.
GVHD: TS BÙI VĂN MƯA
HVTH:NGUYỄN THỊ TUYẾT HẰNG
Lớp: TCDN, Ngày 4 K22
STT: 16– Nhóm 2 Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại2
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại3
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
Lời mở đầu
Triết Học Hy Lạp cổ đại là nền Triết Học được tạo nên từ thế kỷ VI trước CN
đến thế kỷ VI sau CN, là thành tựu rực rỡ của văn minh phương Tây, tạo nên cơ sở
xuất phát của văn hoá châu Âu. Là quê hương thứ hai của nền triết học Phương Tây,
được hình thành trên cơ sở của nền kinh tế công thương nghiệp phát triển, xã hội
chiếm nô đạt tới mức cao và trên nền tảng của những thành tựu khoa học tự nhiên, ít
bị chi phối bởi tôn giáo. Triết học cổ đại Hy Lạp là một quả núi đồ sộ trong thế giới
triết học của loài người. Ngay từ xa xưa, người Hy Lạp đã sản sinh ra những tư
tưởng triết học với các hình thái, xu hướng khác nhau, phản ánh những quan điểm
của các giai cấp với các khuynh hướng kinh tế và chính trị khác nhau. Có thể nói Hy
Lạp cổ đại là nơi sản sinh ra nhiều nhà triết học nhất trong lịch sử triết học ở Phương
Tây cũng như Phương Đông. Các nhà triết học này tựu trung ở hai trường phái: chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật ở thời nay mang tính chất
phác – thơ ngây. Về cơ bản hai trường phái này là đối lập nhau nhưng cũng có nhiều
nét tương đồng về quan điểm, tư tưởng khi ra đời trong cùng không gian và điều
kiện lịch sử là Hy Lạp thời cổ đại.
Để hiểu sâu sắc hơn về nền triết học Hy Lạp cổ đại, chúng ta cần tìm hiểu
phố lớn như Athen. Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn
phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt. Vùng bờ biển phía Đông của bán đảo Ban
Căng khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển. Các
đảo trên biển Êgiê (Egée) là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp
với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi. Vùng ven biển Tiểu Á là đầu mối giao thương
giữa Hy Lạp và các nước phương Đông. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy
nên Hy Lạp cổ đại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công
thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng. Nơi có
nhiều triết gia mà triết lý của họ trở nên bất hủ.
1.2/ Về kinh tế
Hy Lạp cổ đại nằm ở một vị trí vô cùng thuận lợi về khí hậu, đất đai, biển cả
và lòng nhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực vô giá để cho tư duy bay
bổng, mở rộng các mối bang giao và phát triển kinh tế.
Thế kỷ VIII – VI TCN, đây là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp
cổ đại là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. Lúc bấy
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại5
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
giờ đồ sắt được dùng phổ biến, năng xuất lao động tăng nhanh, sản phẩm dồi dào,
chế độ sở hữu tư nhân được cũng cố. Sự phát triển này đã kéo theo phân công lao
động trong nông nghiệp, giữa nghành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Xu hướng
SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
kinh tế, nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hóa mà các chuyến vượt biển đến với các
nước phương Đông trở nên thường xuyên. Chính vì thế tầm nhìn của họ cũng được
mở rộng, những thành tựu văn hóa của Ai Cập, Babilon đã làm cho người Hy Lạp
ngạc nhiên. Tất cả các lĩnh vực, những yếu tố của nước bạn đều được người Hy Lạp
đón nhận. Trong thời đại này Hy Lạp đã xây dựng được một nền văn minh vô cùng
xán lạn với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau. Chúng là cơ sở
hình thành nên nền văn minh phương Tây hiện đại.
Về văn học, người Hy Lạp đã để lại một kho tàng văn học thần thoại rất
phong phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn, phản ánh
cuộc sống sôi động, lao động bền bỉ, cuộc đấu tranh kiên cường chống lại những lực
lượng tự nhiên, xã hội của người Hy Lạp cổ đại.
Về nghệ thuật, đã để lại các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá
trị.
Về luật pháp, đã sớm xây dựng một nền pháp luật và được thực hiện khá
nghiêm tại thành bang Athen.
