TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA SAU ĐẠI HỌC
BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Thầy BÙI VĂN MƯA NGUYỄN VIẾT QUỲNH ANH
LỚP: CHKT K20 ĐÊM 1
STT: 02 - NHÓM 1
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
2 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
PHẦN MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
bao trùm mọi lĩnh vực vào thế kỷ thứ X – XV. Sự phát triển của Triết học là sự
phát triển song song giữa hai nền Triết học phương Tây và phương Đông. Do
điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá mà sự phát triển của hai nền
Triết học có sự khác nhau. Nói đến triết học phương Đông phải kể đến Triết học
Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại. Đây là hai trong số những chiếc
nôi Triết học sớm nhất, lâu đời, phong phú và đã tạo nhiều dấu ấn đặc biệt cho
nền lịch sử Triết học. Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại đều
có chung đặc điểm là phân tích các vấn đề xuất phát từ nhân sinh quan, tuy nhiên
do đặc điểm kinh tế - chính trị, xã hội khác nhau nên mỗi nền triết học này cũng
có những đặc trưng khác nhau. Do đó nhóm 1 chọn đề tài: “Sự tương đồng và
khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để phân
tích sâu hơn về các vấn đề như sự hình thành, phát triển và nét đặc thù cũng như
những điểm tương đồng và khác biệt của hai nền Triết học này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Để tài này đặt ra các mục tiêu cần nghiên cứu sau:
• Sự tương đồng giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
• Sự khác nhau giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
4 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
3. Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, tôi đã lựa chọn các phương pháp nghiên cứu sau.
a) Phương pháp luận theo chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhìn nhận sự việc theo sự vận động và phát
triển của nó.
b) Thu thập dữ liệu:
– Thu thập thông tin từ sách vở, bài giảng, giáo trình,
báo, đài, internet.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài này giúp cho học viên cao học hiểu rõ hơn về nền Triết học Phương
Đông, chủ yếu là Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại. Chủ
Đạo gia, Mặc gia và Pháp gia). Mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng
Trung Hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức
của xã hội. Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra
những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã
có tác dụng rất lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ
quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính
trị - đạo đức phong kiến phương Đông.
6 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung
Hoa thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc
về sự biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hành tuy còn có
những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy
vật và biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới thế
giới quan triết học sau này không những của người Trung Hoa mà cả những nước
chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Hoa.
2. Điều kiện ra đời, phát triển và nét đặc thù của Triết học Ấn Độ Cổ
a) Điều kiện ra đời
• Điều kiện tự nhiên: Ấn Độ cổ đại là một đất nước rộng lớn thuộc bán đảo
Nam Á có những yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao (bao gồm cả
nước Pakixtan, Bănglađét và Nêpan ngày nay), lại vừa có biển rộng; vừa có sông
ấn chảy về phía Tây, lại vừa có sông Hằng chảy về phía Đông; vừa có đồng bằng
phì nhiêu, lại có sa mạc khô cằn; vừa có tuyết rơi giá lạnh, lại có nắng cháy, nóng
bức
• Điều kiện kinh tế - xã hội: Xã hội ấn Độ cổ đại ra đời sớm, có điều kiện và
dân cư rất đa dạng. Ấn Độ cổ - Trung đại được chia thành 4 thời kỳ: Thời kỳ văn
minh sông Ấn, thời kỳ văn minh Vêđa, thời kỳ các vương triều độc lập và thời kỳ
các vương triều lệ thuộc. Từ trong nền văn minh sông Ấn của người bản địa
Đraviđa xa xưa, nhà nước Ấn Độ cổ đã xuất hiện, đến thế kỷ XVII trước công
nguyên, thiên tai (lũ lụt trên sông Ấn…) đã làm cho nền văn minh này sụp đổ.
sâu tìm hiểu sức mạnh của đời sống tâm linh, tinh thần, không phải “hướng
ngoại” như các tôn giáo phương Tây tìm kiếm sức mạnh nơi thượng đế.
Hầu hết các hệ thống Triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết vấn đề
nhân bản, đó là vấn đề nhân sinh quan và con đường giải thoát.
Cuộc đấu tranh giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm xung quanh
các vấn đề: Bản nguyên vũ trụ + Con người, linh hồn, đạo đức.
