TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Phòng quản lý đào tạo sau đại học
***
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT
GIÁO, NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
NTH: Trần Duy Bảo
STT 08
Nhóm 01
Lớp CHKT – K21 – D5
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TP. Hồ Chí Minh, 2012
2
Mục lục
3
Mở đầu
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới được truyền vào Việt
Nam từ rất sớm. Với mỗi người Việt Nam chúng ta, đạo Phật đã trở nên gần gũi và
gắn bó máu thịt. Có thể nói Phật giáo đến với Việt Nam là một cơ duyên lớn cho dân
tộc Việt Nam, riêng đối với em, được nhận đề tài về Phật giáo chính là một cơ duyên
lớn cho bản thân, vì đề tài “Những tư tưởng triết học Phật giáo, những giá trị và hạn
chế của Phật giáo” đã tạo cho em thêm cơ hội để hiểu sâu hơn về Phật giáo, được
thấm nhuần những tư tưởng có giá trị về văn hóa giáo dục và hết sức gần gũi với đời
sống hằng ngày. Về góc độ thực tiễn thì những tư tưởng của Phật giáo hết sức có giá
trị trong việc rèn luyện tinh thần, trí tuệ và đạo đức của bản thân. Tuy nhiên một nền
triết học lớn cũng không tránh khỏi những hạn chế và việc nhận biết những hạn chế
của Phật giáo sẽ giúp chúng ta lựa chọn được hướng tiếp cận Phật giáo đúng đắn,
hiệu quả để có thể ứng dụng vào thực tiễn làm cho đời sống hằng ngày trở nên tốt
đẹp hơn.
giác, mong kéo dài sự thoã mãn dục vọng, tạo mãi luân hồi nghiệp báo và đời đời
trầm luân trong bể khổ.
1.1.1.2 Vô ngã
Phật Giáo không chấp nhận có một linh hồn vĩnh cửu hay một bản ngã trường
tồn mà con người đã thọ lãnh một cách bí ẩn, từ một nguồn gốc cũng không kém bí
ẩn. Phật Giáo quan niệm vô ngã, nghĩa là không có tự tánh, không có thật, không có
một cái “tôi” bất biến vĩnh cửu. Vô ngã chia thành “nhị ngã” là “nhơn vô ngã’ và
“pháp vô ngã”. “Nhơn vô ngã” tức hiểu rằng không thật có người, không thật có
mình, không thật có chúng sanh, chỉ do ngũ uẩn “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” hợp
thành, hiểu như vậy thì dứt phiền não, không còn mê tối. “Pháp vô ngã” tức hiểu
4
5
rằng pháp do nhân duyên mà sinh ra chứ không có thật, hiểu như vậy thì dứt sở tri
chướng, trí tuệ sáng ra, không còn vướng vào cái mê tối.
1.1.2 Duyên khởi
Trên các tượng Phật và tòa tháp Phật Giáo thường khắc “Pháp thân kệ”, với nội
dung: “Nhược pháp nhân duyên sinh, pháp diệc nhân duyên diệt; thị sinh diệt nhân
duyên, Phật đại sa môn thuyết.” Ở đây “Phật đại sa môn” là tôn xưng của Phật Đà.
Câu nói trên tuyên truyền ý: vạn pháp vũ trụ đều dựa theo nhân duyên mà sinh diệt,
kể cả ngoại cảnh mặt vật chất và tâm thức mặt tinh thần, đều do “duyên” mà sinh ra,
tức sự hòa hợp nguyên nhân hoặc điều kiện, duyên đến (tập) thì pháp sinh, duyên đi
(khứ) thì pháp diệt. Đây là tư tưởng cơ bản của thuyết Duyên khởi. [5]
Tất cả các sự vật không sự vật nào có “tự tính”, mà chỉ nhờ nhân duyên hội lại
mới thấy in tuồng như có. “Nhân” (nguyên nghĩa là hột giống) tức là những sự vật
có năng lực sinh sản ra “quả”. “Duyên” là những sự vật bổ trợ cho “nhân”, giúp cho
“nhân” sinh ra “quả”. Nhân duyên hòa hợp với nhau sinh ra vạn pháp. Nếu có
“nhân” mà không có “duyên” thì ‘nhân” đó không thể nào sinh ra “quả” được.
