TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài số 11
Đề tài số 11
:
:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
SVTH: Lê Xuân Quỳnh Anh
STT: 02
Nhóm: 01
Lớp: Cao học Đêm 1 - K20
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
class="bi x0 y0 w1 h1"
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc
chung của tồn tại và nhận thức, là thái độ con người đối với thế giới, là khoa học về
những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Lịch sử Triết học đã trãi
qua biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, có lúc phát triển đến đỉnh cao như giai
đoạn triết học của Arixtốt, Đêmôcrít và Platôn nhưng cũng có lúc biến thành một
môn của thần học theo chủ nghĩa kinh viện trong một xã hội tôn giáo bao trùm mọi
lĩnh vực vào thế kỷ thứ X – XV. Sự phát triển của Triết học là sự phát triển song
song giữa hai nền Triết học phương Tây và phương Đông. Do điều kiện địa lý tự
nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá mà sự phát triển của hai nền Triết học có sự khác
nhau.
Nói đến triết học phương Đông phải kể đến Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết
học Trung Quốc cổ đại. Đây là hai trong số những chiếc nôi Triết học sớm nhất, lâu
đời, phong phú và đã tạo nhiều dấu ấn đặc biệt cho nền lịch sử Triết học. Triết học
Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại đều có chung đặc điểm là phân tích
các vấn đề xuất phát từ nhân sinh quan, tuy nhiên do đặc điểm kinh tế - chính trị, xã
hội khác nhau nên mỗi nền triết học này cũng có những đặc trưng khác nhau.
Xuất phát từ việc phân tích nêu trên mà người viết chọn đề tài “SỰ TƯƠNG
ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC
TRUNG QUÔC CỔ ĐẠI”. Hy vọng đề tài này sẽ góp một nhỏ vào cơ sở lý luận
nhằm khái quát nên những nét tiêu biểu nhất của một nền triết học Phương Đông
mang đậm dấu ấn của thời cuộc.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Để tài này đặt ra các mục tiêu cần nghiên cứu sau:
• Sự tương đồng giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
• Sự khác nhau giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
3. Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, tôi đã lựa chọn các phương pháp nghiên cứu sau.
nội", đi tìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân. Có thể nói:
sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết
học ấn Độ cổ, trung đại (trừ trường phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết
triết học này đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều
duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên.
Triết học Trung Quốc có mầm mống từ thần thoại thời Tam đại (Hạ,
Thương, Chu). Sự phát triển của triết học Trung Quốc cổ - trung đại là một quá
trình đan xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các trường phái (Âm dương gia, Nho
gia, Đạo gia, Mặc gia và Pháp gia). Mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư
tưởng Trung Hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị -
đạo đức của xã hội. Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và
đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng
của họ đã có tác dụng rất lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết Học
Ấn Độ cổ đại và Triết Học Trung Quốc cổ đại
chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn
mực chính trị - đạo đức phong kiến phương Đông.
Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung
Hoa thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc
về sự biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hành tuy còn
có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất
duy vật và biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới
thế giới quan triết học sau này không những của người Trung Hoa mà cả những
nước chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Hoa.
2. Điều kiện ra đời, phát triển và nét đặc thù của Triết
học Ấn Độ Cổ
a) Điều kiện ra đời
• Điều kiện tự nhiên: Ấn Độ cổ đại là một đất nước rộng lớn thuộc bán
đảo Nam Á có những yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao (bao
gồm cả nước Pakixtan, Bănglađét và Nêpan ngày nay), lại vừa có biển rộng;
thập phân, tính được trị số π, biết về đại số, lượng giác, phép khai căn, giải
phương trình bậc 2, 3. Về y học đã xuất hiện những danh y nổi tiếng, chữa bệnh
bằng thuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc. Chữ viết đã xuất hiện từ thời văn
hóa Harappa; các bộ kinh Vêđa và sử thi sớm xuất hiện; Nghệ thuật tạo hình
như Kiến trúc, điêu khắc được thể hiện trong các cung điện, đền chùa, tháp,
lăng tẩm, trụ đá…; sản sinh ra nhiều tôn giáo lớn như đạo Bàlamôn – Hinđu,
đạo Phật, đạo jaina, đạo Xích,…
b) Các đặc điểm Triết học Ấn Độ cổ đại
Triết học Ấn Độ cổ đại là loại hình Triết học tôn giáo. Tôn giáo và Triết học
xen kẽ vào nhau. Trong Tôn giáo có màu sắc Triết học, trong Triết học có màu
sắc Tôn giáo. Tuy nhiên Tôn giáo của Ấn Độ có xu hướng “hướng nội” đi sâu
tìm hiểu sức mạnh của đời sống tâm linh, tinh thần, không phải “hướng ngoại”
SVTH: Lê Xuân Quỳnh Anh 9
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết Học
Ấn Độ cổ đại và Triết Học Trung Quốc cổ đại
như các tôn giáo phương Tây tìm kiếm sức mạnh nơi thượng đế. Hầu hết các hệ
thống Triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết vấn đề nhân bản, đó là vấn đề
nhân sinh quan và con đường giải thoát. Cuộc đấu tranh giữa Chủ nghĩa duy vật
và Chủ nghĩa duy tâm xung quanh các vấn đề: Bản nguyên vũ trụ + Con người,
linh hồn, đạo đức.