8 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
c) Quá trình hình thành và phát triển của Triết học
Ấn Độ cổ đại
Người ta phân chia quá trình thành 2 thời kỳ chính
• Thời kỳ thứ nhất
Thời kỳ Vêđa khoảng thế kỷ 15 TCN đến thế kỷ 8 TCN
Trong thời kỳ này con người quan niệm về thế giới, về đời sống bằng các
biểu tượng huyền thoại, đa thần. Những quan niệm đó được thể hiện trong các
tác phẩm chủ yếu là kinh Veđa và Upanisal
+ Vêđa có nghĩa là hiểu biết, tri thức cao cả, thiêng liêng, nó cũng được dùng với
nghĩa là “Kinh thánh”.
+ Kinh Upanishad: Là những kinh sách bình chú tôn giáo - triết học, gồm 200 bài
kinh giải thích ý nghĩa triết lý sâu xa của những tư tưởng thần thoại, tôn giáo
Véđa. Nó thể hiện một tinh thần mới là giải phóng ý thức khỏi sự ràng buộc của
nghi lễ và bàn đến những vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự.
• Thời kỳ thứ hai:
Thời kỳ cổ điển (hay Bà la môn và Phật giáo)
Thế kỷ thứ 7 TCN đến thế kỷ 6 SCN. Đây là thời kỳ nền kinh tế, xã hội nô
lệ ấn Độ đã phát triển cao, nhưng vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của tổ
chức công xã nông thôn, cùng sự thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế
trung ương tập quyền và sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp. Trong lĩnh vực
tinh thần, thế giới quan duy tâm, tôn giáo được coi là hệ tư tưởng chính thống,
thống trị trong đời sống tinh thần xã hội. Các trào lưu triết học thời kỳ này với
10 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Phật giáo quan niệm: Thế giới này không có cái gì là thường định (ổn
định), vĩnh hằng, đứng im một chỗ mà mọi vật đều thường xuyên biến đổi theo
một chu trình: Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Sinh là sinh ra, Trụ là tồn tại, phát triển trong
một thời gian, Dị là biến đổi, Diệt là tiêu vong, là mất.
Nhân duyên: Nhân là nguyên nhân, duyên là điều kiện. Tất cả các sự vật, hiện
tượng trong thế giới này xuất hiện đều có nguyên nhân và điều kiện. Duyên là
điều kiện giúp cho nhân trở thành quả, quả lại do duyên mà thành nhân khác,
nhân khác lại do duyên mà thành quả mới. Cứ như thế không có nguyên nhân
đầu tiên và không có kết quả cuối cùng.
• Nhân sinh quan
Thuyết luân hồi, nghiệp báo
Luân hồi: Bánh xe quay tròn
Lý giải: Khi người ta chết thì chết về thể xác, còn linh hồn bất tử, còn sống đầu
thai sang kiếp khác.
Nghiệp báo: là cái do hành động của ta gây ra, trong cuộc đời hiện hữu của mỗi
người đều phải gánh chịu hậu quả của những hành vi do kiếp trước gây ra. Đạo
Phật cho rằng một người tu nhân, tích đức ở kiếp này, đời này thì đời sau thiện
báo, còn đời này ác thì đời sau ác báo: Thiện giả Thiện báo; Ác giả Ác báo.
Cuộc đời con người trong vòng số kiếp kiếp này là quả của kiếp trước và lại là
nhân của kiếp sau.
Đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý. Hạnh
phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người thấm nhuần giáo lý
Phật, con người vị tha, từ bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà bình, an lạc, công
bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của tập thể.
Trái lại, con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc
ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội của
những con người ấy là xã hội của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột.
Thuyết tứ diệu đế:
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Diệt đế: Diệt đế là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống thế
gian để đạt tới cảnh giới Niết Bàn.
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường - Lạc - Ngã - Tịnh.
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở một nơi nào
khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự tu hành
nghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái an lạc,
siêu thoát, tịnh diệt.
Đạo đế: Đạo đế là con đường hướng dẫn cho chúng sinh đạt được đến quả giải
thoát, ra khỏi luân hồi sinh tử.
3. Quá trình hình thành và phát triển của Triết học Trung Quốc cổ đại
Đây là thời đại tư tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập, nhiều học
giả đưa ra học thuyết của mình nhằm biến đổi xã hội, khắc phục tình trạng loạn
lạc bấy lâu nay. Có hàng trăm học giả với hàng trăm học thuyết được ra đời, cho
nên, thời này còn được gọi là thời Bách gia chư tử. Trong hàng trăm học thuyết
đó có sáu học phái lớn là Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia,
Danh gia. Sang thời kỳ phong kiến hưng thịnh, Nho gia đã vươn lên vai trò thống
trị. Từ thời Tần – Hán, rồi Lưỡng Hán, Ngụy - Tấn, Tùy – Đường trở nên thiên
hạ thống nhất, dựa vào năng lực chính trị, giai cấp thống trị yêu cầu thống nhất,
dựa vào quyền lực chính trị, giai cấp thống trị yêu cầu thống nhất tư tưởng hoặc
tôn Nho, hoặc sùng Đạo, hoặc sùng Phật. Năm 136 Hán Vũ Đế chấp nhận kiến
nghị của Đổng Trọng Thư nên đã ra lệnh bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật.
