TIỂU LUẬN SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA SAU ĐẠI HỌC
  
BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Thầy BÙI VĂN MƯA VŨ VĂN CẢNH
LỚP: CHKT K20 ĐÊM 1
STT: 07 - NHÓM 1
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
  
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
………………………………………………………….

Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc
chung của tồn tại và nhận thức, là thái độ con người đối với thế giới, là khoa
học về những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Lịch sử Triết
học đã trãi qua biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, có lúc phát triển đến
đỉnh cao như giai đoạn triết học của Arixtốt, Đêmôcrít và Platôn nhưng cũng
có lúc biến thành một môn của thần học theo chủ nghĩa kinh viện trong một xã
hội tôn giáo bao trùm mọi lĩnh vực vào thế kỷ thứ X – XV. Sự phát triển của
Triết học là sự phát triển song song giữa hai nền Triết học phương Tây và
phương Đông. Do điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá mà sự
phát triển của hai nền Triết học có sự khác nhau. Nói đến triết học phương
Đông phải kể đến Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại. Đây
là hai trong số những chiếc nôi Triết học sớm nhất, lâu đời, phong phú và đã
tạo nhiều dấu ấn đặc biệt cho nền lịch sử Triết học. Triết học Ấn Độ cổ đại và
Triết học Trung Quốc cổ đại đều có chung đặc điểm là phân tích các vấn đề
xuất phát từ nhân sinh quan, tuy nhiên do đặc điểm kinh tế - chính trị, xã hội
khác nhau nên mỗi nền triết học này cũng có những đặc trưng khác nhau. Do
đó nhóm 1 chọn đề tài: “Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ
đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để phân tích sâu hơn về các vấn đề như sự
hình thành, phát triển và nét đặc thù cũng như những điểm tương đồng và khác
biệt của hai nền Triết học này.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Để tài này đặt ra các mục tiêu cần nghiên cứu sau:
• Sự tương đồng giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
• Sự khác nhau giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
5
Vũ Văn Cảnh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại

Quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại trải qua hai thời
kỳ chính: Thời kỳ Vêđa (khoảng thế kỷ XV đến thể kỷ VIII TCN) và thời kỳ cổ
điển (còn gọi là thời kỳ Bàlamôn – phật giáo, khoảng thế kỷ VI TCN đến thế kỷ
VI).
Một xu hướng khá đậm nét trong triết học ấn Độ cổ đại là quan tâm giải
quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng "hướng nội",
đi tìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân. Có thể nói: sự
phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học ấn
Độ cổ, trung đại (trừ trường phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết triết học
này đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến
duy tâm hay nhị nguyên.
Triết học Trung Quốc có mầm mống từ thần thoại thời Tam đại (Hạ, Thương,
Chu). Sự phát triển của triết học Trung Quốc cổ - trung đại là một quá trình đan
xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các trường phái (Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia,
Mặc gia và Pháp gia). Mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung Hoa
cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội.
Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp
giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn,
trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến
trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức phong
kiến phương Đông.
7
Vũ Văn Cảnh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung Hoa
thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự
biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hành tuy còn có những
hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và
biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới thế giới quan
triết học sau này không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu ảnh

