!"
#$"
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Thầy BÙI VĂN MƯA NGUYỄN HỮU BÌNH
LỚP: CHKT K20 ĐÊM 1
STT: 05 - NHÓM 1
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
%&'()*+
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,-
2- 3456789:;<=>
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc
chung của tồn tại và nhận thức, là thái độ con người đối với thế giới, là khoa học
về những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Lịch sử Triết học đã
trải qua biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, có lúc phát triển đến đỉnh cao
như giai đoạn triết học của Arixtốt, Đêmôcrít và Platôn nhưng cũng có lúc biến
thành một môn của thần học theo chủ nghĩa kinh viện trong một xã hội tôn giáo
bao trùm mọi lĩnh vực vào thế kỷ thứ X – XV. Sự phát triển của Triết học là sự
phát triển song song giữa hai nền Triết học phương Tây và phương Đông. Do
điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá mà sự phát triển của hai nền
Triết học có sự khác nhau. Nói đến triết học phương Đông phải kể đến Triết học
Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại. Đây là hai trong số những chiếc
nôi Triết học sớm nhất, lâu đời, phong phú và đã tạo nhiều dấu ấn đặc biệt cho
nền lịch sử Triết học. Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại đều
có chung đặc điểm là phân tích các vấn đề xuất phát từ nhân sinh quan, tuy nhiên
do đặc điểm kinh tế - chính trị, xã hội khác nhau nên mỗi nền triết học này cũng
có những đặc trưng khác nhau. Do đó nhóm 1 chọn đề tài: “Sự tương đồng và
khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để phân
tích sâu hơn về các vấn đề như sự hình thành, phát triển và nét đặc thù cũng như
những điểm tương đồng và khác biệt của hai nền Triết học này.
@- 0A6:3679B7>C96DE:;<=>
Đề tài này đặt ra các mục đích cần nghiên cứu sau:
• Sự tương đồng giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
• Sự khác nhau giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
Y-Gek_m_E{9S=b7FG9Bb7\b9B7>C96DE:;<=>
Để thực hiện mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, đề tài được thực
hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, đề tài còn kết hợp và sử dụng một
4
Nguyễn Hữu Bình
đi tìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân. Có thể nói: sự
phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học ấn
Độ cổ, trung đại (trừ trường phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết triết học
này đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến
duy tâm hay nhị nguyên.
Triết học Trung Quốc có mầm mống từ thần thoại thời Tam đại (Hạ,
Thương, Chu). Sự phát triển của triết học Trung Quốc cổ - trung đại là một quá
trình đan xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các trường phái (Âm dương gia, Nho gia,
Đạo gia, Mặc gia và Pháp gia). Mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng
Trung Hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức
của xã hội. Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra
những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã
có tác dụng rất lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ
quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính
trị - đạo đức phong kiến phương Đông.
Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung Hoa
thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự
6
Nguyễn Hữu Bình
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hành tuy còn có những
hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và
biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới thế giới
quan triết học sau này không những của người Trung Hoa mà cả những nước
chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Hoa.
@- >;E[>^9OM:N>hb7\<<O>j9S=9€<:t6<7•6aMO>P<
786 9LQ
M‚ >;E[>^9OM:N>
− Điều kiện tự nhiên
Ấn Độ cổ đại là một đất nước rộng lớn thuộc bán đảo Nam Á có những yếu
đại số, lượng giác, phép khai căn, giải phương trình bậc 2, 3. Về y học đã xuất
hiện những danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng thuốc thảo
mộc. Chữ viết đã xuất hiện từ thời văn hóa Harappa; các bộ kinh Vêđa và sử thi
sớm xuất hiện; Nghệ thuật tạo hình như Kiến trúc, điêu khắc được thể hiện
trong các cung điện, đền chùa, tháp, lăng tẩm, trụ đá…; sản sinh ra nhiều tôn
giáo lớn như đạo Bàlamôn – Hinđu, đạo Phật, đạo jaina, đạo Xích,…
]‚ \6:t6:>jgO>P<786 9L6Q:R>
Triết học Ấn Độ cổ đại là loại hình Triết học tôn giáo. Tôn giáo và Triết học
xen kẽ vào nhau. Trong Tôn giáo có màu sắc Triết học, trong Triết học có màu
sắc Tôn giáo. Tuy nhiên Tôn giáo của Ấn Độ có xu hướng “hướng nội” đi sâu
tìm hiểu sức mạnh của đời sống tâm linh, tinh thần, không phải “hướng ngoại”
như các tôn giáo phương Tây tìm kiếm sức mạnh nơi thượng đế.
