LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Khi nhắc đến khởi nguyên tiềm tàng của nền triết học nhân loại chúng ta
không thể không nói đến hai nền triết học lớn của thế giới, đó chính là triết học
Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại. Có thể nói Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại là
những cái nôi của triết học thế giới, là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao
hưởng, bản hợp xướng của triết học, làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống triết học
thế giới sau này. Nét nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại là đã đặt ra hầu hết các
vấn đề cơ bản của triết học mà sau này các học thuyết triết học khác từng bước
giải quyết theo nội dung của thời đại mình Trong khi đó, triết học Ấn Độ cổ đại
đã đặt ra và giải quyết những vấn đề của tư duy triết học. Việc tìm hiểu sự tương
đồng và khác nhau của triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại giúp chúng ta có
khái niệm gần như hoàn chỉnh về triết học phương Tây và triết học phương
Đông, những ảnh hưởng của nó đến thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ
đó chúng ta biết cách vận dụng những tinh hoa của hai nền triết học này, nâng
cao khả năng tư duy, nhận thức thế giới, con người và xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu:
Bài viết không chỉ nêu lên hoàn cảnh ra đời, đặc điểm, những tư tưởng
cùng những trường phái của hai nền triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại, mà
mục đích chính của bài viết là làm rõ nét được những tương đồng và khác biệt
giữa hai nền triết học cổ đại này.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết hình thành trên cơ sở phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương
pháp phân tích tổng hợp và so sánh các nguồn tư liệu tham khảo với nhau để có
được kết quả chính xác nhất, tránh cách nhìn phiến diện.
TP.HCM, ngày 10 tháng 05 năm 2011
Nhóm triết học 8 – Đêm 1 – K20
Học viên: Trịnh Phan Nguyên Vũ
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 1Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
CHƯƠNG 1:
hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó.
- Thứ năm: coi trọng vấn đề về con người. Dù còn có nhiều bất đồng, song
nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của
tạo hóa.
4. Các tư tưởng, trường phái triết học:
4.1. Chủ nghĩa duy vật:
4.1.1. Trường phái Milet: đóng góp chính quan trọng nhất của trường
phái Milet này là đã được đặt nền móng cho sự hình thành các khái niệm đó như
khái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ sung và làm phong phú
thêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh giữa các
mặt đối lập
4.1.2. Trường phái Héraclite: Héraclite là nhà triết học đã nêu lên các
phán đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập mà
sau này Marx đã đề cập và đi sâu. Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng
góp của triết học Héraclite vào tư tưởng của nhân loại.
4.1.3. Trường phái đa nguyên Empédocle – Anaxago: để giải thích
tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật, Empédocle và
Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sự phát minh của các trường phái
Milet, trường phái Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế
giới vật chất đa dạng. Tuy nhiên quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai,
còn hạn chế.
4.1.4. Trường phái nguyên tử luận Leucippe – Démocrite: là một hệ
thống quan điểm duy vật đầy đủ, nhất quán, trường phái nguyên tử làm cho chủ
nghĩa duy vật đạt được đỉnh cao. Nó xung đột mạnh với chủ nghĩa duy tâm của
Xocrat, Platong sau này.
Quan điểm về nhận thức - đạo đức:
+ Quy nạp là phương pháp nhận thức đúng đắn.
+ Hiểu biết là cơ sở của hành vi đạo đức. Sống có đạo đức là sống đúng mực, ôn
hoà, không hại mình, không hại người.
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
ra, linh hồn như một tấm bảng trắng.
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 4Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
Quan điểm về đạo đức, chính trị - xã hội:
+ Xã hội tốt nhất phải dựa trên chế độ cộng hoà quý tộc, do chủ nô trung lưu lãnh
đạo.
+ Công bằng trong trao đổi sản phẩm là nền tảng của công bằng xã hội và bình
đẳng giữa các cá nhân…
+ Lý trí, lẽ phải là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh.
II. KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI:
1. Điều kiện ra đời:
1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội:
Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông thôn, toàn bộ
ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, sự phân chia đẳng cấp hết sức khắc
nghiệt. Xã hội có 4 đẳng cấp lớn: Tăng lữ (Bà la môn), Đẳng cấp quý tộc, Đẳng
cấp bình dân tự do, Đẳng cấp nô lệ. Xã hội Ấn Độ có nhiều tôn giáo: Đạo Ấn
(thờ bò), Đạo Hồi (không ăn thịt heo), Đạo Thiên chúa, Đạo Cơ Đốc.
1.2. Điều kiện về khoa học và văn hóa:
- Về tri thức khoa học, người Ấn Độ đã có những tri thức rất sớm và phong
phú về nhiều lĩnh vực như: thiên văn, lịch pháp, toàn học, y học, nông nghiệp,
kiến trúc…
- Nền văn hóa Ấn Độ mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh có pha
trộn sự thần bí.
2. Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ:
- Triết học thời kỳ Véđa (khoảng thế kỷ XV đến VIII TCN): thời kỳ này tập
trung phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gió hòa,
mong có thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và
đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học. Tuy nhiên qua các tập Véđa đã
thể hiện sự phát triển của tư duy trừu tượng trong đó người ta đã thừa nhận một
nguyên lý vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh
biệt mới đạt đến sự giải thoát hoàn toàn.
4.3. Hệ thống triết học không chính thống:
- Triết phái Jaina (Kỳ na giáo): trường phái này mang đượm màu sắc tôn
giáo, ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên.
- Triết phái Lokayata (hay còn gọi là Carvaka): triết học Lokayata mang
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 6Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
tính duy vật chủ nghĩa và vô thần tương đối triệt để, nhưng chỉ tồn tại trong một
thời gian tương đối ngắn… Nó được trình bày trong chính kinh Veda, trong các
sử thi và cả trong kinh sách của Phật giáo. Thuyết ấy tuyên bố rằng chỉ có thể
biết là hiện hữu những gì ta tri giác được. Không có thế giới bên kia: chết là hết.
Niềm tin vào những cái như thế bị xem là tưởng tượng kỳ quái. Không có bằng
chứng hợp lý luận cho tính khả thi của cái không thể thấy; không thể dùng sự suy
ra như một nguồn có giá trị của tri thức mới vì không thể chứng minh nó một
cách vô điều kiện.
- Triết phái Buddhism (Phật giáo): là một trường phái triết học tôn giáo lớn
của Ấn Độ cổ đại. Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo Ấn Độ cổ đại
được thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba phạm trù: vô ngã, vô thường,
duyên khởi) và nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu (4 chân lý tuyệt diệu): khổ
đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế.
CHƯƠNG 2:
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 7Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
SO SÁNH TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ẤN ĐỘ CỔ
ĐẠI
I. SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
VÀ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI:
1. Tư tưởng triết học chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên, lịch
sử, xã hội:
Triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại cùng ra đời dựa trên những
đời của vạn vật:
Nghiên cứu về con người, đạo đức nhân sinh quan, đặt vai trò của con
người lên hàng đầu. Tuy nhiên, triết học vẫn chưa tách rời được yếu tố thần linh
ra khỏi ý thức của con người.
Hai nền triết học đều có những trường phái chịu ảnh hưởng của thần
thánh, tôn giáo. Quan điểm là linh hồn con người tồn tại và trải qua luân hồi. Thế
giới tự nhiên là do thần thánh sáng tạo, sắp xếp, có nguồn gốc thần bí.
- Ấn Độ: trường phái Upanisat với khái niệm đại ngã, tiểu ngã dựa trên ý
niệm thần thánh hóa căn nguyên vạn vật, xem đại ngã là linh hồn vũ trụ, sinh ra
vạn vật, tiểu ngã là linh hồn con người, biểu hiện cụ thể của đại ngã, chịu luân
hồi báo ứng. Đến trường phái Vêđanta tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của đại ngã
và tiểu ngã, khuyến khích giải thoát tiểu ngã khỏi vây hãm thể xác, quay về với
đại ngã.