Về khoa học tự nhiên, những thành tựu toán học, thiên văn, vật lý… được
các nhà khoa học tên tuổi như Thalés, Pythago, Heraclite sớm phát hiện ra. Và đặc
biệt, người Hy Lạp cổ đại đã để lại một di sản triết học vô cùng đồ sộ và sâu sắc. Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại7
GVHD: Bùi Văn Mưa
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại8
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
thể hiện rõ các tư tưởng biện chứng chất phát từ thời cổ Hy Lạp. Ông coi bản
nguyên của thế giới là lửa. Vũ trụ không phải do Thượng Đế hay một lực lượng siêu
nhiên nào đó tạo ra, mà nó đã, đang và sẽ mãi mãi là ngọn lửa vĩnh hằng không
ngừng bùng cháy và lụi tàn, tàn lụi và bùng cháy theo cái lôgốt tức là “quy luật, trật
tự” nội tại của chính mình. Ông xem thế giới “vừa tồn tại vừa không tồn tại”,
“không ai tắm hai lần trong một dòng sông”. Thế giới vật chất “vừa đa dạng vừa
thống nhất”. (tr95)
Như vậy, Hêraclít là nhà triết học đã nêu lên các phỏng đoán thiên tài về quy
luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, mà sau này Mác đã đề cập và đi
sâu. Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của triết học Hêraclít vào kho
tàng tư tưởng của nhân loại.
2.1.3-Trường phái đa nguyên
Để giải thích tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật
Empêđốc (490 – 430 TCN ) và Anaxago ( 500 – 428 TCN ) cố vượt qua quan niệm
đơn nguyên sở khai của các trường phái như Milet - trường phái Hêraclít xây dựng
quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất đa dạng. Empêđốc thừa nhận
khởi nguyên của thế giới là bốn yếu tố : đất, nước, lửa và không khí. Anaxago cho
rằng cơ sở đầu tiên của tất cả mọi sự vật là “những hạt giống”. Anaxago xem “mầm
Nhìn chung, Về thế giới quan chủ nghĩa duy vật chất phác có ý nghĩa chống
lại những tư tưởng sai lầm của triết học duy tâm và tôn giáo; nhưng về mặt phương
pháp luận thì chưa có cơ sở khoa học, bởi nó mang tính trực quan, cảm tính chủ yếu
dựa vào tri thức kinh nghiệm của chính bản thân các nhà triết học hơn là những khái
quát khoa học của bản thân tri thức triết học. Vì, quan niệm về thế giới là vũ trụ, là
vạn vật, vật chất là vật thể cụ thể hoặc thuộc tính của vật thể cụ thể, v.v… còn ý
thức là linh hồn, là cảm giác nhưng nó phụ thuộc vào vật chất.
2.2-Chủ nghĩa duy tâm
Giai đoạn Hy Lap cổ đại, chủ nghĩa duy tâm được hình thành trong trường
phái triết học Pytago, trải qua trường phái duy lý Êlê và đạt được đỉnh cao trong
trường phái duy tâm khách quan của Platông, tức thế giới ý niệm.
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại10
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
2.2.1-Trường phái Pytago
Pytago (Pythagore, 571 – 497 TCN) là nhà triết học, toán học uyên bác. Sinh
ra và lớn lên ở vùng Tiểu Á. Do ảnh hưởng của toán học ông cho rằng “con số” là
bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật. Một vật tương ứng với một con số
nhất định, con số có trước vạn vật. Và tư tưởng Pytago cũng thừa nhận sự bất tử và
luân hồi của linh hồn. Ông cũng bàn đến các mặt đối lập vốn có của mọi sự vật hiện
tượng, ông quy về mười cặp đối lập cơ bản: hữu hạn và vô hạn, chẳn và lẻ, đơn và
chúng, ông chứng minh rằng: tồn tại là đồng nhất, duy nhất là bất biến. Còn tính
phức tạp, đa dạng và vận động của thế giới là không thực.
2.2.3-Trường phái duy tâm khách quan
Thể hiện lập trường chính trị của tầng lớp chủ nô bảo thủ chống lại nền dân
chủ Aten và hệ thống triết học duy vật của trường phái nguyên tử luận. Được xây
dựng bởi Xôcrát và Platông.