Hầu hết các hệ thống Triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết vấn đề nhân
bản, đó là vấn đề nhân sinh quan và con đường giải thoát.
Cuộc đấu tranh giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm xung quanh
các vấn đề: Bản nguyên vũ trụ, Con người, linh hồn, đạo đức.
6‚ #E\<Ox977x97<7=97S=b7\<<O>j96aMO>P<786
9L6Q:R>
Người ta phân chia quá trình thành 2 thời kỳ chính
– Thời kỳ thứ nhất:Thời kỳ Vêđa khoảng thế kỷ 15 TCN đến thế kỷ 8 TCN
Trong thời kỳ này con người quan niệm về thế giới, về đời sống bằng các
biểu tượng huyền thoại, đa thần. Những quan niệm đó được thể hiện trong các
tác phẩm chủ yếu là kinh Vêđa và Upanisal
8
Nguyễn Hữu Bình
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
– Thời kỳ thứ hai: Thời kỳ cổ điển (hay Bà la môn và Phật giáo): Thế kỷ thứ
7 TCN đến thế kỷ 6 SCN.
Đây là thời kỳ nền kinh tế, xã hội nô lệ Ấn Độ đã phát triển cao. Trong thời
kỳ này, thế giới quan duy tâm, tôn giáo được coi là hệ tư tưởng chính thống,
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự "giải thoát" (Moksa)
kh~i vòng luân hồi, "nghiệp báo" để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn [Nirvana].
Nội dung triết học nhân sinh tập trung trong thuyết "tứ đế"- có nghĩa là bốn chân
lý, cũng có thể gọi là "tứ diệu đế" với ý nghĩa là bốn chân lý tuyệt vời.
1. Khổ đế [Duhkha - satya]. Phật giáo cho rằng cuộc sống là khổ, ít nhất có
tám nỗi khổ (bát khổ): sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán
tăng hội khổ, sở cầu bất đắc khổ, ngũ thụ uẩn khổ.
2. Tập đế hay nhân đế (Samudayya - satya). Phật giáo cho rằng cuộc sống
đau khổ là có nguyên nhân. Để cắt nghĩa nỗi khổ của nhân loại, Phật giáo đưa ra
thuyết "thập nhị nhân duyên" - đó là mười hai nguyên nhân và kết quả nối theo
nhau, cuối cùng dẫn đến các đau khổ của con người: 1/ Vô minh, 2/ Hành; 3/
Thức; 4/ Danh sắc; 5/ Lục nhập; 6/ Xúc; 7/ Thụ; 8/ ái; 9/ Thủ; 10/ Hữu; 11/ Sinh;
12/ Lão - Tử. Trong đó "vô minh" là nguyên nhân đầu tiên
3. Diệt đế (Nirodha - satya). Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ có thể tiêu diệt
để đạt tới trạng thái Niết bàn.
4. Đạo đế (Marga - satya). Đạo đế chỉ ra con đường tiêu diệt cái khổ. Đó là
con đường "tu đạo", hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm 8 nguyên tắc (bát chính
đạo): 1/ Chính kiến; 2/ Chính tư; 3/ Chính ngữ; 4/ Chính nghiệp; 5/ Chính mệnh;
6/ Chính tinh tiến; 7/ Chính niệm; 8/ Chính định. Tám nguyên tắc trên có thể thâu
tóm vào "Tam học", tức ba điều cần học tập và rèn luyện là Giới - Định - Tuệ.