- Hy Lạp: trường phái duy tâm của Pytago ủng hộ quan điểm duy tâm – tôn
giáo của phương đông, coi linh hồn tồn tại bất tử, độc lập với thể xác và chịu
luân hồi. Trường phái Xôcrát-Platông cho rằng hiện tượng tự nhiên do thần thánh
sáng tạo và an bài. Ý niệm của Platông là lý tính, tồn tại trên trời, chân thực tuyệt
đối. Thế giới sự vật là sự sao chép của ý niệm, sinh ra từ ý niệm, do thần Tạo hóa
mô phỏng từ ý niệm. Linh hồn vũ trụ là thần linh, tồn tại dưới dạng các tinh tú,
và chỉ được nhận thức bằng linh hồn vũ trụ của con người. Con người bao gồm
thể xác khả tử và linh hồn bất tử.
Hai nền triết học đều có những trường phái cho rằng thế giới tạo thành từ
vật chất, không tồn tại thần thánh.
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 9Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
- Ấn Độ:
Trường phái Nyaga với thuyết nguyên tử luận, cho rằng thế giới vật chất được
cấu thành từ các nguyên tử kết hợp lại.
Trường phái Vaisêsika cũng ủng hộ thuyết nguyên tử luận.
Phái Lokayata xem sự vật kết thành bởi tứ đại bao gồm đất, nước, gió, lửa.
5. Tương đồng trong mối quan tâm về con người và đều tìm cách
đem lại cho con người cuộc sống hạnh phúc:
Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, tất cả đều nghiên cứu về vai trò của con
người và tự nhiên, mỗi thời kỳ có một sự quan tâm khác biệt nhưng cùng tô màu
vẽ sắc cho các nền triết ấy. Vì vậy, đây chính là nền tảng, tiền đề cho sự phát
triển của 2 nền triết học này trong các giai đoạn sau.
- Ấn Độ: giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa
cuộc sống, nguồn gốc nỗi khổ).
- Hy Lạp: tìm hiểu, lý giải quan hệ linh hồn – thể xác, đời sống đạo đức,
chính trị, xã hội của con người.
6. Các điểm tương đồng khác:
- Bên cạnh những ưu điểm, hai nền triết học đều chưa rõ ràng, chưa hệ
thống hóa và giải thích được nguồn gốc, tính chất vai trò của phạm trù đối với
nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Cả hai nền triết học đều đề cao lao động trí óc đã thúc đẩy hình thành tầng
lớp tri thức, họ đã sử dụng tư duy lý luận để nghiên cứu thế giới và xây dựng nền
triết học và khoa học đồ sộ, sâu sắc.
- Trong quá trình nhận thức, suy tư triết lý, đôi khi đã đạt tới ý tưởng siêu
thực, vượt qua tầm suy nghĩ, nhận thức giác quan đạt tới những phán đoán siêu
hình về sự tồn tại.
II. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI:
1. Triết học Ấn Độ cổ đại:
1.1. Triết học có sự đan xen với tôn giáo:
Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín
ngưỡng tôn giáo. Do đó, triết học Ấn Độ cổ đại là một nền triết học chịu ảnh
hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo. Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 11Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
biệt. Tư tưởng triết học ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua các
Trang 12Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
chất, là nguồn sống vĩnh hằng, là cội nguồn chi phối mọi sự sinh thành và hủy
diệt của mọi cái trong thế giới, còn linh hồn cá nhân bị vây hãm, ràng buộc bởi
những ham muốn nhục dục của thể xác. Con người phải dốc lòng tu luyện, chiêm
nghiệm tâm linh để nhận ra bản tính thần thánh của mình mà quay về với linh
hồn vũ trụ. Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ đại mang nặng tính chất duy tâm, chủ
quan, thần bí.
Xuất phát từ những đòi hỏi và hiện thực xã hội, các nhà triết học Ấn Độ cổ
đại là những nhà hiền triết, nhà tôn giáo, nhà giáo dục, đạo đức, chính trị - xã hội,
thiên về cải tạo thế giới, giải thoát chúng sinh ra khỏi điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội khắc nghiệt.