Xôcrát (469 – 399 TCN), khác với nhiều nhà bác học khác là không nghiên
cứu về giới tự nhiên, ông dành phần lớn nghiên cứu về con gười, đạo đức. Bàn về
con người dưới khía cạnh đạo đức. Platông (427 – 347 TCN), xuất thân trong một
gia đình chủ nô quý tộc ở Aten. Ông trở thành kiệt xuất nhất thời cổ đại Hy Lạp bởi
quan niệm triết học duy tâm khách quan. Ông xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách
quan với nội dung chính là “thuyết ý niệm”, với giá trị bên trong là phép biện chứng
của khái niệm và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức, chính trị, xã hội.
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại12
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
Chương III
Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác và
triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại
trong quá trình không ngừng sinh thành, biến đổi và chuyển hóa, cái này biến hóa
thành cái kia và ngược lại.[1,tr95].
Trường phái Êlê mà cụ thể là Pácmênít cho rằng: tồn tại là bản chất chung thể
hiện tính thống nhất của vạn vật trong thế giới. Không có cái gì trên thế giới được
sinh ra từ hư vô hay không tồn tại. Ngược lại, không có cái gì mất đi mà không để
lại dấu vết - tồn tại. Như vậy trong thế giới, vạn vật không ngừng biến đổi từ sự vật
này sang sự vật khác, từ dạng tồn tại này sang dạng tồn tại khác.[1,tr103].
Thuyết nguyên tử luận của Đêmôcrit và thuyết ý niệm của Platông đều tìm
hiểu về vũ trụ, tồn tại của sự vật.
3.1.3/ Tương đồng trong mối quan tâm về con người và đều tìm cách đem lại cho
con người cuộc sống hạnh phúc
Cả chủ nghĩa duy vật chất phác và duy tâm ở Hy Lạp cổ đại đều nghiên cứu
về vai trò của con người và tự nhiên, đều tìm hiểu, lý giải quan hệ linh hồn – thể
xác, đời sống đạo đức, chính trị, xã hội của con người. Con người là sự kết hơp giữa
linh hồn bất tử và thể xác khả tử.
Cùng bàn về vấn đề đạo đức và cuộc sống hạnh phúc. Dục vọng vật chất và
sự giàu có là nguyên nhân dẫn đến bất hạnh của con người.
3.1.4/ Tương đồng về chính trị - xã hội trong việc bảo vệ giai cấp thống trị - giai
cấp chủ nô
Các nhà triết học duy vật chất phác và triết học duy tâm ở Hy Lạp thời cổ
đại đều xuất thân trong gia đình giàu có, thuộc tầng lớp chủ nô quý tộc. Talét,
Hêraclit, Đêmôcrit, Platông, Arixtốt… luôn xuất phát từ quan niệm bảo vệ quyền
lợi của tầng lớp mình, bảo vệ chế độ dân chủ chủ nô. Chính vì thế cả hai tư tưởng
đều thể hiện sự mâu thuẫn khi vừa muốn xây dựng nhà nước tự do dân chủ, xóa bỏ
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại14
người cũng thuộc về thế giới này.
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại15
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
3.2.2/ Về vũ trụ
Đêmôrít cho rằng vũ trụ là vô tận vĩnh cửu; có vô số thế giới phát sinh phát
triển và tiêu diệt. Còn Platông thì ngược lại ông cho rằng vũ trụ này không tồn tại
thực, tất cả chỉ là sự phức hợp của ý niệm do ý niệm quy định do thượng đế quyết
định và không tồn tại.
3.2.3/ Về vấn đề linh hồn
Theo Đêmôrít, ông đã bác bỏ quan niệm về sự sản sinh ra sự sống và con
người của thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả biến đổi dần dần từ thấp đến cao
của tự nhiên. Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi trường nước và dưới tác động của
nhiệt độ. Sinh vật đó sống dưới nước, sau đó dần dần xuất hiện sinh vật có vú sống
trên cạn. Cuối cùng là con người ra đời trên quả đất. Ông đã phân biệt rõ ràng sự vật
và sinh vật chúng khác nhau ở chỗ sự vật không có linh hồn, còn sinh vật có linh
hồn: linh hồn được cấu tạo bởi các nguyên tử h
́
ình cầu, giống như nguyên tử của lửa
vận động với vận tốc cao. Nguyên tử linh hồn sinh ra nhiệt, nhiệt làm cho cơ thể
hưng phấn và vận động. Ông coi cái chết là sự phân tán của các nguyên tử cấu tạo
người và nhờ sự tác động của đối tượng nhận thức vào con người nên con người mới
nhận thức được. Ông chia ra nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức sáng
suốt. Nhận thức mờ tối là nhận thức do các giác quan đem lại, tức nhận thức cảm
tính. Nhận thức sáng suốt là nhận thức do sự phân tích sâu sắc sự vật để nắm chắc
bản chất bên trong của nó, tức nhận thức lý tính. Ông quan niệm rằng hai dạng nhận
thức đó có liên quan với nhau chặt chẽ. Trong đó cảm giác là bước đầu của nhận
thức. Song cảm giác là nhận thức “mờ tối” nó chưa cho con người hiểu được bản
chất tinh tế nằm sâu trong sự vật. Do đó con người phải dựa vào nhận thức lý tính.