Y- >;E[>^9OM:N>hb7\<<O>j9S=9€<:t6<7•6aMO>P<
786OE9B#ET6Q
M‚ >;E[>^9OM:N>H
1. Nước có nhiều dân tộc: Có hơn 60 dân tộc với 5 dân tộc lớn, lớn nhất là
Hán. Cờ có 5 ngôi sao tượng trưng cho sự đoàn kết của các dân tộc, ngôi
sao lớn tượng trưng cho dân tộc Hán
2. Chế độ phong kiến: Ra đời sớm, kết thúc muộn so với các nước phương
Tây – Trong lòng xã hội phong kiến không có yếu tố tư bản.
Phương Tây: phong kiến: thế kỷ 4 đến 15 11 thế kỷ yếu tố Tư bản
gia. Sang thời kỳ phong kiến hưng thịnh, Nho gia đã vươn lên vai trò thống trị
Năm 136 Hán Vũ Đế chấp nhận kiến nghị của Đổng Trọng Thư nên đã ra lệnh
bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật. Mặc dù được đề cao, nhưng để giữ vai trò
thống trị lâu dài, Nho gia phải hấp thụ các tư tưởng của các trường phái khác.
Kinh học do Nho làm chủ đã xuất hiện. Sau giai đoạn thống trị của Nho gia đến
11
Nguyễn Hữu Bình
5
Hán nho
3 TCN
Chiến
quốc
8 TCN
Chiếm hữu nô lệ
21 TCN
Chiếm hữu nô lệ suy tàn
Chế độ phong kiến hình thành phát triển
Khổng Tử: Mạnh Tử, Tuân Tử
Xuân
thu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
thời kỳ hưng thịnh của đạo giáo, với sự xuất hiện của Huyền học do Đạo làm
chủ. Rồi tiếp theo là sự vươn lên của Phật học do Phật giáo làm chủ (Đường). Sự
phát triển mạnh tư tưởng triết học thời kỳ này là cơ sở để dân tộc Trung Hoa sáng
tạo nên một nền văn hóa huy hoàng, xán lạn trong thời kỳ cực thịnh của xã hội
phong kiến Trung Quốc phải trải qua quá trình phát triển gần một vòng, đến thời
Tống. Nho học lại được đề cao và phát triển đến đỉnh cao.… Như vậy, sự phát
triển của triết học Trung Hoa cổ - trung đại là một quá trình đan xen, thâm nhập
lẫn nhau của các trường phái.
4‚ L>4E9B6G]u9<O>P<786OE9B#ET66Q:R>
vậy trong thế giới, không đâu không có đạo, không ai không theo đạo.
Trong quan niệm về nhân sinh và chính trị – xã hội, Lão Tử đã xây dựng
thuyết vô vi tức là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác. Xã hội lý
tưởng đối với ông là những nước nh~, dân ít.
Sang thời Chiến quốc, xuất phát từ quan niệm của Lão Tử coi vạn vật đều do
đạo sinh ra. Trang Tử cho rằng, trời đất và ta cùng sinh ra, vạn vật với ta đều là
một. Trang Tử đã đã biến các yếu tố biện chứng trong triết học của Lão Tử thành
chủ nghĩa tương đối và thuyết ngụy biện.
Tóm lại Nho gia và Đạo gia là những trường phái những triết lý, nhân sinh
quan khác nhau Cả hai học thuyết của Khổng Tử và Lão Tử đều không được xã
hội đương thời chú ý. Song cả hai đều là những trường phái có ảnh hưởng to lớn
đến đời sống xã hội sau này.
7FG9B@HVFG9BW9BB>XMO>P<86 9L6Q
:R>S=OE9B#ET66Q:R>
Nếu Phương Đông là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại thì Ấn Độ và
Trung Quốc là những Trung tâm văn hoá triết học cổ xưa rực rỡ, phong phú nhất
của nền văn minh ấy. Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại là hai nền
triết học lớn nhất của triết học phương đông. Ra đời trong những điều kiện lịch
sử - xã hội khác nhau với hệ thống triết học rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên
triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại vẫn có những nét tương đồng nhau.