c) Quá trình hình thành và phát triển của Triết học
Ấn Độ cổ đại
Người ta phân chia quá trình thành 2 thời kỳ chính
- Thời kỳ thứ nhất: Thời kỳ Vêđa khoảng thế kỷ 15 TCN đến thế kỷ 8 TCN
Trong thời kỳ này con người quan niệm về thế giới, về đời sống bằng các biểu
tượng huyền thoại, đa thần. Những quan niệm đó được thể hiện trong các tác
phẩm chủ yếu là kinh Veđa và Upanisal
+ Vêđa có nghĩa là hiểu biết, tri thức cao cả, thiêng liêng, nó cũng được dùng
với nghĩa là “Kinh thánh”.
+ Kinh Upanishad: Là những kinh sách bình chú tôn giáo - triết học, gồm 200
giới quan và Nhân sinh quan.
1/- Thế giới quan: (Thế giới quan: Quan niệm của con người về thế giới:
tự nhiên và xã hội). Phật giáo đưa ra các luận điểm: Vô tạo giả, vô ngã, vô
thường, nhân duyên.
Vô tạo giả:
- Nghĩa là không có ai sáng tạo ra thế giới, bởi vì mọi vật đều có nhân, có
quả, không có nguyên nhân đầu tiên (Phật giáo không thừa nhận đấng sáng tạo)
- Mọi vật trong vũ trụ, kể cả con người là tự có theo luật nhân quả. Chúng
biến đổi vô cùng vô tận.
Vô ngã: Phật giáo cho rằng thế giới (vạn vật và con người) được cấu tạo từ các
yếu tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh). Sắc và danh chỉ hội tụ nhau trong một
thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác, sinh sinh, hóa hóa, tan hợp,
hợp tan. Do đó vạn vật chỉ là dòng biến hóa hư ảo vô cùng, không có gì là
thường định. Phật giáo quan niệm: sự tồn tại của một con người ở trên đời chỉ
SVTH: Lê Xuân Quỳnh Anh 11
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết Học
Ấn Độ cổ đại và Triết Học Trung Quốc cổ đại
là ngắn ngủi bởi vì các yếu tố tạo nên con người chỉ nhóm lại trong chốc lát rồi
lại chuyển hóa thành cái khác.
Thủy + Hỏa + Thổ + Phong + Không/ 5 yếu tố vật chất (Sắc) + Thức /
1 yếu tố tinh thần (Danh)
Vô thường: Phật giáo quan niệm: Thế giới này không có cái gì là thường
định (ổn định), vĩnh hằng, đứng im một chỗ mà mọi vật đều thường xuyên
biến đổi theo một chu trình: Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Sinh là sinh ra, Trụ là tồn tại,
phát triển trong một thời gian, Dị là biến đổi, Diệt là tiêu vong, là mất.
Nhân duyên: Nhân là nguyên nhân, duyên là điều kiện. Tất cả các sự vật,
hiện tượng trong thế giới này xuất hiện đều có nguyên nhân và điều kiện.
Duyên là điều kiện giúp cho nhân trở thành quả, quả lại do duyên mà thành
nhân khác, nhân khác lại do duyên mà thành quả mới. Cứ như thế không có
nguyên nhân đầu tiên và không có kết quả cuối cùng.
xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi. Cái già tiến đến đâu thì suy
yếu đến ấy làm cho người ta phiền não.
3, Bệnh khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu,
thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.
4, Tử khổ: Là cái khổ khi người ta chết.
5, Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.
6, Sở cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích,
mong cầu hết cái này đến cái khác. Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu
được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.
7, Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.
8, Ngũ uẩn khổ: sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn – sắc, thụ, tưởng, hành,
thức.
b. Tập đế: Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ,
gồm ba nguyên nhân chính (tham, sân, si) còn gọi là tam độc, là nguồn gốc của
mọi sự khổ. Nhân đế được diễn giải trong thuyết thập nhị nhân duyên để thấy
được nguồn gốc của sự vật trong thế gian gồm:
SVTH: Lê Xuân Quỳnh Anh 13
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết Học
Ấn Độ cổ đại và Triết Học Trung Quốc cổ đại
1. Vô minh 2. Hành 3. Thức 4. Danh - sắc. 5. Lục nhập 6. Xúc 7. Thụ 8. Ái 9.
Thủ 10. Hữu 11. Sinh 12. Lão - tử
c. Diệt đế: Diệt đế là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống
thế gian để đạt tới cảnh giới Niết Bàn.
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Thường là thường còn,
không biến đổi. Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại. Ngã là
chân ngã, chân thực, thường còn. Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô
nhiễm.
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở một nơi
nào khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự tu
hành nghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái an
2. Chế độ phong kiến: Ra đời sớm, kết thúc muộn so với các nước phương Tây
– Trong lòng xã hội phong kiến không có yếu tố tư bản.
Phương Tây: phong kiến: thế kỷ 4 đến 15 11 thế kỷ yếu tố Tư bản
cách mạng tư sản.
Trung Quốc bước vào chế độ chiếm hữu nô lệ sớm Nhà Hạ
3. Chiến tranh diễn ra liên miên
Thời Xuân thu: 3 thế kỷ với 483 cuộc chiến tranh. Mạnh Tử: “Đánh nhau tranh
thành thì thây chất đầy thành, đánh nhau giành đất thì thây chất đầy đồng”.
b) Các đặc điểm Triết học Trung Quốc cổ đại
1. Triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị và đạo đức
Thường những nhà triết học là những nhà chính trị, những ông quan tham mưu
cho các vương triều đình , có đạo đức tiêu biểu cho xã hội đương thời như
Khổng Tử.
2. Triết học Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ, trong đó thời Xuân thu, Chiến
quốc là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất có nhiều học thuyết gọi thời kỳ này là
SVTH: Lê Xuân Quỳnh Anh 15
5
Hán nho
3 TCN
Chiến
quốc
8 TCN
Chiếm hữu nô lệ
21 TCN
Chiếm hữu nô lệ suy tàn
Chế độ phong kiến hình thành phát triển
Khổng Tử: Mạnh Tử, Tuân Tử
Xuân
thu
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết Học
chấp nhận kiến nghị của Đổng Trọng Thư nên đã ra lệnh bãi truất bách gia, độc
SVTH: Lê Xuân Quỳnh Anh 16
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết Học
Ấn Độ cổ đại và Triết Học Trung Quốc cổ đại
tôn Nho thuật. Mặc dù được đề cao, nhưng để giữ vai trò thống trị lâu dài, Nho
gia phải hấp thụ các tư tưởng của các trường phái khác. Kinh học do Nho làm
chủ đã xuất hiện. Sau giai đoạn thống trị của Nho gia đến thời kỳ hưng thịnh
của đạo giáo, với sự xuất hiện của Huyền học do Đạo làm chủ. Rồi tiếp theo là
sự vươn lên của Phật học do Phật giáo làm chủ (Đường). Sự phát triển mạnh tư
tưởng triết học thời kỳ này là cơ sở để dân tộc Trung Hoa sáng tạo nên một nền
văn hóa huy hoàng, xán lạn trong thời kỳ cực thịnh của xã hội phong kiến
Trung Quốc phải trải qua quá trình phát triển gần một vòng, đến thời Tống.
Nho học lại được đề cao và phát triển đến đỉnh cao. Hình thức biểu hiện của nó
là Lý học – dung hợp đạo Phật vào Nho. Các nhà tư tưởng đời Thanh như
Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Võ, Vương Phu Chi đề xướng Thực học, tiến hành
tổng kết một cách duy vật các cuộc tranh cãi hơn nghìn năm về hữu và vô
(động và tỉnh), tâm và vật (tri và hành)… Như vậy, sự phát triển của triết học
Trung Hoa cổ - trung đại là một quá trình đan xen, thâm nhập lẫn nhau của các
trường phái.
d) Nội dung cơ bản triết học Trung Quốc cổ đại
Học thuyết nho giáo: Khổng tử là người sáng lập ra nho giáo vào cuối thời kỳ
Xuân thu là thời kỳ mà người ta rất quan tâm đến đạo đức, chính trị, xã hội.