Platông cho rằng chỉ có nhận thức lý tính đưa vào khái niệm mới có thể đạt
tới tri thức chân thực, nhận thức cảm tính không bao giờ đạt tới tri thức chân thực
mà chỉ đưa lại dư luận. Thực chất của vấn đề này là Platông đã đề cao vai trò của
nhận thức lý tính và hạ thấp vai trò của nhận thức cảm tính. Ông cho rằng nhận thức
chẳng qua là sự hồi tưởng, nhớ lại những ý niệm.
3.2.4/ Về quan điểm đạo đức và hạnh phúc
Nếu Đêmôcrít cho rằng sống có đạo đức là sống đúng mực, ôn hòa, không
gây hại cho mình và cho người, thì theo Platông sống có đạo đức là làm điều thiện.
Theo Đêmôcrít con người chỉ có hạnh phúc khi sống trong sự hưởng lạc
vừa phải trong sự thanh thản của tâm hồn, không giàu có quá đáng, không trục lợi
bất lương [1,tr100]. Trong khi Platông cho rằng: con người muốn sống hạnh phúc
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại17
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
người thợ thủ công. Platông đặc biệt miệt thị nô lệ. Theo ông nô lệ không phải là
người mà chỉ là động vật biết nói, không có đạo đức.
Platông chủ trương duy trì các hạng người trong xã hội, cũng có nghĩa là duy
trì sự bất bình đẳng giữa mọi người. Nhà nước ra đời là để đáp ứng những nhu cầu
đó. Trong khi ông lại chủ trương xây dựng chế độ công xã với tài sản chung, cha mẹ
con cái chung…. xóa bỏ sở hữu tư nhân.
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại19
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
KẾT LUẬN
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật
cổ đại. Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất
SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Văn Mưa chủ biên, Triết học – Phần 1 – Đại cương về lịch sử triết học
(tài liệu dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc
chuyên ngành triết họ c), 2011
Một số trang website:
2. Tổng quan về triết học Hy Lạp cổ đại,
http://hoainguyen_53.violet.vn/entry/show/entry_id/8303615
3. />triet-hoc-co-dai-Hy-Lap-158141
Đề tài tiểu luận triết học K21 – Đêm 5
4. Nguyễn Minh Hải, Chủ nghĩa duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại & những giá
trị, hạn chế của nó, 2012.
5. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại và
những giá trị, hạn chế của nó, 2012. Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại21
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
3.1.3/ Tương đồng trong mối quan tâm về con người và đều tìm cách đem lại
cho con người cuộc sống hạnh phúc 13
3.1.4/ Tương đồng về chính trị - xã hội trong việc bảo vệ giai cấp thống trị - giai
cấp chủ nô 13
3.2/ Sự khác biệt 14
Đề Tài 6: Sự tương đồng và khác biệt giữa triết học duy vật chất phác & duy tâm ở Hy Lạp thời cổ đại22
GVHD: Bùi Văn MưaSVTH: Nguyễn Thị Tuyết Hằng – STT: 16- Lớp: Ngày 4-K22
3.2.1/ Về vấn đề khởi nguyên của thế giới 14
3.2.2/ Về vũ trụ 15
3.2.3/ Về vấn đề linh hồn 15
3.2.3/ Về vấn đề nhận thức 16
3.2.4/ Về quan điểm đạo đức và hạnh phúc 16
3.2.5/ Về quan điểm chính trị- xã hội 17
Tài liệu tham khảo
20