1.2. Triết học có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
duy tâm, giữa phép biện chứng và phép siêu hình:
Do chịu ảnh hưởng bởi tinh thần Vêđa mà triết học Ấn Độ cổ đại không
thể phân chia rõ ràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện
chứng và phép siêu hình mà chủ yếu được chia thành hệ thống chính thống và hệ
thống không chính thống. Trong các trường phái triết học cụ thể luôn có sự đan
xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng và phép
siêu hình.
Chẳng hạn như những nhà tư tưởng của phái Samkhya sơ kỳ bộc lộ những
tư tưởng có tính duy vật chứa ít nhiều biện chứng về bản nguyên hiện hữu. Họ
đưa ra học thuyết về sự tồn tại của kết quả trong nguyên nhân trước khi nó xuất
hiện và học thuyết về sự chuyển hóa thực tế của nguyên nhân trong kết quả. Họ
cho rằng loại nào có nguyên nhân của loại đó “Trồng Sali được Sali, trồng Vrihi
được Vrihi”. Từ đó mà trong quan niệm về sự hình thành sự vật, họ cho rằng nếu
vạn vật của thế giới này là vật chất thì yếu tố tạo nên vạn vật với tính cách là
nguyên nhân cũng là vật chất, đó là “vật chất đầu tiên” (Prakriti) một dạng vật
chất tiềm ẩn, không hình dạng, không giới hạn, không thể nhận biết được bằng
cảm tính. Thế giới vật chất là thể thống nhất của ba yếu tố: Sativa (nhẹ nhàng,
thuần khiết), Razas (tích cực, năng động), Tamas (nặng, ỳ). Khi ba yếu tố trên ở
tâm. Điều đó thể hiện rõ sự thiếu nhất quán trong thế giới quan, sự thiếu triệt để
của triết học vì phân kỳ lịch sử trong các xã hội Ấn Độ không mạch lạc như
phương Tây.
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 14Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
1.3. Triết học Ấn Độ cổ đại lấy nhân sinh quan làm gốc, đặc biệt là
vấn đề luân hồi, nghiệp báo, sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận:
Triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra nhiều vấn đề thuộc về lĩnh vực nhân sinh
(bản chất, ý nghĩa đời sống, nguồn gốc nổi khổ của con người) nhằm tìm kiếm
phương tiện, con đường, cách thức giải thoát chúng sinh ra khỏi điều kiện tự
nhiên và kinh tế - xã hội khắc nghiệt mà không thấy mối quan hệ giữa con người
trong lao động sản xuất.
Upanishad bàn tới vấn đề “luân hồi”, “nghiệp báo”. Vì Atman “linh hồn”
tồn tại trong thể xác con người trần tục nên ý thức con người lầm tưởng rằng
“linh hồn” đó khác với “linh hồn vũ trụ” bất tử. Những cảm giác, ham muốn dục
vọng và hành động của con người nhằm thỏa mãn những ham muốn đó trong đời
sống trần tục đã gây ra những hậu quả, gieo đau khổ ở kiếp này và cả kiếp sau,
gọi là “nghiệp báo” (Karma). Do vậy, linh hồn bất tử cứ bị giam hãm vào hết thể
xác này đến thể xác khác, bị che lấp, ràng buộc bởi thế giới hiện tượng như ảo
ảnh, gọi là sự “luân hồi” (Samsara), không nhận ra và không trở về đồng nhất với
chân bản của mình là Brahman được.
Muốn giải thoát linh hồn bất tử khỏi vòng vây hãm của luân hồi, nghiệp
báo để đạt tới đồng nhất với “Tinh thần vũ trụ tối cao” tuyệt đối thì con người
phải dốc lòng toàn tâm tu luyện hành động và tu luyện tri thức. Bằng nhận thức
trực giác, thực nghiệm tâm linh, con người mới nhận ra chân bản của mình, khi
đó linh hồn bất tử mới đồng nhất được với “linh hồn vũ trụ tối cao” và bắt đầu
“siêu thoát” (moksa).