13
Nguyễn Hữu Bình
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Đó là: (1) nội dung triết học chủ yếu hướng về các vấn đề về đạo đức và con
người và (2) trong triết học có sự đan xen yếu tố duy tâm và duy vật không rõ
ràng.
2- L>4E9B<O>P<78667adPE7F`9BS;6\6Sw9:;
:R5:D6h6599BFN>
M- O59B<O>P<786 9L6Q:R>
ƒ Con đường cuối cùng, rộng rãi nhất, dành cho mọi người đó là con
đường sùng tín, hết lòng tin yêu, tôn kính Đấng tối cao – Átman có thể
hoà nhập với Braman trong tình yêu và bằng tình yêu cao cả thiêng liêng.
Giải thoát là con người không còn bị đau khổ nữa, bởi vì đau khổ là trạng
thái con người bị giới hạn. Ta không còn khao khát, ghét b~, mơ tưởng… con
người ra kh~i thế giới nhị nguyên tương đối, bước vào cảnh giới nhất nguyên
tuyệt đối.
− Trường phái Yoga
Nội dung cơ bản của trường phái Yoga đề cập tới những phương pháp tu
luyện mà người tu hành phải thực hiện, nhằm giải thoát linh hồn kh~i sự tác động
của các giác quan và sự ràng buộc của thể xác, của thế giới vật chất để trở nên
trong sạch, để đạt dược sự hiểu biết siêu phàm, tối cao và vĩnh hằng. Trường phái
này cho rằng: muốn được giải thoát thì phải trải qua tiến trình tu tập. Phải toàn
tâm kiên trì tu luyện đạo đức (karma-yoga) và tu luyện tri thức (jnàna-yoga),
nhằm diệt mọi dục vọng, lo âu, phiền não, rũ b~ hết mọi ràng buộc, lôi kéo bởi
thế giới vật dục biến ảo, vô thường của thế giới trần tục; dày công thiền định
(dhyàna) suy tư chiêm nghiệm nội tâm, “thực nghiệm tâm linh” bằng trực giác;
nhận cho ra chân bản tánh của mình, để đạt chân lý tối thượng hòa nhập vào bản
thể tuyệt đối. Đó chính là sự giải thoát, ý nghĩa tối cao của cuộc sống…
− Trong triết học Phật giáo
Trong các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại, triết học phật giáo được xem là
một trào lưu triết học lớn, có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống văn hóa, tinh thần
của các nước phương Đông.
Phật giáo đặc biệt chú trọng triết lý về nhân sinh, Phật giáo đặt vấn đề tìm
kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự “giải thoát” (Moska) kh~i vòng luân hồi, “nghiệp
báo” để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn (Nirvana). Đạo Phật cho rằng một
người tu nhân, tích đức ở kiếp này, đời này thì đời sau thiện báo, còn đời này ác
15
Nguyễn Hữu Bình
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
nghiệm linh tâm. Phật giáo nêu ra 8 con đường chính (\<67397:R5H
16
Nguyễn Hữu Bình
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính
tinh tiến, chính niệm, chính định‚
]- O59B<O>P<786OE9B#ET66Q:R>
Trong các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại thì Nho gia chiếm một vị
trí đặc biệt quan trọng. Nó chi phối mọi mặt của đời sống xã hội và ảnh hưởng
sâu rộng vào các nước lân cận trong suốt 2000 năm lịch sử.
Qua hệ thống kinh điển có thể thấy hầu hết tư tưởng triết học của Nho gia là
các kinh, các sách viết về xã hội, con người, chính trị- đạo đức là những tư tưởng
cốt lõi của Nho giáo.