Mặc dù được đề cao, nhưng để giữ vai trò thống trị lâu dài, Nho gia phải hấp thụ
các tư tưởng của các trường phái khác. Kinh học do Nho làm chủ đã xuất hiện.
Sau giai đoạn thống trị của Nho gia đến thời kỳ hưng thịnh của đạo giáo, với sự
xuất hiện của Huyền học do Đạo làm chủ. Rồi tiếp theo là sự vươn lên của Phật
học do Phật giáo làm chủ (Đường). Sự phát triển mạnh tư tưởng triết học thời kỳ
này là cơ sở để dân tộc Trung Hoa sáng tạo nên một nền văn hóa huy hoàng, xán
13 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
- Đạt “đức”: Người quân tử, theo Khổng tử, nếu có 3 điều nhân – trí – dũng
thì gọi là đạt đức. Về sau, Mạnh tử bỏ “dũng” mà thay bằng “lễ, nghĩa”
thành 4 đức “nhân, lễ, nghĩa, trí”. Đến đời Hán thêm “tín” thành 5 đức gọi
là ngũ thường.
- Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo”, “đức”, người quân tử còn phải biết thi - thư
- lễ – nhạc. Khổng tử nói rằng con người “hưng khởi trong lòng là nhờ học
thi, lập thân được là nhờ biết lễ, thành công được là nhờ có nhạc” (Luận
ngữ). Nói cách khác, ông đòi hỏi người cai trị không thể là dân võ biền, mà
phải có một vốn văn hóa toàn diện.
Tu thân rồi, bổn phận của người quân tử là Hành Động, phải tề gia, trị quốc,
bình thiên hạ. Kim chỉ nan cho mọi hành động cho việc cai trị là 2 phương
châm:
- Phương châm thứ nhất là Nhân trị. Nhân là tình người; Nhân trị là cai trị
bằng tình người, coi người như bản thân mình.
- Phương châm thứ hai là Chính danh. Chính danh là sự vật phải ứng với tên
gọi, mỗi người phải làm đúng với chức phận của mình. Chính danh trong
cai trị là phải làm sao để “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”
(Luận ngữ). “Nếu danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không
thuận thì tức việc chẳng thành” (Luận ngữ).
Đó chính là những nét chủ yếu nhất trình bày trong các kinh sách của học
thuyết Nho giáo. Gọn hơn nữa, nó đã được người sáng lập tóm gọn trong 9 chữ
tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và 9 chữ ấy cũng nằm trong chữ 2 cai trị
mà thôi.
Học thuyết đạo gia
15 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Đạo gia được Lão tử sáng lập ra và sau đó được Trang tử phát triển thêm
vào thời Chiến quốc. Kinh điển của Đạo gia chủ yếu tập trung lại trong bộ Đạo
đức kinh do Lão Tử soạn và Nam hoa kinh do Trang tử và một số người theo
Đạo gia viết. Trong đó Đạo là phạm trù triết học vừa để chỉ bản nguyên vô hình,
như Khổng Tử.
Triết học Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ, trong đó thời Xuân thu,
Chiến quốc là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất có nhiều học thuyết gọi thời kỳ này
là “Bách gia chu tử, trăm nhà trăm thấy”; “Bách gia tranh minh, trăm nhà đua
tiếng”
Lục gia + 3 = Cửu lưu
- Nho gia Âm dương gia Nông gia
- Đạo gia Danh gia Tạp gia
- Mặc gia Pháp giá Tung hoành gia
Trong quan niệm về nhân sinh và chính trị – xã hội, Lão Tử đã xây dựng
thuyết vô vi tức là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác. Xã hội lý
tưởng đối với ông là những nước nhỏ, dân ít. Dân hai nước ở cạnh nhau, dù cách
nhau bởi một bờ dậu nhỏ hay một con mương cạn,cùng nghe tiếng chó sủa tối,
tiếng gà gáy sáng… nhưng đến già đến chết họ cũng không bao giờ qua lại thăm
nhau. Sang thời Chiến quốc, xuất phát từ quan niệm của Lão Tử coi vạn vật đều
do đạo sinh ra. Trang Tử cho rằng, trời đất và ta cùng sinh ra, vạn vật với ta đều
là một. Trang Tử đã đã biến các yếu tố biện chứng trong triết học của Lão Tử
thành chủ nghĩa tương đối và thuyết ngụy biện. Ông cho rằng đúng sai, trên dưới,
sang h¦n, bần tiện đều như nhau; coi đời như một cuộc giải trí, một cõi mộng mơ
mà khi tỉnh dậy không biết ta hóa bướm hay bướm hóa ta; chủ trương sống thuận
theo thời vì cái tự nhiên nào cũng hợp lý cả cho nên không khen chê phải trái, tốt
xấu làm gì, phải lánh nạn để bảo tồn sinh mạng.