Thừa nhận quan niệm “Luân hồi” và “Nghiệp báo” trong Upanishad, Phật
giáo đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sự giải thoát cho
chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn
rõ con người và vấn đề bản thể luận trong triết học Ấn Độ trong triết học Ấn Độ
cổ đại bị mờ nhạt.
Về vấn đề con người, triết học Ấn Độ cổ đại đặt trọng tâm nghiên cứu mối
quan hệ giữa người với đời sống tâm linh ít quan tâm tới mặt sinh vật của con
người, chỉ quan tâm giải quyết các vấn đề thuộc về lĩnh vực nhân sinh quan (bản
chất, ý nghĩa, đời sống, nguồn gốc, nổi khổ của con người) gắn liền với quan
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 16Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
điểm tôn giáo nhằm tìm kiếm con đường, phương tiện, cách thức giải thoát con
người, mà không thấy mối quan hệ giữa con người trong lao động sản xuất.
1.5. Triết học Ấn Độ cổ đại ngã về dùng trực giác:
Trường phái Mimansa coi cảm giác là nguồn gốc duy nhất của nhận thức.
Nhận thức trong triết học Ấn Độ bắt đầu từ luân lý đạo đức, nhận thức gắn liền
với đạo đức. Trong nhận thức, triết học Ấn Độ đề cao việc tự nhận thức, tự hiểu.
Điều này quy định tính chất trực nhận, trực giác trong triết học Ấn Độ. Từ đó,
một lôgíc kéo theo là công cụ, phương tiện nhận thức lại nghiêng về ẩn dụ, hình
ảnh.
1.6. Triết học Ấn Độ cổ đại thường tôn trọng và có khuynh hướng
phục cổ, không có những bước nhảy vọt về chất:
Triết học Ấn Độ ít thấy có những bước nhảy vọt về chất mà chỉ là sự phát
triển cục bộ, kế tiếp xen kẽ. Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục
bộ, thêm bớt hay đi sâu vào từng chi tiết, xuất phát từ tinh thần Vêđa chia ra làm
hai hệ thống: hệ thống chính thống ủng hộ tinh thần Vêđa và trường phái không
chính thống phản đối lại tinh thần Vêđa.
Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng hộ,
bảo vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và phát triển nó hơn là
vạch ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thứ triết học mới. Do vậy
nó không mâu thuẫn với các học thuyết đã được đặt nền móng từ ban đầu, không
phủ định nhau hoàn toàn và dẫn đến cuộc đấu tranh trong các trường phái không
gay gắt và cũng không triệt để. Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến
Triết học Hy Lạp cổ đại đã giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học và
chia ra thành các trường phái khác nhau: trường phái nhất nguyên (duy vật, duy
tâm) và trường phái nhị nguyên, thậm chí còn chia ra những nhà vô thần và hữu
thần, gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị tư tưởng, trong đó điển hình là cuộc
đấu tranh giữa trào lưu triết học duy vật của Đêmôcrit và trào lưu triết học duy
tâm của Platông. Hai học thuyết đó ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống phương
Tây. Có thể nói triết học Hy Lạp cổ đại rất nhất quán, kiên định một quan điểm,
một lập trường.
Ba nhà triết học duy vật thuộc trường phái Mi-lê (tên một đô thị cổ Hy
Lạp) là Talét, Anaximăngđrơ và Anaximen cho rằng có những thực thể vật chất
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 18Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
đầu tiên, vĩnh viễn vận động tạo ra mọi vật trên thế giới. Theo Talét đó là nước,
theo Anaximăngđrơ đó là một thực thể vô định và vô hạn, theo Anaximen đó là
không khí. Hêraclít không thuộc trường phái nói trên, ông cũng cho rằng bản
nguyên của vũ trụ là lửa, lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh
ra vạn vật.