Thứ nhất: Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những quan hệ
nền tảng của xã hội, đề cao vai trò của những quan hệ ấy và thâu tóm những quan
hệ này vào ba rường mối chủ đạo (gọi là tam cương). Trong đó quan trọng nhất
là quan hệ vua- tôi, cha- con và chồng- vợ. Nếu xếp theo “tôn ty trên- dưới” thì
vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua- cha-
chồng xếp ở hàng làm chủ. ” Điều này phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền
và phụ quyền của Nho gia. Để giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội, mà trước
hết là mối quan hệ “tam cương”, Khổng Tử đã đề cao tư tưởng “chính danh”. Để
thực hiện chính danh, Khổng Tử đặc biệt coi trọng “Đức trị” chức không phải
“pháp trị”
Thứ hai: Trong việc trị nước cũng như tu thân, học đạo sửa mình để đạt được
đức nhân, “Lễ” được Khổng Tử rất mực chú trọng. Lễ ở đây là những quy phạm
nguyên tắc đạo đức. Ông cho rằng do vua không giữ đúng đạo vua, cha không
giữ đúng đạo cha, con không giữ đúng đạo con nên thiên hạ vô đạo. Phải dùng
lễ để khôi phục lại chính danh.
Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ hiếu làm
đầu và cha đối với con phải lấy lòng tự ái làm trọng. Trong đạo hiếu của con đối
“nhân” chính là đạo làm người. Đạo làm người hết sức phức tạp, phong phú
nhưng chung quy lại chỉ là những điều sống với mình và sống với người. Là
“mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân, mình muốn mình thành đạt thì
cũng giúp người thành đạt” , “việc gì mình không muốn chớ đem cho người”.
Người muốn đạt đức nhân phải là người có “trí” và “dũng”. Nhờ có trí, con
người mới có sự sáng suốt, minh mẫn để hiểu biết đạo lý, xét đoán được sự việc,
phân biệt được phải trái, thiện ác, để trau dồi đạo đức và hành động hợp với
18
Nguyễn Hữu Bình
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
“thiên lý”. Nhưng người muốn đạt “nhân” chỉ có “trí” thôi chưa đủ, mà cần phải
có dũng khí nữa. Người nhân có dũng phải là người có thể t~ rõ ý kiến của mình
một cách cao minh, có thể hành động một cách thanh cao, khi vận nước loạn lạc,
khi người đời gặp phải hoạn lạn. Người nhân có dũng mới tự chủ được mình,
mới quả cảm xả thân vì nhân nghĩa. Khi cơn thiếu thốn cực khó không nao núng
làm mất nhân cách của mình, khi đầy đủ sung túc không ngả nghiêng xa rời đạo
lý.
Thứ tư: Về vấn đề bản tính con người. Quan điểm của Mạnh Tử cho rằng
“bản tính người vốn là thiện”. Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của con
người từ khi mới sinh như, Nhân, Lễ, Nghĩa Mạnh Tử thần bí hoá những giá trị
chính trị- đạo đức đến mức coi chúng là tiên thiên. Do quan niệm bản tính con
người là thiện nên Nho gia đề cao sự giáo dục để con người trở về đường thiện
với những chuẩn mực đạo đức sẵn có. Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là
thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con người vốn là ác. Mặc dù bản thân con người
ác, nhưng có thể giáo hoá thành thiện. Xuất phát từ quan điểm đó về tính người,
Tuân tử đã chủ trươngđường lối trị nước kết hợp Nho gia với pháp gia.
Đối với Mặc gia thì lại cho rằng:
− Nhân là kiêm ái, tức là yêu thương mọi người, không phân biệt đẳng cấp
thân sơ, trên dưới…yêu người như yêu mình, yêu người ngoài cũng như
yêu người thân.