17 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Nho gia và Đạo gia là những trường phái những triết lý, nhân sinh quan
khác nhau; có những điểm khác nhau như đường lối trị dân (Nho gia đòi hỏi
người trị vì thiên hạ phải là bậc thánh nhân quân tử, với những phẩm chất đạo
đức sáng ngời nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… chủ trương xây dựng một xã hội đại đồng
thì Lão Tử cho rằng bậc Thánh nhân trị vì thiên hạ phải bằng lẽ tự nhiên của đạo
vô vi, và chủ trương xóa bỏ hết mọi ràng buộc về mặt đạo đức, pháp luật đối với
Triết học Ấn độ cổ đại đã đặt ra nhiều vấn đề, song nó rất quan tâm đến
vấn đề giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa của đời
sống, nguồn gốc nỗi khổ của con người) nhằm tìm kiếm phương tiện, con đường,
cách thức giải thoát chúng sinh ra khỏi điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội khắc
nghiệt.
Trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôn giáo, triết học có
một vai trò khá quan trọng. Chính vì sự gần gũi đó mà triết học Ấn Độ gắn liền
với các tôn giáo. Đúng như lời nhận xét của Radhakrishnan:"Triết học Ấn Độ
mang đượm màu sắc chủ nghĩa duy linh, chính chủ nghĩa duy linh đã cho Ấn Độ
khả năng chống lại các cuộc chiến tranh của thù trong giặc ngoài. Hết người Hy
Lạp, người Mông Cổ, đến người Pháp, người Anh đã muốn tàn phá và huỷ diệt
nền văn minh của đất nước này, nhưng người dân Ấn Độ vẫn ngẩng cao đầu.
Trong suốt quá trình lịch sử của mình, đất nước Ấn Độ tồn tại vì một mục đích:
Đấu tranh cho chân lý và chống lại mọi sai lầm Lịch sử tư tưởng Ấn Độ đã và
đang minh chứng về những cuộc kiếm tìm vô tận của trí tuệ trong quá khứ, hiện
tại và tương lai".
2. Trong triết học có sự đan xen yếu tố Duy vật và
duy tâm không rõ ràng
Triết học Ấn Độ cổ đại
19 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Cuộc đấu tranh giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm xung quanh
các vấn đề: Bản nguyên vũ trụ + Con người, linh hồn, đạo đức.
Nhiều trường phái triết học Ấn Độ cổ đại cho rằng, con người gồm hai phần: hồn
và xác. Phần xác có thể bị huỷ diệt, còn phần hồn là tồn tại vĩnh viễn, tuỳ theo
"nghiệp" hay do tu luyện, do làm điều thiện hay ác , mà hồn có thể trở về với
cõi "vĩnh hằng" hoặc di chuyển sang thân xác khác (luân hồi).
Ngược lại, một số trường phái có tính chất duy vật cho rằng, linh hồn hay
tư tưởng, ý thức của con người được nảy sinh từ vật chất và nó liên quan đến thể
xác của mỗi con người. Vật chất sinh ra ý thức cũng như gạo nấu thành rượu
có con người.
2) Giới vô cơ (ajiva): Phạm trù này bao gồm các thực thể không có linh hồn
nhưng chúng có thể nhận thức được bằng các giác quan, trong đó vật chất đóng
vai trò quan trọng. Vật chất được xem như một thực thể cấu tạo tử nguyên tử,
không gian, thời gian, vận động và đứng yên. Không gian là khoảng trống cho
vật chết tồn tại, còn thời gian là hình thức của vũ trụ liên kết chuỗi vận động liên
tục của thế giới.
3) Cái thiện: sự thể hiện nhưng hành động tốt.
4) Tội lỗi: sự thể hiện những hành động.
5) Asrava: sự di chuyển vật chất vào linh hồn, được hiểu như nguyên nhân của sự
phụ thuộc.
