TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI - Pdf 24

Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA SAU ĐẠI HỌC
  
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề Tài Số 11:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT
HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
SVTH: Lê Trung Cang
Lớp: Cao Học K20 Đêm 1
STT: 06
Nhóm: 01
Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 1
TP.HCM 05/2011
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
2 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 2
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
3 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 3
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc
chung của tồn tại và nhận thức, là thái độ con người đối với thế giới, là khoa học
về những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự phát triển của
Triết học là sự phát triển song song giữa hai nền Triết học phương Tây và phương
Đông. Do điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá mà sự phát triển của
hai nền Triết học có sự khác nhau. Nói đến triết học phương Đông phải kể đến
Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại. Đây là hai trong số

Chương 2: Sự tương đồng & khác biệt giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Trung
Quốc cổ đại
5 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 5
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
Chương I
Cơ sở lý luận về triết học Ấn độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại.
  
Khái quát triết học Phương Đông cổ đại
Lịch sử triết học Phương Đông nổi bật với hai hệ thống triết học lớn là triết
học Ấn Độ và triết học Trung Quốc. Quá trình hình thành và phát triển của triết
học Ấn Độ cổ đại trải qua hai thời kỳ chính: Thời kỳ Vêđa (khoảng thế kỷ XV
đến thể kỷ VIII TCN) và thời kỳ cổ điển (còn gọi là thời kỳ Bàlamôn – phật giáo,
khoảng thế kỷ VI TCN đến thế kỷ VI).
Một xu hướng khá đậm nét trong triết học ấn Độ cổ đại là quan tâm giải
quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng "hướng nội",
đi tìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân. Có thể nói sự phản
ảnh tính nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học ấn
Độ cổ, trung đại (trừ trường phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết triết học
này đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến
duy tâm hay nhị nguyên.
Triết học Trung Quốc có mầm mống từ thần thoại thời Tam Đại (Hạ, Thương,
Chu). Sự phát triển của triết học Trung Quốc cổ - trung đại là một quá trình đan
xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các trường phái (Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia,
Mặc gia và Pháp gia). Mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung Hoa
cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội.
Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp
giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn,
trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến
trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức phong
kiến phương Đông.

phân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng; ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà
nước của các đế vương; nhà nước kết hợp với Tôn giáo thống trị nhân dân và bóc
lột nông nô công xã; tôn giáo bao trùm mọi mặt của đời sống xã hội; con người
7 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 7
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
sống nặng về tâm linh tinh thần và khao khát được giải thoát. Sư phân biệt về
đẳng cấp, chủng tộc, dòng dõi, tôn giáo, nghề nghiệp,v.v… đã tạo ra những xung
đột ngấm ngầm trong xã hội nhưng bị kìm giữ bởi sức mạnh tinh thần của nhà
nước –tôn giáo. Xã hội phát triển một cách chậm chạp và nặng nề.
• Điều kiện về văn hóa:
Văn hóa ấn Độ được hình thành và phát triển trên cơ sở điều kiện tự nhiên
và hiện thực xã hội. Người Ấn Độ cổ đại đã tích lũy được nhiều kiến thức về
thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt
thực ở đây, toán học xuất hiện sớm: phát minh ra số thập phân, tính được trị số
π, biết về đại số, lượng giác, phép khai căn, giải phương trình bậc 2, 3. Về y học
đã xuất hiện những danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng thuốc
thảo mộc. Chữ viết đã xuất hiện từ thời văn hóa Harappa; các bộ kinh Vêđa và sử
thi sớm xuất hiện; Nghệ thuật tạo hình như Kiến trúc, điêu khắc được thể hiện
trong các cung điện, đền chùa, tháp, lăng tẩm, trụ đá…; sản sinh ra nhiều tôn giáo
lớn như đạo Bàlamôn – Hinđu, đạo Phật, đạo jaina, đạo Xích,…
b. Các đặc điểm Triết học Ấn Độ cổ đại
Triết học Ấn Độ cổ đại là loại hình Triết học tôn giáo. Tôn giáo và Triết
học xen kẽ vào nhau. Trong Tôn giáo có màu sắc Triết học, trong Triết học có
màu sắc Tôn giáo. Tuy nhiên Tôn giáo của Ấn Độ có xu hướng “hướng nội” đi
sâu tìm hiểu sức mạnh của đời sống tâm linh, tinh thần, không phải “hướng
ngoại” như các tôn giáo phương Tây tìm kiếm sức mạnh nơi thượng đế.
Hầu hết các hệ thống Triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết vấn đề
nhân bản, đó là vấn đề nhân sinh quan và con đường giải thoát.
Cuộc đấu tranh giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm xung quanh
các vấn đề: Bản nguyên vũ trụ + Con người, linh hồn, đạo đức.