Trong triết học phật giáo, ở giai đoạn đầu, học thuyết triết học này chứa đựng
những yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng, nó nói lên được tiếng nói phản
kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do, bình đẳng
xã hội. Đồng thời, nó cũng nêu lên khát vọng giải thoát con người kh~i những bi
kịch của cuộc đời, khuyên con người sống lương thiện, từ bi, bác ái. Chính vì thế,
ngay từ đầu học thuyết ấy đã đi sâu vào lòng người, truyền bá một cách nhanh
chóng và rộng rãi không chỉ ở Ấn Độ mà nhiều nước khác. Tuy nhiên, điểm hạn
chế lớn của triết học phật giáo là lý giải con đường giải thoát con người kh~i nỗi
khổ đau của cuộc đời có tính chất duy tâm và ảo tưởng.
M- O59B<O>P<786OE9B#ET66Q:R>
Trong bối cảnh nước Trung Quốc thời Xuân Thu, một xã hội loạn lạc, cha
không ra cha, con không ra con, mọi giá trị đạo đức bị đảo lộn. Chủ trương dùng
“Nhân” để giáo hoá con người, cải biến xã hội từ loạn thành trị của Nho gia đã
20
Nguyễn Hữu Bình
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
biểu hiện tính tích cực, tính nhân bản của đạo Nho. Nhưng do chưa hiểu rõ
nguyên nhân sâu xa của các sự biến lịch sử và bị những quyền lợi giai cấp quy
định nên phương pháp cải biến con người và xã hội của Khổng Tử chỉ đạt ở mức
cải lương, duy tâm chứ không phải bằng cách mạng hiện thực. Trong triết học
của Khổng Tử các phạm trù “nhân” “lễ”, “trí”, “dũng” có nội dung hết sức
phong phú, thống nhất với nhau và luôn thâm nhập vào nhau vào mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, nó luôn cố gắng giải đáp những vấn đề đặt ra của lịch sử và
đây có lẽ là thành quả rực rỡ nhất trong triết lý nhân sinh của ông. Do hạn chế
bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp nên trong triết học của Khổng Tử luôn
chứa đựng những mâu thuẫn giằng co, đan xen giữa những yếu tố duy vật, vô
thần với những yếu tố duy tâm, giữa những tư tưởng tiến bộ với những quan
điểm bảo thủ, phản ánh tâm trạng bị giằng xé của ông trước biến chuyển của thời
cuộc.Tính không nhất quán ấy của ông đã là cơ sở để các thế hệ sau khai thác,
xuyên tạc theo khuynh hướng duy tâm, tôn giáo thần bí.
nguyên hiện hữu. Đây là trường phái triết học đi sâu vào luật nhân – quả, họ thừa
nhận tồn tại luật nhân – quả chi phối mọi sự chuyển hóa trong thế giới vật chất.
Theo họ, kết quả đã tiềm ẩn trong nguyên nhân; bởi vậy, nếu vạn vật của thế giới
này là vật chất thì yếu tố tạo nên vạn vật của thế giới với tính cách là nguyên
nhân cũng phải là vật chất; đó là “vật chất đầu tiên” (Prakriti) – một dạng vật
chất không thể dùng cảm giác mà có thể biết được. Ngoài ra, họ cũng thừa nhận
rằng, bất kỳ vật thể nào trong thế giới cũng đều là kết quả của sự thống nhất, hợp
nhất, chuyển hoá, tác động liên hệ của ba yếu tố là sativa (nhẹ nhàng, thuần
khiết), razas (tích cực, năng động), tamas (nặng, ỳ). Khi sự cân bằng của ba yếu
tố này bị phá vỡ thì nó biến hoá không ngừng, phát triển trong không gian và thời
gian, chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác, do đó, nó chính là nguyên nhân
tạo ra sự đa dạng của giới tự nhiên
Tuy nhiên, những nhà tư tưởng của phái Samkhya hậu kỳ lại có khuynh
hướng nhị nguyên khi thừa nhận sự tồn tại song song của hai yếu tố đầu tiên là
vật chất (Prakriti) và tinh thần (Purusa). Yếu tố Purusa - yếu tố tinh thần mang
tính phổ quát vĩnh hằng và bất biến, nó truyền sinh khí, năng lượng biến hóa vào
yếu tố vật chất.