nghiệp,v.v… đã tạo ra những xung đột ngấm ngầm trong xã hội nhưng bị kìm
giữ bởi sức mạnh tinh thần của nhà nước –tôn giáo. Xã hội phát triển một cách
chậm chạp và nặng nề.
• Điều kiện về văn hóa: Văn hóa ấn Độ được hình thành và phát triển trên cơ
sở điều kiện tự nhiên và hiện thực xã hội. Người Ấn Độ cổ đại đã tích lũy
được nhiều kiến thức về thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, giải thích được hiện
tượng nhật thực, nguyệt thực ở đây, toán học xuất hiện sớm: phát minh ra số
thập phân, tính được trị số π, biết về đại số, lượng giác, phép khai căn, giải
phương trình bậc 2, 3. Về y học đã xuất hiện những danh y nổi tiếng, chữa
bệnh bằng thuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc. Chữ viết đã xuất hiện từ thời
văn hóa Harappa; các bộ kinh Vêđa và sử thi sớm xuất hiện; Nghệ thuật tạo
hình như Kiến trúc, điêu khắc được thể hiện trong các cung điện, đền chùa,
tháp, lăng tẩm, trụ đá…; sản sinh ra nhiều tôn giáo lớn như đạo Bàlamôn –
Hinđu, đạo Phật, đạo jaina, đạo Xích,…
b) Các đặc điểm Triết học Ấn Độ cổ đại
Triết học Ấn Độ cổ đại là loại hình Triết học tôn giáo. Tôn giáo và Triết học
xen kẽ vào nhau. Trong Tôn giáo có màu sắc Triết học, trong Triết học có màu
sắc Tôn giáo. Tuy nhiên Tôn giáo của Ấn Độ có xu hướng “hướng nội” đi sâu
tìm hiểu sức mạnh của đời sống tâm linh, tinh thần, không phải “hướng ngoại”
như các tôn giáo phương Tây tìm kiếm sức mạnh nơi thượng đế.
Hầu hết các hệ thống Triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết vấn đề nhân
bản, đó là vấn đề nhân sinh quan và con đường giải thoát.
Cuộc đấu tranh giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm xung quanh các
vấn đề: Bản nguyên vũ trụ + Con người, linh hồn, đạo đức.
9
Vũ Văn Cảnh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
c) Quá trình hình thành và phát triển của Triết học
Ấn Độ cổ đại
Người ta phân chia quá trình thành 2 thời kỳ chính

+ Phái triết học không chính thống (Nastika) bác bỏ uy thế tối cao của kinh
Véđa, đạo Bàlamôn gồm 3 trường phái chính là: 1) Các trường phái triết học
vô thần, duy vật trong phong trào mới đòi tự do tư tưởng ở Đông ấn và trường
phái triết học duy vật tiêu biểu Lokayata hay chủ nghĩa duy vật khoái lạc
Charvaka; 2) Phật giáo và 3) Đạo Jaina.
d) Nội dung cơ bản TH Ấn Độ cổ đại
Tư tưởng Triết học cơ bản của Phật giáo nguyên thủy chủ yếu bàn về Thế
giới quan và Nhân sinh quan.
1/- Thế giới quan: (Thế giới quan: Quan niệm của con người về thế giới: tự
nhiên và xã hội)
Phật giáo đưa ra các luận điểm: Vô tạo giả, vô ngã, vô thường, nhân
duyên.
Vô tạo giả:
- Nghĩa là không có ai sáng tạo ra thế giới, bởi vì mọi vật đều có nhân, có
quả, không có nguyên nhân đầu tiên (Phật giáo không thừa nhận đấng sáng tạo)
- Mọi vật trong vũ trụ, kể cả con người là tự có theo luật nhân quả. Chúng
biến đổi vô cùng vô tận.
Vô ngã: Phật giáo cho rằng thế giới (vạn vật và con người) được cấu tạo
từ các yếu tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh). Sắc và danh chỉ hội tụ nhau trong
một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác, sinh sinh, hóa hóa, tan
hợp, hợp tan. Do đó vạn vật chỉ là dòng biến hóa hư ảo vô cùng, không có gì là
thường định. Phật giáo quan niệm: sự tồn tại của một con người ở trên đời chỉ là
ngắn ngủi bởi vì các yếu tố tạo nên con người chỉ nhóm lại trong chốc lát rồi lại
chuyển hóa thành cái khác.
Thủy + Hỏa + Thổ + Phong + Không/ 5 yếu tố vật chất (Sắc) + Thức / 1
yếu tố tinh thần (Danh)
Vô thường: Phật giáo quan niệm: Thế giới này không có cái gì là thường
định (ổn định), vĩnh hằng, đứng im một chỗ mà mọi vật đều thường xuyên biến
đổi theo một chu trình: Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Sinh là sinh ra, Trụ là tồn tại, phát
triển trong một thời gian, Dị là biến đổi, Diệt là tiêu vong, là mất.