Mimamsa, 5) Yoga và 6) Védanta.
+ Phái triết học không chính thống (Nastika) bác bỏ uy thế tối cao của kinh
Véđa, đạo Bàlamôn gồm 3 trường phái chính là: 1) Các trường phái triết học vô
thần, duy vật trong phong trào mới đòi tự do tư tưởng ở Đông ấn và trường phái
9 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 9
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
triết học duy vật tiêu biểu Lokayata hay chủ nghĩa duy vật khoái lạc Charvaka; 2)
Phật giáo và 3) Đạo Jaina.
d. Nội dung cơ bản Triết học Ấn Độ cổ đại
Tư tưởng Triết học cơ bản của Phật giáo nguyên thủy chủ yếu bàn về Thế
giới quan và Nhân sinh quan.
1/- Thế giới quan:
Phật giáo đưa ra các luận điểm: Vô tạo giả, vô ngã, vô thường, nhân
duyên.
Vô tạo giả:
- Nghĩa là không có ai sáng tạo ra thế giới, bởi vì mọi vật đều có nhân, có quả,
không có nguyên nhân đầu tiên (Phật giáo không thừa nhận đấng sáng tạo)
- Mọi vật trong vũ trụ, kể cả con người là tự có theo luật nhân quả. Chúng biến đổi
vô cùng vô tận.
Vô ngã:
Phật giáo cho rằng thế giới (vạn vật và con người) được cấu tạo từ các yếu
tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh). Sắc và danh chỉ hội tụ nhau trong một thời
gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác, sinh sinh, hóa hóa, tan hợp, hợp
tan. Do đó, vạn vật chỉ là dòng biến hóa hư ảo vô cùng, không có gì là thường
định. Phật giáo quan niệm: sự tồn tại của một con người ở trên đời chỉ là ngắn
ngủi bởi vì các yếu tố tạo nên con người chỉ nhóm lại trong chốc lát rồi lại
chuyển hóa thành cái khác. Thủy + Hỏa + Thổ + Phong + Không/ 5 yếu tố vật
chất (Sắc) + Thức / 1 yếu tố tinh thần (Danh)
Vô thường:
Phật giáo quan niệm: Thế giới này không có cái gì là thường định (ổn

2. Lão khổ: khổ vì già, thân thể hao mòn, tinh thần suy kém.
3. Bệnh khổ: khổ vì bệnh.
4. Tử khổ: khổ vì chết  thân thể tan rã dần.
5. Ái biệt ly khổ: yêu nhau phải xa nhau là khổ.
6. Oán khổ: oán ghét nhau phải gần nhau là khổ.
7. Sở cầu bất đắc khổ: cái ta muốn: công danh, địa vị, phú quý, tình duyên… không
đạt được làm ta thất vọng gây ra khổ.
8. Thụ ngũ uẩn khổ: Sự hội tụ của ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành và thức) thành
thân, với cái thân ngũ uẩn ấy, con người phải chịu không biết bao nhiêu là khổ.
**Tập đế: Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự
khổ, gồm ba nguyên nhân chính (tham, sân, si) còn gọi là tam độc, là nguồn gốc
của mọi sự khổ. Nhân đế được diễn giải trong thuyết thập nhị nhân duyên để thấy
được nguồn gốc của sự vật trong thế gian gồm:
11 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 11
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
1. Vô minh 2. Hành 3. Thức 4. Danh - sắc. 5. Lục nhập 6. Xúc 7. Thụ 8. Ái
9. Thủ 10. Hữu 11. Sinh 12. Lão - tử
***Diệt đế: Diệt đế là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc
sống thế gian để đạt tới cảnh giới Niết Bàn.
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường - Lạc - Ngã - Tịnh.
Thường là thường còn, không biến đổi.
Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại.
Ngã là chân ngã, chân thực, thường còn.
Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô nhiễm.
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở một
nơi nào khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự
tu hành nghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái
an lạc, siêu thoát, tịnh diệt.
****Đạo đế: Đạo đế là con đường hướng dẫn cho chúng sinh đạt được đến
quả giải thoát, ra khỏi luân hồi sinh tử. Nội dung cơ bản thể hiện trong thuyết Bát