Nyaya và Vaisêsika là hai trường phái khác nhau nhưng họ lại có chung quan
22
Nguyễn Hữu Bình
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
điểm triết học vô thần chống chủ nghĩa duy tâm. Họ cho rằng nguyên tử – những
hạt vật chất bé nh~, không đồng nhất, bất biến, vĩnh hằng, khác nhau về chất
lượng, khối lượng, hình dạng và cách thức kết hợp – là bản nguyên duy nhất tạo
nên vạn vật trong thế giới. Các nguyên tử này khi kết hợp lại với nhau tạo thành
bốn thực thể vật lý đất, nước, gió và lửa (theo phái Nyaya) hay tạo ra chín thực
thể là đất, nước, gió, lửa, ête, thời gian,không gian, linh hồn và trí tuệ (theo phái
Vaisêsika) và khi kết hợp với nhau thì chúng tạo nên vạn vật đa dạng.
Một trường phái duy vật, vô thần khác thuộc hệ thống không chính thống
cũng có quan điểm tương tự đó là trường phái Lokayata. Theo trường phái này
tạo ra mọi sự biến đổi vô cùng tận, gọi là “đạo” hay “dịch”, đó là đạo biến hóa
của trời đất. Theo đạo, âm dương tạo ra thanh khí và trọng khí. Thanh khí làm
trời, trọng khí làm đất, còn sự điều hòa giữa âm dương, trời đất sẽ sinh ra vạn
vật. Ngay từ trong tiềm ẩn, vạn vật đã bẩm thụ thanh khí và trọng khí. Vật nào
bẩm thụ nhiều thanh khí thì làm thần, vật nào bẩm thụ ít, tùy theo độ đậm nhật
của thanh khí, trọng khí mà làm quỷ, làm người hay làm vật.
Quan niệm trên cho thấy, người Trung Hoa cổ đại đã xếp ngôi thứ trong vũ
trụ là: Trời, thần, thần, quỷ thần, người và vạn vật, và Trời không phải là một
giới siêu nhiên sáng tạo ra vũ trụ mà trời chỉ giữ ngôi cao nhất trong vũ trụ các
thần cũng không phải hoàn toàn hư vô, huyền bí mà chỉ là sự bẩm thụ khí âm
dương mà ra.
Chịu ảnh hưởng từ quan niệm cho rằng vạn vật đều có chung nguồn gốc và
vận động không ngừng theo “đạo” của nó. Trong quan điểm về thế giới, cả
Khổng Tử và Mặc Tử đều tin có một lực lượng với quyền năng tối cao chi phối
vũ trụ và vạn vật, đó là Trời. Theo Khổng Tử, “đạo trời”, “thiên lý” là lẽ tự
nhiên, lưu hành khắp vũ trụ định phép sống cho vạn vật như một sức mạnh tuyệt
đối: “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vẫn vận hành, trăm vật vẫn sinh hóa mãi.
Trời có nói gì đâu” (Luận ngữ, Dương Hóa).
Mặc Tử, mặc dù bác lại học thuyết “Thiên mệnh” đó của Khổng Tử. Nhưng
ông lại đưa ra một thế giới quan mang tính chất tôn giáo, thần bí, coi ý chí của
trời là nguyên tắc tối cao của hành vi con người, đồng thời cho rằng sự biến hóa
của hiện tượng tự nhiên cũng bị ý chí của trời chi phối. Trời tạo ra muôn vật,
nuôi dưỡng muôn loài. Trời xoay vần bốn mùa, sinh ra các tiết, tạo ra hoa là c~
24
Nguyễn Hữu Bình
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
cây, động vật và con người. Trời là một đấng thiêng liêng tối cao có ý chí, có
nhân cách và quyền uy như gia trưởng của một nhà, quốc dân một nước.
Trong khi đó, xét về mặt bản thể luận, “đạo” được Lão Tử trình bày theo ba
mặt, đó là thể, tướng và dụng. Mặt thể của “đạo”, theo quan niệm của Lão Tử là