 Về xã hội
HVTH: Phạm Thị Hồng Nga – Ngày 4K22
Chương 1: Khái quát Ấn Độ thời cổ đại
3
− Xã hội Ấn Độ cổ đại là thời kỳ chế độ nô lệ mang tính chất gia trưởng, và chế
độ công xã nông thôn ở Ấn Độ cũng khá phát triển. Toàn bộ ruộng đất thuộc
quyền sở hữu của Nhà nước với sự phân chia đẳng cấp hết sức khắc nghiệt. Xã
hội có 4 đẳng cấp lớn: Tăng lữ (Bà la môn), Đẳng cấp quý tộc, Đẳng cấp bình
dân tự do, Đẳng cấp nô lệ.
1.1.5 Về văn hóa
− Ngôn ngữ và chữ viết: rất phong phú và đa dạng như Pali (ngôn ngữ của Phật
Giáo), ngôn ngữ Sanskrit (ngôn ngữ của tầng lớp quý tộc)….
− Thiên văn học: xuất hiện từ thời Veda, họ đã quy định được một tháng gồm ba
mươi ngày, một năm gồm có mười hai tháng….
− Toán học: người Ấn độ đã phát hiện ra chữ số thập phân và tính được số Pi ….
− Y học: ngày càng phát triển, họ đã biết dùng lá cây chữa bệnh đơn giản và điều
trị bệnh lâm sàng một cách thuần thục và chính xác….
− Kiến trúc: nổi bật nhất là lối kiến trúc xây dựng chùa chiền, đền tháp.
− Văn học: dân Ấn đã sáng tác ra các áng văn chương bất hủ như bộ Veda và các
bộ sử thi: Mahabharata, Ramayana…

khoảng thế kỷ VI trước công nguyên.
+ Trường phái Lokayata: mang tính duy vật chủ nghĩa và vô thần tương đối
triệt để, nhưng chỉ tồn tại trong một thời gian tương đối ngắn.
+ Triết phái Budđhsam (Phật giáo): Là một trường phái triết học tôn giáo lớn
của Ấn Độ cố đại. Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo Ấn độ cổ
đại được thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba phạm trù : vô ngã, vô
thường, duyên khởi ) & nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu: khổ đế, nhân
đế, diệt đế, đạo đế.
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC
VEDANTA
2.1 Triết học Phật giáo.
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời
− Phật giáo là một trường phái triết học - tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế
kỷ VI tr. CN ở miền Bắc Ấn, phía Nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa ấn
Độ với Nêpan hiện nay. Người sáng lập Đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni sinh
ngày 8 tháng 4 năm 563 tr. CN có tên thật là Siddharha(Tất Đạt Đa) họ là
Gautama (Cù Đàm), con trai đầu của vua Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng họ
HVTH: Phạm Thị Hồng Nga – Ngày 4K22
Chương 1: Khái quát Ấn Độ thời cổ đại
5
Sakya. Năm 29 tuổi, ông từ bỏ cuộc sống vương giả đi tu luyện tìm con đường
diệt trừ nỗi đau khổ của chúng sinh. Sau 6 năm khổ luyện, ông đã "ngộ đạo",
tìm ra chân lý "Tứ diệu đế" và "Thập nhị nhân duyên".
− Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ
đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm con đườn giải thoát con người
khỏi nỗi khổ đó.
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển.
− Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viết thành văn
thể hiện trong kinh "Tam tạng"(Tripitaka) gồm ba bộ phận: Tạng kinh (Sutra -
pitaka) ghi lời Phật dạy; Tạng luật ( Vinaya - pitaka) gồm các giới luật của đạo

xuất hiện của vạn vật, kể cả con người cũng chỉ là kết quả hội tụ tạm thời
giữa sắc và danh, khi sắc và danh tan ra, chúng sẽ mất đi.
2.1.3.2 Nhân sinh quan :Đứng trước sự khổ đau của nhân loại, Đức Phật quan sát
cái khổ, cội nguồn dẫn đến những cảnh khổ và tìm ra cách tận diệt những
mầm mống khổ, một khi cái khổ không còn nữa, thì mới có thể đi tới sự giải
thoát. Tất cả được trình bày trong thuyết Tứ diệu đế. Thuyết này gồm bốn bộ
phận là : khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
 Khổ đế :
• Đức Phật nhận định : khổ là tất cả những cái phiền não trên thế gian này mà
con người phải gánh, không lúc này thì cũng lúc khác. Theo Phật, có 8 nỗi
khổ (bát khổ) trầm luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là sinh khổ,
lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, sở cầu bất đắc khổ, oán tăng hội
khổ, ngũ uẩn khổ.
 Nhân đế :
• Nhân đế là lý luận về những nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ nơi cuộc sống con
người. Phật cho rằng con người còn chìm đắm trong bể khổ khi không thoát
ra khỏi dòng sông luân hồi. Luân hồi do nghiệp tạo ra.
 Diệt đế :
• Diệt là tiêu diệt, trừ diệt. Diệt ở đây tức là diệt dục vọng mê mờ, phiền não.
Ðế là lý lẽ chân thật, đúng đắn do trí tuệ sáng suốt soi thấu và thuyết minh.
Diệt đế là sự thật đúng đắn về hoàn cảnh tốt đẹp mà mọi người có thể đạt
được khi đã diệt hết mọi phiền não, mê mờ.
 Đạo đế :
• Đạo đế tức là con đường chuyển hóa, con đường đưa đến giải thoát, là
phương pháp thực hiện để đạt được an lạc, hạnh phúc trong đời sống. Muốn
HVTH: Phạm Thị Hồng Nga – Ngày 4K22
Chương 1: Khái quát Ấn Độ thời cổ đại
7
được như vậy thì phải thực hành bát chính đạo. Đó là: chính kiến (hiểu biết
đúng), chính tư duy (suy nghĩ đúng), chính ngữ (lời nói chân thật), chính