Trung Quốc bước vào chế độ chiếm hữu nô lệ sớm  Nhà Hạ
5
Hán nho
3 TCN
Chiến quốc
8 TCN
Chiếm hữu nô lệ
21 TCN
Chiếm hữu nô lệ suy tàn
Chế độ phong kiến hình thành phát triển
Khổng Tử: Mạnh Tử, Tuân Tử
Xuân thu
3. Chiến tranh diễn ra liên miên
Thời Xuân thu: 3 thế kỷ với 483 cuộc chiến tranh.
Mạnh Tử: “Đánh nhau tranh thành thì thây chất đầy thành, đánh nhau giành
đất thì thây chất đầy đồng”.
b. Các đặc điểm Triết học Trung Quốc cổ đại
1.Triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị và đạo đức
Thường những nhà triết học là những nhà chính trị, những ông quan tham
mưu cho các vương triều đình – có đạo đức tiêu biểu cho xã hội đương thời – như
Khổng Tử.
13 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 13
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
2. Triết học Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ, trong đó thời Xuân thu, Chiến quốc
là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất có nhiều học thuyết gọi thời kỳ này là “Bách gia
chu tử, trăm nhà trăm thấy”; “Bách gia tranh minh, trăm nhà đua tiếng”
3.Vấn đề cơ bản của triết học
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nói chung, trong triết học Trung Hoa nói
riêng là mối quan hệ: Thiên – Địa – Nhân. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm chủ yếu diễn ra xung quanh các vấn đề:

lạn trong thời kỳ cực thịnh của xã hội phong kiến Trung Quốc phải trải qua quá
trình phát triển gần một vòng, đến thời Tống. Nho học lại được đề cao và phát
triển đến đỉnh cao. Hình thức biểu hiện của nó là Lý học – dung hợp đạo Phật vào
Nho. Các nhà tư tưởng đời Thanh như Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Võ, Vương Phu
Chi đề xướng Thực học, tiến hành tổng kết một cách duy vật các cuộc tranh cãi
hơn nghìn năm về hữu và vô (động và tỉnh), tâm và vật (tri và hành)… Như vậy,
sự phát triển của triết học Trung Hoa cổ - trung đại là một quá trình đan xen,
thâm nhập lẫn nhau của các trường phái.
d. Nội dung cơ bản triết học Trung Quốc cổ đại
Học thuyết nho giáo
Khổng tử là người sáng lập ra nho giáo vào cuối thời kỳ Xuân Thu là thời
kỳ mà người ta rất quan tâm đến đạo đức, chính trị, xã hội. Ông coi hoạt động
đạo đức là nền tảng của xã hội, là công cụ để gìn giữ trật tự xã hội và hoàn thiện
nhân cách cá nhân cho con người.
Đến thời chiến quốc, do bất đồng về bản tính con người mà nho giáo bị
chia thành 8 phái, trong đó có phái của Tôn tử và phái của Mạnh tử là mạnh nhất.
Mạnh tử có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nho giáo nguyên thủy,
ông đã khép lại một giai đoạn quan trọng – giai đoạn hình thành nho giáo, nho
giáo Khổng – Mạnh còn được gọi là nho giáo nguyên thủy hay nho giáo tiên Tần.
Nội dung cơ bản của Nho giáo: Để tổ chức xã hội, điều cốt lõi là phải đào
tạo cho được những người cai trị kiểu mẫu – người Quân tử (Quân = cai trị; Quân
tử = người cai trị). Để trở thành người quân tử, trước hết là phải tu thân. Có ba
tiêu chuẩn chính:
1. Đạt “đạo”: Đạo là con đường, là những mối quan hệ mà con người phải biết cách
ứng xử trong cuộc sống. Có 5 đạo: Vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn
15 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 15
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
(quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu). 5 Đạo đó gọi là ngũ luân (luân
= thứ bậc, cư xử). Trong xã hội, cách ứng xử hợp lý hơn cả là trung dung (dung
hòa ở giữa).