a. Khổ đế: Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy
vì sao mà khổ, phương pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ. Theo cách
phân tích khác, Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường
chi phối nên khổ.
2, Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ
đến. Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da,
12
Vũ Văn Cảnh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi. Cái già tiến đến đâu thì suy
yếu đến ấy làm cho người ta phiền não.
3, Bệnh khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu,
thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.
4, Tử khổ: Là cái khổ khi người ta chết.
5, Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.
6, Sở cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích,
mong cầu hết cái này đến cái khác. Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu
được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.
7, Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.
8, Ngũ uẩn khổ: sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn – sắc, thụ, tưởng, hành,
thức.
b. Tập đế: Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ,
gồm ba nguyên nhân chính (tham, sân, si) còn gọi là tam độc, là nguồn gốc của
mọi sự khổ. Nhân đế được diễn giải trong thuyết thập nhị nhân duyên để thấy
được nguồn gốc của sự vật trong thế gian gồm:
1. Vô minh 2. Hành 3. Thức 4. Danh - sắc. 5. Lục nhập 6. Xúc 7. Thụ 8. Ái 9.
Thủ 10. Hữu 11. Sinh 12. Lão - tử
c. Diệt đế: Diệt đế là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống
thế gian để đạt tới cảnh giới Niết Bàn.

định.
3. Tuệ học: dùng để khắc phục si gồm chính kiến, chính tư duy.
3. Điều kiện ra đời, phát triển và nét đặc thù của Triết học
Trung Quốc Cổ
a) Điều kiện ra đời:
1. Nước có nhiều dân tộc: Có hơn 60 dân tộc với 5 dân tộc lớn, lớn nhất là
Hán. Cờ có 5 ngôi sao tượng trưng cho sự đoàn kết của các dân tộc, ngôi sao
lớn tượng trưng cho dân tộc Hán
2. Chế độ phong kiến: Ra đời sớm, kết thúc muộn so với các nước phương
Tây – Trong lòng xã hội phong kiến không có yếu tố tư bản.
Phương Tây: phong kiến: thế kỷ 4 đến 15  11 thế kỷ  yếu tố Tư bản 
cách mạng tư sản.
14
Vũ Văn Cảnh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Trung Quốc bước vào chế độ chiếm hữu nô lệ sớm  Nhà Hạ
3. Chiến tranh diễn ra liên miên
Thời Xuân thu: 3 thế kỷ với 483 cuộc chiến tranh.
Mạnh Tử: “Đánh nhau tranh thành thì thây chất đầy thành, đánh nhau giành
đất thì thây chất đầy đồng”.
b) Các đặc điểm Triết học Trung Quốc cổ đại
1. Triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị và đạo đức
Thường những nhà triết học là những nhà chính trị, những ông quan tham mưu
cho các vương triều đình – có đạo đức tiêu biểu cho xã hội đương thời – như
Khổng Tử.
2. Triết học Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ, trong đó thời Xuân thu, Chiến
quốc là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất có nhiều học thuyết gọi thời kỳ này là
“Bách gia chu tử, trăm nhà trăm thấy”; “Bách gia tranh minh, trăm nhà đua
tiếng”
3. Vấn đề cơ bản của triết học