8
(átman) phải dốc lòng tu luyện, suy tư, chiêm nghiệm tâm linh để nhận ra bản
tính thần thánh của mình mà quay về với Brátman.
− Ba là, coi thế giới vật chất chỉ là ảo ảnh do vô minh của con người mang lại.
CHƯƠNG 3: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT
GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
3.1 Sự tương đồng giữa Phật giáo và Vedanta Ấn Độ cổ đại.
Căn cứ trên cái nhìn của triết học Phật giáo và Vêđanta với tư tưởng Veda vẫn xứng
đáng là nguồn cảm hứng cho sự bộc phát những tư tưởng triết học của dân tộc Ấn
Độ. Trong một giới hạn nào đó, giữa Vêđanta và Phật giáo đã tìm thấy nhau ở
những điểm chung:
3.1.1 Nội dung chủ đạo.
− Tư tưởng triết học, tôn giáo Ấn Độ tuy thiên sai, vạn biệt, song đều đưa đến một
điểm then chốt, đó là việc giải quyết vấn đề nhân sinh. Những nhà tư tưởng Ấn
Độ đi tìm chân lý không phải để triết lý về những điều trừu tượng viển vông và
khô khan mà đều tập trung vào một mục đích tối cao là “tìm ra chỗ quy hướng
của kiếp người, tìm lấy một phương châm thực tiễn để quyết định cho lẽ sống”
và đạo sống của con người.
3.1.2 Thế giới quan và nhân sinh quan
− Hai trường phái triết học này đều cố gắng đi tìm cái chân bản của con người mà
về bản chất là đồng nhất với bản thể của vũ trụ hay nguồn sống của vũ trụ tuyệt
đối vĩnh hằng, hay tìm ra cái vũ trũ tuyệt đối, sáng suốt, thanh tịnh trong cái ta
giả, cái ta hiện tượng đầy hư vọng và tham dục của con người.
− Những vấn đề về bản chất đời sống tinh thần, tâm linh, đạo đức, tâm lý của nhân
sinh là những vấn đề cốt lõi nhất của triết học, tôn giáo Ấn Độ. Để tìm ra đạo
sống của con người và để tinh thần con người vượt qua được sự mê hoặc của
thế giới hiện tượng giả tưởng, ảo vọng khát khao vươn tới bản thể tuyệt đối tối
cao, vĩnh viễn, là nguồn sống của vũ trụ.
HVTH: Phạm Thị Hồng Nga – Ngày 4K22
Chương 1: Khái quát Ấn Độ thời cổ đại

mạng hiện thực.
HVTH: Phạm Thị Hồng Nga – Ngày 4K22
Chương 1: Khái quát Ấn Độ thời cổ đại
10
3.2 Sự khác biệt giữa Phật giáo và Vedanta Ấn Độ cổ đại.
3.2.1 Ý nghĩa chính trị - xã hội
− Phật giáo:
• Trong xã hội Ấn độ cổ đại thời bấy giờ, với sự thống trị của tư tưởng duy
tâm – tôn giáo Balamon và chế độ phân biệt đẳng cấp rất khe khắt, nghiệt
ngã. Phật giáo ra đời là tiếng nói trong làn sóng phủ nhận uy thế của kinh
Vêđa, phê phán giáo lý Balamon, lên án chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội;
đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội. Đó là sự thể hiện ý chí phản kháng
của nhân dân lao động chống lại những bất công trong xã hội Ấn Độ đương
thời.
− Vêđanta:
o Đại diện cho tâng lớp Tăng lứ, quý tộc, giai cấp thống trị trong xã hội Ấn Độ
cổ đại ra sức bảo vệ quyền lời cho chế độ mình, biện hộ cho giáo lý Balamon,
thừa nhận uy thế của kinh Vêđa.
3.2.2 Thế giới quan
− Phật giáo:
• Cho rằng thế giới về bản chất là một dòng biến ảo vô thường, không do một
vị thần sáng tạo ra cả. Do vậy, trong thế giới không thực có vật, không thực
có cái ngã, không có thực thể nào tồn tại thường định và vĩnh viễn.
• Theo triết lý Phật giáo, sở dĩ vũ trụ vạn vật biến hóa vô thường chính là do
vạn vật trong vũ trụ chịu sự chi phối của luật nhân quả. Nhân nhờ duyên
mới sinh ra quả, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới lại nhờ duyên
mà thành quả mới…; cứ như thế, vạn vật biến đổi, hợp – tan, tan – hợp mà
không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng nào cả.
• Sự biến hóa, vận động không ngừng của vũ trụ do nhân duyên mà Phật giáo
gọi đó là” chư hành vô thường”.