Ngược lại, một số nhà triết học thuộc trường phái Êlê (tên một đô thị cổ ở
miền nam nước Ý) như Xênôphan, Pácmênít, Dênông và trường phái Pitago lại
có những quan điểm duy tâm, siêu hình về nguồn gốc vũ trụ. Họ cho rằng, thế
giới là một tồn tại bất động và bất biến (trường phái Êlê), con số là bản nguyên
của vũ trụ (trường phái Pitago).
Đối lập lại chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn.
Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã xây
dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật. Theo ông, giới tự
nhiên bắt nguồn từ ý niệm.
Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của
Platôn là Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy
Lạp - La Mã, nhưng là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ
thuyết ý niệm của Platôn; mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của
thuộc lẫn nhau. Bản chất của con người là lý trí và được tìm thấy trong một xã
hội được xếp đặt theo trật tự duy lý. Cái tư tưởng hiện đại cho rằng cá nhân
không thể tách khỏi xã hội và “nhân tính” là hình thành do xã hội và phát triển
trong xã hội, tư tưởng đó không lớn mạnh trong tư tưởng Hy Lạp Xôcrat và
Platông thì chỉ rõ xã hội là sự phóng rọi của bản chất con người trên tấm vải thô
lớn, hay là sự phản ánh được khuếch đại của bản chất con người. Con người chỉ
thực sự sống trong xã hội, không thể sống ngoài xã hội Arixtốt, một nhà duy
lý, chấp nhận các nguyên lý chính yếu của Platông “Con người không thể là con
người nếu không có xã hội "
2.4. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tách chủ thể với khách thể để
nhận xét khách quan:
Các nhà triết học Hy Lạp đã nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi
con người là chủ thể để nghiên cứu, chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan. Đặt
trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại; còn vấn đề con người
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 20Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
chỉ được nghiên cứu để giải thích thế giới mà thôi. Cho nên triết học Hy Lạp cổ
đại thể hiện đậm nét về bản thể luận của vũ trụ.
Thật vậy, các nhà triết học đầu tiên Hy Lạp đã can đảm thoát ra tâm thức
duy tín vào vũ trụ. Họ dấn mình vào lãnh vực lý trí của con người để suy tư về vũ
trụ. Họ nghi ngờ về niềm tin vào thế giới qua những kinh nghiệm giác quan của
mình. Và một khi lý trí đặt vấn đề cũng là lúc con người cảm thấy có một điều gì
đó không được thoả mãn. Trong cái thế giới huyền hoặc đó hình như có điều gì
cào bằng, xô bồ, đoàn lũ và mê tín. Burnet nhận định: “Khi thôi không kể những
chuyện hoang đường nữa thì cũng là lúc các nhà bác học Milet thực sự bước một
bước tiến vĩ đại”.
Tóm lại, khi Protagoras đặt viên đá đầu tiên: “Con người là thước đo vạn
vật” để xây lên toà nhà chủ thể, thì Socrate trang hoàng và bảo vệ ngôi nhà đó
bằng phương pháp “hãy tự biết chính mình”. Tuy nhiên, cuộc cách mạng của
Protagoras không thoát ra khỏi bầu khí của vũ trụ luận; còn công trình của
phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể
Các nhà triết học Hy Lạp đều đề cao tư duy lý tính. Chẳng hạn, Xênôphan
cho rằng nhận thức cảm tính nếu không sai lầm thì cũng không đầy đủ. Bằng cảm
tính chúng ta không thể nhận thức được bản chất sự vật. Muốn nhận thức được
bản chất sự vật phải dựa vào tư duy, lý tính. Và quan điểm duy lý này đã được
Pácmênít phát triển thành chủ nghĩa duy lý. Pácmênít cho rằng bản chất của sự
tồn tại là bất biến, vĩnh hằng, đơn nhất và tồn tại – bản chất của vạn vật chỉ có thể
được nhận thức bởi tư duy lý tính.
2.6. Triết học Hy Lạp cổ đại có sự đấu tranh giữa các trường phái
mang tính chất quyết liệt, triệt để, có sự phát triển về chất khá rõ rệt:
Triết học Hy Lạp thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá
càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định
hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.