Thường thì “quả” không bao giờ do một “nhân” duy nhất mà do nhiều “nhân” hợp
với nhau mà thành, “nhân” có nhiểu thứ, mà “duyên” cũng có nhiều loại.
Theo thuyết “mười nhân” thì có các nhân sau: 1. Tùy thuyết nhân, 2. Quản đãi
tưởng vận động, biến hóa, phát triển, nên coi đó là biểu hiện của tư duy biện chứng
1.1.3 Trung đạo
Trung đạo là con đường chính giữa không lệch về bên nào, vượt trên sự cực
đoan, không thiên lệch về hai bên hữu vô, nhất dị, khổ lạc, yêu ghét. Muốn thực
hiện cái “Tâm nhất như” hay là cái “tâm bình đẳng (phật tánh) của Phật giáo, đầu
tiên phải phá trừ nhãn kiến nhị nguyên do cái “tâm sai biệt” đã phân chia sự sự vật
6
7
vật thành hai phần khác biệt như tâm – vật, hữu – vô, nội – ngoại, bỉ - ngã, tâm –
trí, thiện – ác, sinh – tử … thì mới mong kiến tánh và thành Phật. Đó là pháp môn
bất nhị hay bình đẳng bất nhị, thường gọi là trung đạo [1, tr 177].
Trung đạo là tinh hoa cao cao tột của Phật Đại Thừa, là nơi Thực Tướng Ấn
của Thực Đại Thừa. Trung đạo là lập trường căn bản và đặc sắc cơ bản của Phật giáo
Đại Thừa. Thích Ca Mâu Ni phản đối thuyết Thần Ngã của đạo Bà La Môn; về lý
luận đề xuất phép duyên khởi “Thử hữu bỉ hữu, thử vô bỉ vô, thử sinh bỉ sinh, thử
diệt bỉ diệt” tức là “Cái này hiện hữu thì cái kia hiện hữu; cái này không hiện hữu thì
cái kia không hiện hữu. Cái này sinh thành thì cái kia sinh thành; cái này hủy diệt thì
cái kia hủy diệt”, từ đó nhấn mạnh “Ly vu nhị biên, thuyết vu Trung Đạo”. Cũng là
nói dựa theo thuyết Duyên Khởi bất hữu bất vô, bất nhất bất dị, bất thường bất đoạn,
bất lai bất khứ.
Trong thực tiễn, Thích Ca Mâu Ni đề xuất “Bát Chính Đạo”, vừa phản đối chủ
nghĩa khoái lạc lại phản đối chủ nghĩa khổ hạnh, đề xướng Trung Đạo Hạnh bất khổ
bất lạc, tức tư duy, lời nói, hành vi, ý chí, đời sống … của con người đều nên vừa
phải, giữ ở mức ở giữa không lệch bên nào.
Vì vạn pháp là Duyên khởi, được xác định trong mối quan hệ, cho nên có tính
“Vô ngã”, tức vừa không có Tự tánh, không có tánh thực thể, cũng tức là bản tánh,
bản chất là Không. Đây là bản nghĩa của Không. Vạn pháp nếu xác lập trong mối
quan hệ cũng tất nhiên là một quá trình biến đổi hỗ động, có tính “Vô thường”, sinh
diệt vô thường, cũng là Không. Từ đó có thể nói do Duyên Khởi mà tính Không,
Duyên Khởi tức tính Không, Duyên Khởi và tính Không là đồng nghĩa ngữ. Không
tái sanh. Ái hợp với tâm thiết tha khao khát, bám víu cái này hay cái kia. Chính là
8
9
Ái đeo níu theo nhục dục ngũ trần, Ái đeo níu theo sự sinh tồn, và Ái đeo níu theo sự
không sinh Tồn.” [2, tr. 101-102].