quy luật chung của mọi sự sinh thành, biến hóa xảy ra trong thế giới. Đức là
phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của đạo, là cái hình thức
nhờ đó vạn vật được định hình và phân biệt được với nhau đó là cái lý sâu sắc để
nhận biết vạn vật. Đạo gia xem xét đạo không chỉ là nguồn gốc, bản chất mà còn
là quy luật của mọi cái đã, đang, và sẽ tồn tại trong thế giới. Điều này cho phép
hiểu đạo như nguyên lý thống nhất – vận hành của vạn vật – đạo lý – nguyên lý
đạo pháp tự nhiên. Đạo vừa mang tính khách quan, vừa mang tính phổ biến; vì
vậy trong thế giới, không đâu không có đạo, không ai không theo đạo. Quan niệm
về đạo, đức của trường phái Đạo gia thể hiện một trình độ khái quát cao của tư
duy biện chứng khi giải quyết vấn đề bản nguyên của thế giới.
Lão Tử cho rằng vũ trụ vận động biến đổi theo hai quy luật: quy luật bình
quân và quy luật phản phục. Luật bình quân là luôn cho sự vật được cân bằng
theo một trật tự điều hòa tự nhiên, không có cái gì thái quá, bất cập. Luật phản
phục là sự phát triển đến cực điểm thì quay trở lại phương hướng cũ. Đây là quản
điểm biện chứng mang tính máy móc đơn giản. Vạn vật chỉ vận động tuần hoàn,
lặp đi lập lại.
Trong quan niệm về nhân sinh và chính trị – xã hội, Lão Tử đã xây dựng
thuyết vô vi tức là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác. Xã hội lý
tưởng đối với ông là những nước nhỏ, dân ít. Dân hai nước ở cạnh nhau, dù cách
nhau bởi một bờ dậu nhỏ hay một con mương cạn,cùng nghe tiếng chó sủa tối,
tiếng gà gáy sáng… nhưng đến già đến chết họ cũng không bao giờ qua lại thăm
nhau.
Sang thời Chiến quốc, xuất phát từ quan niệm của Lão Tử coi vạn vật đều
do đạo sinh ra. Trang Tử cho rằng, trời đất và ta cùng sinh ra, vạn vật với ta đều
là một. Trang Tử đã đã biến các yếu tố biện chứng trong triết học của Lão Tử
thành chủ nghĩa tương đối và thuyết ngụy biện. Ông cho rằng đúng sai, trên dưới,
sang hèn, bần tiện đều như nhau; coi đời như một cuộc giải trí, một cõi mộng mơ
17 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 17
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
mà khi tỉnh dậy không biết ta hóa bướm hay bướm hóa ta; chủ trương sống thuận

dân Trung hoa về tự nhiên, xã hội và quan hệ con người với thế giới xung quanh,
họ coi con người là tiểu vũ trụ trong hệ thống lớn trời đất với ta cùng sinh, vạn
vật với ta là một. Như vậy con người cũng chứa đựng tất cả những tính chất,
những điều huyền bí của vũ trụ bao la. Từ điều này cho ta thấy hình thành ra các
khuynh hướng như:
• Đối với khuynh hướng duy tâm của Mạnh Tử thì cho rằng vũ trụ, vạn vật đều tồn
tại trong ý thức chủ quan và trong ý niệm đạo đức Trời phú cho con người. Ông
đưa ra quan điểm “vạn vật đều có đầy đủ trong ta”. Ta tự xét mình mà thành
thực, thì có cái thú vui nào lớn hơn nữa. Ông dạy mọi người phải đi tìm chân lý ở
ngoài thế giới khách quan mà chỉ cần suy xét ở trong tâm, “tận tâm” của mình mà
thôi. Như vậy theo ông chỉ cần tĩnh tâm quay lại với chính mình thì mọi sự vật
19 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 19
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
đều yên ổn, không có gì vui thú hơn. Còn theo Thiện Ung thì cho rằng: vũ trụ
trong lòng ta, lòng ta là vũ trụ.
• Đối với khuynh hướng duy vật thô sơ - kinh dịch thì biết đến cùng cái tính của
con người thì cũng có thể biết đến cái tính của vạn vật, trời đất: trời có chín
phương, con người có chín khiếu. Ở phương Đông khuynh hướng duy vật chưa
rõ ràng đôi khi còn đan xen với duy tâm, mặc dù nó là kết quả của quá trình khái
quát những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân Trung hoa thời cổ đại.
Quan điểm duy vật được thể hiện rõ ở học thuyết Âm dương, tuy nó còn mang
tính chất trực quan, chất phác, ngây thơ và có những quan điểm duy tâm, thần bí
về lịch sử xã hội nhưng trường phái triết học này đã bộ lộ rõ khuynh hướng duy
vật và tư tưởng biện chứng tự phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vận
động, biến hoá của sự vật hiện tượng trong tự nhiên cũng như trong xã hội.
Ở Ấn độ tư tưởng triết học Ấn độ cổ đại được hình thành từ cuối thiên niên
kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, bắt nguồn từ thế giới quan thần
thoại, tôn giáo, giải thích vũ trụ bằng biểu tượng các vị thần mang tính chất tự
nhiên, có nguồn gốc từ những hình thức tôn giáo tối cổ của nhân loại. Ở Ấn độ
nguyên tắc “thiên nhân hợp nhất” lại có màu sắc riêng như:

nên nghiên cứu con người không phải là để giải phóng con người mà là để cai trị
con người, không thấy quan hệ giữa người với người trong lao động sản xuất.
Thứ hai, qua phân tích hai nền Triết học tiêu biểu của Phương Đông là Ấn
Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại ta thấy những tư tưởng triết học ít khi tồn tại
dưới dạng thuần tuý mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác. Cái
nọ lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển cho nên ít có
những triết gia với những tác phẩm triết học độc lập. Và có những thời kỳ người
ta đã lầm tưởng triết học là khoa học của khoa học như triết học Trung Hoa đan
xen với chính trị lý luận, còn triết học Ấn độ lại đan xen tôn giáo với nghệ thuật.
Nói chung ở phương Đông thì triết học thường ẩn dấu đằng sau các khoa học.
Thứ ba, Lịch sử triết học của Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại ít thấy có những
bước nhảy vọt về chất có tính vạch ra ở các thời điểm, mà chỉ là sự phát triển cục
bộ, kế tiếp xen kẽ. Ở Ấn độ, cũng như Trung quốc các trường phái có từ thời cổ
đại vẫn giữ nguyên tên gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ VIII – V trước công
nguyên đến thế kỷ 19).
21 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 21
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay đi
sâu vào từng chi tiết như: Nho tiền tần, Hán nho, Tống nho vẫn trên cơ sở nhân –
lễ – chính danh, nhưng có cải biên về một phương diện nào đó ví như Lễ thời tiền
Tần là cung kính, lễ phép, văn hoá, thời Hán biến thành tam cương ngũ thường,
đời Tống biến thành chữ Lý
Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng hộ,
bảo vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và phát triển nó hơn là
vạch ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thứ triết học mới. Do vậy,
nó không mâu thuẫn với các học thuyết đã được đặt nền móng từ ban đầu, không
phủ định nhau hoàn toàn và dẫn đến cuộc đấu tranh trong các trường phái không
gay gắt và cũng không tuyệt đối. Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến
quá kéo dài và bảo thủ, kết cấu kinh tế, giai cấp trong xã hội đan xen cộng sinh
bên nhau.

đó là vấn đề nhân sinh quan và con đường giải thoát. Tiêu biểu nhất cho quan
điểm này đó là Triết học Phật giáo khi nhìn nhận về thế giới tự nhiên và xã hội thì
nó dựa trên các luận điểm như Vô tạo giả, vô ngã, vô thường và nhân duyên.
Nhưng khi nhìn nhận về cuộc sống thì họ tin vào thuyết luân hồi, nghiệp báo.
Con người chết đi thì linh hồn sẽ còn sống và đầu thai sang kiếp khác với quan
niệm gieo nhân nào thì gặp quả ấy “ thiện giả-> thiện báo, ác giả-> ác báo”. Bên
cạnh đó, nhằm để giải thoát chúng sinh khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo,
luân hồi thì đạo Phật dạy con người về Tứ Diệu Đế và Thập nhị nhân duyên.
Qua các học thuyết của đạo Phật ta có thể khái quát được về nền triết học
của Ấn Độ là họ luôn đi sâu tìm hiểu về cuộc sống con người bằng cách lắng
đọng tâm hồn và tìm hiểu phía bên trong sâu thẳm của con người để tìm ra lối đi,
sức mạnh và con đường giúp giải thoát chúng sinh khỏi cuộc sống đau khổ ở trần
gian.
23 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 23
Tiểu Luận Triết Học GVHD. TS. Bùi Văn Mưa
KẾT LUẬN
Qua việc phân tích hai nền Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ
đại ta có thể hiểu sâu thêm về sự hình thành, phát triển và đặc điểm Triết học Phương
Đông thời cổ đại. Ta thấy được, mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung
Quốc thời cổ đại là những vấn đề về thuộc đời sống thực tiễn – chính trị – đạo đức của
xã hội. Tuy là họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện
pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn
trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến trung
ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị – đạo đức phong kiến phương
đông. Bên cạnh những suy nghĩ sâu sắc về các vấn đề xã hội, ta còn thấy được sự cống
hiến cho lịch sử triết học thế giới các học thuyết, tư tưởng về sự dịch chuyển, biến dịch
của vũ trụ. Ta thấy thuyết Âm dương – Ngũ hành tuy còn có những hạn chế cơ bản,
nhưng đó là những triết lý mang đậm chất duy vật biến chứng của người Trung Quốc
thời cổ, có tác động lớn đến thế giới quan Triết học sau này ở Trung Quốc và khu vực
phương đông.

option=com_content&task=view&id=372&Itemid=265
25 Lê Trung Cang-K20 Đêm 1-ĐH Kinh Tế TP.HCM Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status