thu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Đây là thời đại tư tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập, nhiều học giả
đưa ra học thuyết của mình nhằm biến đổi xã hội, khắc phục tình trạng loạn lạc
bấy lâu nay. Có hàng trăm học giả với hàng trăm học thuyết được ra đời, cho
nên, thời này còn được gọi là thời Bách gia chư tử. Trong hàng trăm học thuyết
đó có sáu học phái lớn là Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia,
Danh gia. Sang thời kỳ phong kiến hưng thịnh, Nho gia đã vươn lên vai trò
thống trị. Từ thời Tần – Hán, rồi Lưỡng Hán, Ngụy - Tấn, Tùy – Đường trở
nên thiên hạ thống nhất, dựa vào năng lực chính trị, giai cấp thống trị yêu cầu
thống nhất, dựa vào quyền lực chính trị, giai cấp thống trị yêu cầu thống nhất
tư tưởng hoặc tôn Nho, hoặc sùng Đạo, hoặc sùng Phật. Năm 136 Hán Vũ Đế
chấp nhận kiến nghị của Đổng Trọng Thư nên đã ra lệnh bãi truất bách gia, độc
tôn Nho thuật. Mặc dù được đề cao, nhưng để giữ vai trò thống trị lâu dài, Nho
gia phải hấp thụ các tư tưởng của các trường phái khác. Kinh học do Nho làm
chủ đã xuất hiện. Như vậy, sự phát triển của triết học Trung Hoa cổ - trung đại
là một quá trình đan xen, thâm nhập lẫn nhau của các trường phái.
d) Nội dung cơ bản triết học Trung Quốc cổ đại
Học thuyết nho giáo
Khổng tử là người sáng lập ra nho giáo vào cuối thời kỳ Xuân thu là thời kỳ
mà người ta rất quan tâm đến đạo đức, chính trị, xã hội. Ông coi hoạt động
đạo đức là nền tảng của xã hội, là công cụ để gìn giữ trật tự xã hội và hoàn
thiện nhân cách cá nhân cho con người. Đến thời chiến quốc, do bất đồng về
bản tính con người mà nho giáo bị chia thành 8 phái, trong đó có phái của Tôn
tử và phái của Mạnh tử là mạnh nhất. Mạnh tử có nhiều đóng góp đáng kể cho
sự phát triển của nho giáo nguyên thủy, ông đã khép lại một giai đoạn quan
trọng – giai đoạn hình thành nho giáo, nho giáo Khổng – Mạnh còn được gọi
là nho giáo nguyên thủy hay nho giáo tiên Tần.
Nội dung cơ bản của Nho giáo: Để tổ chức xã hội, điều cốt lõi là phải đào tạo
cho được những người cai trị kiểu mẫu – người Quân tử (Quân = cai trị; Quân

thuyết Nho giáo. Gọn hơn nữa, nó đã được người sáng lập tóm gọn trong 9 chữ
tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và 9 chữ ấy cũng nằm trong chữ 2 cai trị
mà thôi.
17
Vũ Văn Cảnh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Học thuyết đạo gia
Đạo gia được Lão tử sáng lập ra và sau đó được Trang tử phát triển thêm vào
thời Chiến quốc. Kinh điển của Đạo gia chủ yếu tập trung lại trong bộ Đạo đức
kinh do Lão Tử soạn và Nam hoa kinh do Trang tử và một số người theo Đạo
gia viết. Trong đó Đạo là phạm trù triết học vừa để chỉ bản nguyên vô hình, phi
cảm tính, phi ngôn từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật, vừa để chỉ con đường,
quy luật chung của mọi sự sinh thành, biến hóa xảy ra trong thế giới. Đức là
phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của đạo, là cái hình thức
nhờ đó vạn vật được định hình và phân biệt được với nhau đó là cái lý sâu sắc
để nhận biết vạn vật. Đạo gia xem xét đạo không chỉ là nguồn gốc, bản chất mà
còn là quy luật của mọi cái đã, đang, và sẽ tồn tại trong thế giới. Điều này cho
phép hiểu đạo như nguyên lý thống nhất – vận hành của vạn vật – đạo lý –
nguyên lý đạo pháp tự nhiên. Đạo vừa mang tính khách quan,vừa mang tính
phổ biến; vì vậy trong thế giới, không đâu không có đạo, không ai không theo
đạo. Quan niệm về đạo, đức của trường phái Đạo gia thể hiện một trình độ khái
quát cao của tư duy biện chứng khi giải quyết vấn đề bản nguyên của thế giới.
Lão Tử cho rằng vũ trụ vận động biến đổi theo hai quy luật: quy luật bình quân
và quy luật phản phục. Luật bình quân là luôn cho sự vật được cân bằng theo
một trật tự điều hòa tự nhiên, không có cái gì thái quá, bất cập. Luật phản phục
là sự phát triển đến cực điểm thì quay trở lại phương hướng cũ. Đây là quản
điểm biện chứng mang tính máy móc đơn giản. Vạn vật chỉ vận động tuần
hoàn,lặp đi lập lại.
Trong quan niệm về nhân sinh và chính trị – xã hội, Lão Tử đã xây dựng thuyết
vô vi tức là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác. Xã hội lý tưởng