Như vậy dứt bỏ được cái nguyên nhân của đau khổ là đạt được sự siêu thoát
hoàn toàn. Từ đó Đúc Phật đưa ra chân lý thứ 3 là Diệt khổ thánh đế. Hai chân lý
đầu tiên là tại thế, thuộc về thế gian, còn chân lý thứ 3 là siêu thế và vượt hẳn ra
ngoài phạm vi luân lý. Diệt đế không phải là trường hợp khước từ những trần cảnh
bên ngoài, mà là dứt bỏ mọi luyến ái bên trong đối với thế gian bên ngoài. Phật
giảng: “đây là chân lý thâm diệu về sự diệt khổ, đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt
chính tâm ái dục ấy. Đó là sự từ bỏ, sự khước từ, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi
tâm ái dục.” [2, tr. 102].
Diệt đế được thành tựu bằng tận diệt trọn vẹn mọi luyến ái, và để đạt được
thành tựu của Diệt đế cần phải trau dồi và phát triển đế thứ tư, đó chính là tám con
đường để diệt ái dục, còn gọi là Bát Chính Đạo là con đường duy nhất dẫn đến Niết
Bàn. Con đường này tránh xa cực đoan ép xác khổ hạnh làm suy giảm trí tuệ, và cực
đoan lợi dưỡng, làm chậm trễ mọi tiến bộ tinh thần. Bát Chính đạo gồm 8 yếu tố:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm và chánh định. Tám yếu tố này đều thuộc về tinh thần, hùng mạnh và có
tính cách thiện, phải được tập trung để đánh đổ mọi năng lực bất thiện ngủ ngầm
bên trong ta.
Như vậy Đức Phật tìm ra Tứ diệu đế nhằm hướng đến một cái tâm tuyệt đối
tinh khiết, hoàn toàn thoát ra khỏi mọi tiến trình sinh tử triền miên, không còn
vướng chút ô nhiễm và đi vào trạng thái bất diệt.
1.2.2 Nhân quả
Duyên Khởi nói nhân duyên hoà hợp mà sinh ra “Quả”. Cái có thể sinh kết quả
là Nhân, cái do nguyên nhân mà sinh là kết quả. Về thời gian thì Nhân trước, Quả
sau. Nhân Quả tồn tại trong diễn biến trước sau nối nhau, trong sự hòa hợp liên quan
9
“Pháp môn lưu chuyển để giải thích nguồn gốc của luân hồi, theo đó có 12
nhân duyên cứ xoay vòng, cài này chuyển qua cái kia, bao gồm: 1. Vô minh, 2.
Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. Thụ, 8. Ái, 9. Thủ, 10. Hữu, 11.
Sinh, 12. Lão, tử. Pháp môn này giải thích “sự phát sinh của một trạng thái tùy thuộc
nơi trạng thái trước kế đó”.
“Pháp môn hoàn diệt” chỉ bày phép đoạn trừ nguồn gốc luân hồi. Trong 12
nhân duyên thì Vô Minh là nguyên nhân chính làm động lực thúc đẩy, chuyển động
bánh xe luân hồi. Vô Minh là không nhận thức được thực tướng của vạn pháp, hay
không thấu đáo hiểu biết chân tướng của chính mình, Vô Minh như lớp mây bao
phủ, che lấp mọi hiểu biết chân chính. Chỉ khi nào Vô Minh bị phá tan, thì bánh xe
luân hồi cũng ngừng quay, và mọi vấn đề nhân quả cũng chấm dứt. Chính vì vậy
Phật Giáo chủ trương phải phá bỏ Vô Minh để vượt khỏi vòng sinh tử.