Ông coi hoạt động đạo đức là nền tảng của xã hội, là công cụ để gìn giữ trật tự
xã hội và hoàn thiện nhân cách cá nhân cho con người. Đến thời chiến quốc, do
bất đồng về bản tính con người mà nho giáo bị chia thành 8 phái, trong đó có
phái của Tôn tử và phái của Mạnh tử là mạnh nhất. Mạnh tử có nhiều đóng góp
đáng kể cho sự phát triển của nho giáo nguyên thủy, ông đã khép lại một giai
đoạn quan trọng – giai đoạn hình thành nho giáo, nho giáo Khổng – Mạnh còn
được gọi là nho giáo nguyên thủy hay nho giáo tiên Tần.
Nội dung cơ bản của Nho giáo: Để tổ chức xã hội, điều cốt lõi là phải đào tạo
Học thuyết đạo gia
SVTH: Lê Xuân Quỳnh Anh 18
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết Học
Ấn Độ cổ đại và Triết Học Trung Quốc cổ đại
Đạo gia được Lão tử sáng lập ra và sau đó được Trang tử phát triển thêm vào
thời Chiến quốc. Kinh điển của Đạo gia chủ yếu tập trung lại trong bộ Đạo
đức kinh do Lão Tử soạn và Nam hoa kinh do Trang tử và một số người
theo Đạo gia viết. Trong đó Đạo là phạm trù triết học vừa để chỉ bản nguyên
vô hình, phi cảm tính, phi ngôn từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật, vừa để
chỉ con đường, quy luật chung của mọi sự sinh thành, biến hóa xảy ra trong
thế giới. Đức là phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của
đạo, là cái hình thức nhờ đó vạn vật được định hình và phân biệt được với
nhau đó là cái lý sâu sắc để nhận biết vạn vật. Đạo gia xem xét đạo không
chỉ là nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luật của mọi cái đã, đang, và sẽ tồn
tại trong thế giới. Điều này cho phép hiểu đạo như nguyên lý thống nhất –
vận hành của vạn vật – đạo lý – nguyên lý đạo pháp tự nhiên. Đạo vừa mang
tính khách quan,vừa mang tính phổ biến; vì vậy trong thế giới, không đâu
không có đạo, không ai không theo đạo. Quan niệm về đạo, đức của trường
phái Đạo gia thể hiện một trình độ khái quát cao của tư duy biện chứng khi
giải quyết vấn đề bản nguyên của thế giới.
Trong quan niệm về nhân sinh và chính trị – xã hội, Lão Tử đã xây dựng
thuyết vô vi tức là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác. Xã hội lý
tưởng đối với ông là những nước nhỏ, dân ít. Dân hai nước ở cạnh nhau, dù
cách nhau bởi một bờ dậu nhỏ hay một con mương cạn,cùng nghe tiếng chó
sủa tối, tiếng gà gáy sáng… nhưng đến già đến chết họ cũng không bao giờ
qua lại thăm nhau.
Sang thời Chiến quốc, xuất phát từ quan niệm của Lão Tử coi vạn vật đều do
đạo sinh ra. Trang Tử cho rằng, trời đất và ta cùng sinh ra, vạn vật với ta đều
là một. Trang Tử đã đã biến các yếu tố biện chứng trong triết học của Lão Tử
thành chủ nghĩa tương đối và thuyết ngụy biện. Ông cho rằng đúng sai, trên
của ta gây ra, trong cuộc đời hiện hữu của mỗi người đều phải gánh chịu hậu
quả của những hành vi do kiếp trước gây ra. Đạo Phật cho rằng một người tu
nhân, tích đức ở kiếp này, đời này thì đời sau thiện báo, còn đời này ác thì đời
sau ác báo: Thiện giả và Thiện báo; Ác giả và Ác báo. Cuộc đời con người
trong vòng số kiếp kiếp này là quả của kiếp trước và lại là nhân của kiếp sau.
Đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý.
Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người thấm
nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà
bình, an lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của tập thể.
SVTH: Lê Xuân Quỳnh Anh 21
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết Học
Ấn Độ cổ đại và Triết Học Trung Quốc cổ đại
Trái lại, con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn
bạo, độc ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã
hội của những con người ấy là xã hội của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột.