trụ.
Triêt học Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại thể hiện sự thống nhất trong mối quan
hệ giữa con người và vũ trụ. Với tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” là: con người
gắn liền với vũ trụ. Triết học lấy con người làm đối tượng nghiên cứu. Đó là
giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người và các vấn đề về đạo đức.
Nền kinh tế ở cả 2 khu vực này tập trung chủ yếu vào nông nghiệp là: trồng trọt,
chăn nuôi…. Con người hòa quyện vào trời đất bao la, giữa con người và vũ trụ
không có gì tách biệt. đây là cơ sở ban đầu cho tư tưởng “thiên nhân hợp nhất”.
a/ Ở Ấn Độ, Upanisat cho rằng:”Bratman là tinh thần tối cao, là nguồn sống
vĩnh hằng chi phối sự hình thành và hủy diệt của mọi cái trong vũ trụ. Átman là
linh hồn con người , là hiện thân của Bratman nơi thể xác trần tục. Do những
tình cảm, ý chí, dục vọng và những hành động của thể xác làm thỏa mãn ham
muốn của con người nên Bratman đang bị vây hãm và ràng buộc trong thể xác,
để giải thoát được nó thì con người phải dốc lòng tu dưỡng đạo đức, chiêm
nghiệm tâm linh.
Trong khi đó, quan niệm của phật giáo là con người phải dày công tu luyện trí
tuệ và hành động đạo đức theo giới luật.
b/ Ở Trung Quốc, “Thiên nhân hợp nhất” là tư tưởng xuyên suốt trong nhiều
trường phái và học thuyết khác nhau. Trang Chu viết:”Thiên địa dữ ngã tinh
sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất” (Trang Chu (369-286 trước CN), “Tề vật luận”)
nghĩa là trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một, nên trong con người
chứa đựng các tính chất của vạn vật.
20
Vũ Văn Cảnh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Triết học Trung Quốc cổ đại bàn nhiều về vấn đề con người. Đó là nguồn gốc,
số phận, bản tính con người và các hoạt động đạo đức trong xã hội. Để tìm chỗ
dựa vững chắc cho lý luận đạo đức của mình, Khổng Tử và Mạnh Tử xây dựng
thuyết “Thiên Mệnh”.
Khổng Tử cho rằng: “vạn vật biến hóa theo một trật tự mà không thể cưỡng lại