Mặc dù là học trò của Platông, nhưng Arixtốt đứng trên quan điểm duy vật
tiến bộ phê phán thuyết ý niệm của Platông. Về mặt bản thể luận, ông cho rằng
việc Platông chia thế giới thành thế giới ý niệm và thế giới sự vật là hoàn toàn
thiếu cơ sở. Về mặt nhận thức luận, ông bác bỏ hoàn toàn quan niệm Platông cho
rằng ý niệm là cái có trước và độc lập so với sự vật, theo Arixtốt điều này là vô
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 22Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
dụng ngược đời. Theo ông, bản chất phải nằm ngay bên trong sự vật và phải
được nhận thức của con người khái quát thành cái chung dưới dạng khái niệm,
quy luật, phạm trù. Khái niệm, quy luật, phạm trù không phải là cái có trước,
sinh ra và quyết định sự tồn tại của sự vật mà ngược lại sự tồn tại sự vật được
phản ánh trong khái niệm, quy luật, phạm trù của nhận thức.
Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, bên cạnh các trường phái cũ lại có những
trường phái mới ra đời có tính chất vạch thời đại như thời cố đại bên cạnh trường
phái Talét, Hêraclit đến Đêmôcrit. Lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại có thể chia
làm ba thời kỳ. Xuyên suốt ba thời kỳ ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật
mang đến cho nhân loại vẫn còn nguyên giá trị đó. Triết học Hy Lạp cổ đại chia
làm ba thời kỳ là thời kỳ tiền Socrate, thời kỳ Socrate là thời kỳ cực thịnh, thời
kỳ hậu Socrate. Trong giai đoạn này có rất nhiều triết gia nổi bậc như: Thales,
Anaximandre, Heraclite, Pythagore, Xenophane, Parmenide, Zenon, Anaxagore,
Empedocle, Democrite, Socrate, Platon, Aristote…Triết lý Hy Lạp cổ đại là
những viên gạch đầu tiên xây nên toàn bộ ngôi nhà văn minh của Châu Âu
ngày nay. Ta có thể thấy cả bề mặt và bề trái của Châu Âu ngày nay qua nền
triết học Hy Lạp cổ đại. Điều đó làm cho nó sáng rực rỡ trên vũ đài triết học
nhân loại và trở nên bất hủ. Marx nói: “Dại dột cho ai không thấy giá trị Hy
Lạp cổ đại”. Những triết gia đã đóng góp vào kho tàng triết học ấy nổi bậc và
ngời sáng như là Socrate, triết gia đã sống và chết không phải cho riêng mình.
GVHD: TS. Bùi Văn MưaTiểu luận Triết học
Trang 24Trịnh Phan Nguyên Vũ – STT 139 – Nhóm 8 – Đêm 1 – K20
- Triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của triết
học. Trong khi giải quyết những vấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận
và nhân sinh quan, triết học ấn Độ đã thể hiện tính biện chứng và tầm khái
quát khá sâu sắc, đã đưa lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng di sản của
triết học nhân loại. Một xu hướng cơ bản trong triết học Ấn Độ cổ đại là quan
tâm giải quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tâm linh tôn giáo với xu
hướng “hướng nội”, đi tìm cái “Đại ngã” trong cái “Tiểu ngã” của một thực thể
cá nhân. Có thể nói, sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của
nhiều học thuyết triết học Ấn Độ cổ đại ( trừ phái Lokayata), và hầu hết các
học thuyết đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy
vật đến duy tâm hay nhị nguyên. Có thể điều đó là sự phản ánh trạng thái trì
trệ của “phương thức sản xuất châu Á” ở Ấn Độ vào tư duy triết học; đến lượt
mình, triết học lại trở thành một trong những nguyên nhân của tình trạng trì
trệ đó.
- Có lẽ Triết học Ấn Độ cổ đại và Hy Lạp cổ đại như là hai mặt của một vấn đề,
chúng bổ sung một cách hoàn hảo cho nhau. Triết học Hy Lạp cổ đại giải quyết
rất tốt vấn đề phát triển của khoa học, kinh tế, chính trị - xã hội và có thể nói