rõ trong suốt quá trình hoằng dương thánh giáo của Ngài. Đức Phật mở rộng
cánh cửa giải thoát nhằm tiếp nhận tất cả mọi người bất kể sang giàu, cao
thượng hay hèn hạ….
• Đức Phật luôn đề cao giá trị của con người, bất luận là nam hay nữ. Ngài
cho rằng ai cũng có thể tu tập và đạt được giác ngộ giải thoát. Nghĩa là một
người cho dù xuất thân từ giai cấp Balamon cao quý hay ở những giai cấp
thấp, nếu thực hành theo giáo pháp của Ngài thì đều được thưởng thức
hương vị thánh đạo.
HVTH: Phạm Thị Hồng Nga – Ngày 4K22
Chương 1: Khái quát Ấn Độ thời cổ đại
12
• Điểm đặc biệt nhất là Phật giáo đã tiếp nhận nữ giới vào trong giáo đoàn. Vì
Ngài thấy rõ “người nữ có khả năng thành tựu các đạo và các quả”. Có thể
nói đây là một cuộc cách mạng về giới tính đầy tính nhân văn.
− Vedanta:
o Quan niệm về giá trị con người hết sức bất công và không có sự bình đẳng.
Đây là sự phân biệt chủng tộc, màu da, cũng như về nguồn gốc xuất thân.
Những người thuộc giai cấp dưới phải tuân thủ nghiêm ngặt và phải tin tưởng
tuyệt đối vào sự an bài này. thân phận con người không được tôn trọng như
nhau, những người thuộc giai cấp trên thì được tôn trọng tuyệt đối, còn
những người thuộc giai cấp dưới được coi là những kẻ nô lệ. Đời sống vật
chất của những người thuộc giai cấp thấp còn chưa đầy đủ, thì làm gì có cơ
hội thăng hoa trong đời sống tinh thần.
3.2.4 Tư tưởng giải thoát
− Phật giáo
• Cho rằng giải thoát tức là trạng thái đời sống tin thần của con người vượt ra
khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục, là sự “diệt” hết mọi dục vọng
và đạt tới cảnh trí Niết bàn với cái tâm tuyệt đối thanh tĩnh, không vọng
động, an lạc, bất sinh, bất diệt và tự do tự tại, bằng con đường tu luyện đạo
đức giữ nghiêm giới luật và tu luyện tri thức, thiền định, thực nghiệm tâm

14
KẾT LUẬN
Qua phân tích trên đã cho thấy giữa triết học Phật giáo và triết học Vêđanta
vẫn là hai trường phái tư tưởng với hai phương tiện khác nhau, nhưng lại giống nhau
ở mục đích. Đó là việc đem đến sự giải thoát cho con người khỏi mọi khổ đau ràng
buộc, nhưng để đạt được mục đích đó thì mỗi trường phái dựa trên tưởng và giải
pháp luận của riêng mình để đưa ra những phương cách rất khác nhau như đã phân
tích ở trên.
Tư tưởng về vũ trụ quan và nhân sinh quan của triết học Vêđanta thì
phong phú và đa dạng. Nhưng cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề về thế giới và
con người lại không hiệu quả, bởi triết lý của họ mang nặng tính chất thần quyền, lễ
nghi cúng bái.
Trong khi đó nền tảng triết lý của trường phái Phật giáo lại tuyên bố rằng vạn
vật do duyên sinh nên tất cả là vô thường, vô ngã. Lời tuyên bố ấy đã đánh dấu một
bước ngoặc vô cùng trọng đại, giải thoát nhân sinh ra khỏi các triết lý thần khải.
Đối với xã hội, sự xuất hiện của tư tưởng triết học Phật giáo đã làm một cuộc
cách mạng xóa bỏ tư tưởng giai cấp đầy bất công. Về phương diện tu tập thì trường
phái Phật giáo chủ trương thực hành giáo lý Trung Đạo đả phá con đường khổ hạnh
Chính vì giá trị thiết thực ấy đã làm cho Phật giáo tồn tại mãi với thời gian như lịch
sử đã ghi nhận : “Tại các nước Á Đông, mọi nền đạo học, thần học hết sức phong
phú, nhưng cho đến nay dần dần tan biến đi để chỉ còn lại một Đạo Phật tồn tại và
đại diện cho Đông Phương trong thực tại sinh hoạt thế giới hiện nay”. Tất cả những
điều này minh chứng Phật giáo có một bản sắc độc đáo riêng mà các triết phái khác
không có được.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Văn Mưa (2011), Triết Học Phần I – Đại Cương Về Lịch Sử Triết
Học, Lưu Hành Nội Bộ.
2. Chandradhar Sharma (2005) (dịch giả: Nguyễn Kim Dân), Triết Học ấn
Độ Nghiên Cứu Và Phê Bình, NXB: Tổng Hợp Tp-HCM.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status