Hệ thống chính thống thừa nhận uy thế của kinh veda, biện hộ cho giáo lý đạo
balamon, bảo vệ chế độ đẳng cấp xã hội.
Trường phái Vedanta xuất hiện vào thế kỷ II TCN, theo quan điểm siêu hình
và duy tâm về nguyên nhân hình thành thế giới (vũ trụ & vạn vật). Họ thừa
nhận sự tồn tại của bratman-Linh hồn của vũ trụ là tinh thần tối cao, là nguồn
sống vĩnh hằng và thế giới vật chất chỉ là ảo ảnh do vô minh của con người
mang lại .
Trường phái Samkhya với lý luận cơ bản là học thuyết duy vật về bản nguyên
của thế giới là prakriti-vật chất đầu tiên, tiềm ẩn, không thể nhận thức bằng
cảm tính.
Hệ thống không chính thống chống lại truyền thống veda và chế độ đẳng cấp.
Lokayata là trường phái duy vật, vô thần, chủ trương khoái lạc. Lokayata cho
rằng vạn vật(kể cả con người) được hình thành từ 4 yếu tố: đất nước, lửa và
gió. Còn linh hồn(ý thức) chỉ là thuộc tính của cơ thể, do thể xác(vật chất) sinh
ra.
Phật giáo là tôn giáo duy nhất chống lại thần quyền. Phật giáo nguyên thủy
theo nhị nguyên luận ngả về phía duy tâm chủ quan trong đó có chứa đựng
những tư tưởng biện chứng chất phác và yếu tố duy vật. Phật giáo đưa ra các
luận điểm: Vô tạo giả, vô ngã, vô thường, nhân duyên.
Đó là:
Không có ai sáng tạo ra thế giới; Thế giới (vạn vật và con người) được cấu
tạo từ các yếu tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh); Thế giới không có cái
gì là ổn định, vĩnh hằng mà mọi vật đều thường xuyên biến đổi theo một
chu trình: Sinh, Trụ, Dị, Diệt.
22
Vũ Văn Cảnh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
b/ Ở Trung Quốc cổ đại, các trường triết học có các yếu tố: duy tâm, duy vật,
vô thần, hữu thần đan xen vào nhau đôi khi chúng ta khó phân biệt.
Về khởi nguyên vũ trụ:

Càng về sau các vị thần dần dần bị mờ nhạt và được thay thế bởi những nguyên
lý trừu tượng tối cao, người Ấn Độ phát hiện ra cái chung, cái bản chất, nguồn
gốc của vũ trụ, đó là vị thần sáng tạo tối cao Brahman. Đây là bước chuyển
mình từ thế giới thần thoại sang thế giới quan triết học.
Trường phái Vêdanta – Hệ thống chính thống thừa nhận sự tồn tại của
Brahman – linh hồn của vũ trụ, là thực tại tinh thần tối cao, là bản chất, là
nguồn sống vĩnh hằng, là cội nguồn mọi chi phối mọi sinh thành và hủy diệt
của mọi cái trong thế giới. Atman là linh hồn con người, là biểu hiện cá biệt
của Brahman. Nó là cái nhỏ bé nhưng cũng là cái vĩ đại, bất diệt như Brahman.
Tuy nhiên do gắn bó với thể xác mà Atman luôn bị lôi cuốn vào vòng dục
vọng. Vì vậy nó phải chịu nghiệp báo, luân hồi, phảo trải qua số kiếp.
Phật giáo nguyên thủy chủ trương vô tạo giả tức là không có vị thần linh tối
cao nào tạo ra thế giới. Mọi vật trong vũ trụ, kể cả con người là tự có theo luật
nhân quả, đó là do nhân duyên hòa hợp mà thành. Quan điểm vô tạo giả gắn
liền với quan điểm vô ngã, vô thường
Vô ngã: Phật giáo cho rằng vạn vật và con người được cấu tạo từ các yếu tố
vật chất (sắc) và tinh thần (danh). Sắc và danh chỉ hội tụ nhau trong một thời
gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác: sinh sinh, hóa hóa, tan hợp, hợp
tan. Do đó vạn vật chỉ là dòng biến hóa hư ảo vô cùng, không có gì là thường
24
Vũ Văn Cảnh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
định. Phật giáo quan niệm: “sự tồn tại của một con người ở trên đời chỉ là ngắn
ngủi bởi vì các yếu tố tạo nên con người chỉ nhóm lại trong chốc lát rồi lại
chuyển hóa thành cái khác.”
Vô thường: Phật giáo quan niệm: Thế giới này không có cái gì là ổn định, vĩnh
hằng, đứng im một chỗ mà mọi vật đều thường xuyên biến đổi theo một chu
trình: Sinh, Trụ, Dị, Diệt.
Nhân duyên: Tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới này xuất hiện đều có
nguyên nhân và điều kiện. Duyên là điều kiện giúp cho nhân trở thành quả, quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status