6) Samvara: hành động ngăn chặn quá trình đi chuyển vật chất vào linh hồn.
7) Phụ thuộc: được coi như là sự thể hiện mối quan hệ giữa linh hồn và các hành
vi liên kết nó.
21 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
8) Nírjan: cái phá huỷ hay đập tắt các nghiệp liên kết như thân nghiệp, khẩu
nghiệp, hành nghiệp.
9) Giải thoát: được hiểu như là sự phân cách tuyệt đối giữa linh hồn và thể xác.
Theo các nhà triết học thuộc trường phái này, người nào củng cố và làm chủ
được 9 phạm trù kể trên sẽ có những hành động đạo đức đúng, niềm tin vững
vàng và tri thức đầy đủ. Nhìn vào hệ thống 9 phạm trù nêu trên chúng ta thấy các
phạm trù đã bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau của thế giới, từ tự nhiên đến xã
hội, đạo đức, tôn giáo… Trong số 9 phạm trù kể trên, hai phạm trù "giới hữu cơ"
và "giới vô cơ" được đặt lên vị trí hàng đầu, từ chúng có thể triển khai thành các
phạm trù con khác. Qua việc phân tích các phạm trù đó chúng ta cũng thấy rằng
các nhà triết học đã nhìn thấy vai trò của các phạm trù đối với nhận thức và hoạt
động thực tiễn, coi chúng như những phương tiện để con người có thể đạt được
tri thức.
Trung Quốc cổ đại
Vô ngã: Có nghĩa là không có linh hồn bất tử, sự vật hiện tượng xung quanh ta
và chính bản thân ta là không có thật mà nó được tạo thành từ các yếu tố mà Phật
gọi là Danh và Sắc. Danh là tinh thần, Sắc là vật chất. Thế giới do các yếu tố vật
chất và tinh thần kết hợp lại với nhau tạo nên.
Vô thường: Có nghĩa là không có gì ổn định, bất biến. Phật khẳng định rằng thế
giới khách quan không có gì là vĩnh hằng, bất biến mà cái gì cũng có quá trình
sinh thành, biến đổi và tiêu vong theo luật Nhân - quả mà Phật gọi là Sinh, Trụ,
Dị, Diệt, từ sự vật nhỏ nhất cho đến vũ trụ đều tuân thủ luật trên.
Nhân quả tương tục: Phật khẳng định rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng trên đời
đều có nguyên nhân của nó. Nhân kết hợp với duyên thì sinh ra quả, quả lại kết
hợp với duyên lại biến thành nhân và sinh ra quả khác. Nhân và quả tạo thành
một chuỗi không ngừng nghỉ, Phật gọi là “Nhân quả tương tục vô gián đoạn"
23 Nguyễn Viết Quỳnh Anh
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Triết học Trung Quốc Cổ đại
Thuyết thiên ý – minh quỷ:
Mặc Tử không chỉ tin có Trời mà còn tin có quỷ thần – những thế lực đầy
quyền uy, thiêng liêng, luôn giám sát chặt chẽ mọi hành vi của con người để
khen thưởng những việc làm nhân nghĩa hay trường phạt những hành động độc
ác của họ một cách công minh. Theo ông, ý trời luôn muốn con người cùng yêu
thương nhau, cùng làm lợi cho nhau; chứ không muốn con người ghét nhau, làm
hại nhau. Sự giàu – ngh¦o, thọ - yểu, hạnh phúc – bất hạnh… không phải do
thiên mệnh mà là do nhân tạo. Nếu con người luôn nỗ lực làm việc, biết thực
hành tiết kiệm tiền của thì nhất định sẽ giàu có, và sớm thoát được cảnh ngh¦o
đói.
Thuyết kiêm ái:
Theo Mạc Tử, kiêm cũng là nghĩa, đối lập với biệt; còn ái cũng là nhân, đối
lập với ố. Kiêm ái cũng chính là nhân nghĩa. Kiêm ái không chỉ là yêu hết thảy
mọi người (không phân biệt người thân – sơ, trên – dưới, làng mình – làng người
(không phân biệt nước mình – nước ngoài) như thể yêu mình mà còn là loại bỏ
khoảnh khắc thời gian hết sức ngắn (sátna - của Phật giáo). Họ còn cho rằng, sự
vận động đó là do những lực bên trong của nó. Chính Mác và Ăngghen đã đánh
giá cao những tư tưởng biện chứng này trong tín điều Phật giáo sơ kỳ.
25 Nguyễn Viết Quỳnh Anh