Về triết học Trung Quốc khi đặt vấn đề nguồn gốc của con người, thì
Khổng Tử và Mặc Tử đều cho rằng trời sinh ra con người và muôn vật. Còn
Lão Tử khác với Khổng Tử và Mặc Tử ở chỗ ông cho rằng trước khi có trời đã
có Đạo. Trời, đất, người, vạn vật đều do đạo sinh ra.Trang Tử người kế thừa
thuyết Lão Tử cho rằng ở mỗi vật đều có cái đức tự sinh tự hóa ở bên trong.Khi
xác định vị trí và vai trò của con người trong mối quan hệ với trời, đất, con
người và vạn vật trong vũ trụ, Lão Tử cho rằng trong vũ trụ có bốn cái lớn: Đạo
lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn.Đối với Nho giáo, con người được đặt
lên vị trí rất cao. Con người do trời sinh ra nhưng sau đó con người cùng với
trời, đất là ba ngôi tiêu biểu cho tất cả mọi vật trong tất cả mọi vật trong thế
giới vật chất và tinh thần.
Khi bàn tới quan hệ giữa trời với người, các nhà duy tâm đi sâu phát
triển tư tưởng thiên mệnh của Khổng Tử, cho rằng có mệnh trời và mệnh trời
chi phối cuộc sống xã hội của con người, cuộc đời của mỗi con người. Mạnh
Tử cho rằng trời an bài địa vị xã hội của con người. Về sau, thời nhà Hán,
Trong triết học Ấn Độ thường mang màu sắc của tôn giáo như phật giáo
đặc biệt là triết học phật giáo, tin vào sức mạnh siêu nhiên và thần thánh. Hoặc
trong kinh Vêđa và giáo lý đạo Bà La Môn tôn sùng các đấng thần linh. Bên
cạnh đó, các trường phái duy vật liên tục hoài nghi về các thần linh, chế nhạo
các tu sĩ, như Upanishad Chandogya so sánh hàng giáo phẩm chính thống thời
đó với một đàn chó con nọ cắn đuôi con kia thành một hàng dài và kính cẩn sủa
lên: “Phải, chúng tôi muốn ăn; Phải, chúng tôi muốn sống”. Còn Upanishad
Swasanved tuyên bố rằng không có thần, không có thiên đường, không có địa
ngục, không có luân hồi. Các kinh Vêđa, Upanishad chỉ là tác phẩm của bọn
điên khùng tự cao tự đại, dân chúng bị các lời đẹp đẽ, hảo huyền mê hoặc mà
thờ các vị thần lạy các ngôi đền.
SVTH: Lê Xuân Quỳnh Anh 23
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết Học
Ấn Độ cổ đại và Triết Học Trung Quốc cổ đại
Còn trong triết học Trung Quốc, Nho giáo về cơ bản là duy tâm nhưng vẫn còn
những luận điểm duy vật, nhất là thời kỳ đầu. Lão giáo, Mặc gia, Âm dương
gia… bên cạnh những luận điểm duy vật lại có nhiều luận điểm duy tâm.
Khổng Tử rất tin ở trời khuyên mọi người phục tùng ý chí của trời và thường
dạy học trò: “cũng như dòng nước chảy mọi vật đều trôi đi, không có gì ngưng
nghỉ” (Luận Ngữ, Tử Hảo, 1), hoặc “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vận hành,
vạn vật cứ sinh hóa mãi” (Luận Ngữ, Dương Hóa, 1), hoặc thuyết “Sống chết
có mạng, giàu sang tại trời” (Luận Ngữ, Nhan Uyên, 5), hoặc công nhận có quỷ
thần (Luận Ngữ, Thuật Nhi, 20). Trường phái Mặc gia coi tín ngưỡng tôn giáo
mang tính chất thỏa hiệp thể hiện bản chất nhu nhược của tầng lớp tiểu tư hữu
bị phá sản dưới chế độ chiếm hữu nô lệ đang suy tàn.Phật giáo, tuy là một tôn
giáo nhưng lại chứa đựng nhiều yếu tố duy vật, biện chứng… Vì vậy, sự phân
chia thành hai trận tuyến giữa một bên là chủ nghĩa duy tâm trong triết học
phương Đông không được đậm nét như ở triết học phương Tây. Đặc điểm này
phản ánh tính thiếu triệt để, thiếu nhất quán của triết học phương Đông về mặt
thế giới quan.