Chương 2 – Những giá trị của Phật Giáo và những hạn chế của Phật Giáo
Trong chương 1, chúng ta đã thấy được các tư tưởng căn bản của Phật giáo, tất
cả những tư tưởng này có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và tinh thần của con
người, thể hiện rõ ràng và gần gũi nhất chính là ở giá trị giáo dục và giá trị nhân bản
mà Phật giáo đem lại. Bên cạnh đó, có một giá trị đặc biệt mà ít người nhận thấy ở
Phật giáo, chính là giá trị khoa học; thể hiện ở những điểm tương đồng của khoa học
và Phật giáo. Chúng ta sẽ qua chương 2 “giá trị của Phật giáo” để hiểu rõ hơn về
những nhận định nói trên.
11
12
2.1 Những giá trị của Phật giáo
2.1.1 Giá trị giáo dục của Phật giáo
Đức Phật đã từng dạy: Một hạnh phúc vĩnh cửu chỉ sống mạnh trong một tâm
hồn giải thoát và tâm hồn giải thoát chỉ có thể thực hiện một khi cá nhân chịu
nhường bước. Một bản ngã đứng tách riêng ra ngoài là không thể tồn tại khỏe mạnh
được. Đó là mục đích giáo dục con người hoàn thiện cả về tài lẫn đức trong một xã
hội văn minh. [4]. Cụ thể tính giáo dục của Phật Giáo thể hiện ở việc:
- Giáo dục con người sống có đạo đức và đạt được hạnh phúc: Đức Phật chỉ
không gian hoàn toàn độc lập, không liên hệ đến những nhân tố khác, sau đó
Einstein nhà khoa học cận đại đưa ra khái niệm về thời gian và không gian khác hẳn
với quan niệm trên, ông ta cho rằng không gian không thể tồn tại độc lập, mà nó vẫn
thay đổi theo nhịp độ của vật chất. Về thời gian ông cho rằng cũng là tương đối, nếu
chúng ta ngồi trên chiếc phi cơ nào đó, đạt đến vận tốc nhanh hơn gấp mấy lần vận
tốc ánh sáng, thì sẽ đuổi kịp ánh sáng của quả địa cầu trước kia, đồng thời chúng ta
cũng nhìn thấy được những việc xảy ra ở mấy ngàn năm trước.
Tôn Trung Sơn nói : “ Phật học là mẹ của triết học, nghiên cứu Phật học có
thể bổ khuyết cho khoa học”. Học thuyết trước kia cho rằng, địa cầu là trung tâm
của vũ trụ, đứng yên không chuyển động, mặt trời xoay chung quanh địa cầu. Lúc
đó theo trình độ nhận thức chung, quan điểm này được công nhận là chân lý hoàn
chỉnh nhất. Sau này Copernicus và Galile phản đối học thuyết trên, suýt chút nữa là
thiệt mạng. Trong khi đó Phật giáo miêu tả vũ trụ cách đây mấy ngàn năm, lại phù
hợp với khoa học hiện đại. Phật giáo cho rằng một ngàn thái dương hệ bằng một tiểu
thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giới bằng một trung thiên thế giới, một ngàn
trung thiên thế giới bằng một đại thiên thế giới. Mỗi đại thiên thế giới bằng một
13
14
quốc độ Phật. Như thế một quốc độ Phật có một tỷ thái dương hệ, tương đương với
một dãy tinh vân trong thiên văn học. [3]
Mặt khác, cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, đức Phật cũng đã từng nói
với chúng ta, thân này là một vi trùng, có tám mươi loại khác nhau. Trong kinh “ Trị
Thiền Bệnh Bí Yếu” và kinh “Chánh Pháp Niệm Xứ”, đức Phật chẳng những nói ra
từng loại tên của vi trùng, mà còn miêu tả hình dáng và động tác của nó. Đức Phật
cũng nói trong ly nước có tám mươi bốn ngàn vi trùng. Đến hôm nay thông qua kính
hiển vi, chúng ta có thể nhìn thấy vô số vi trùng trong ly nước, và vô số vi trùng
trong thân thể của chúng ta. Như thế khoa học ngày nay đã chứng minh lời nói của
đức Phật.
Trong “Bát Nhã ba La Mật Đa Tâm Kinh” nói, “sắc tức là không”. Trước kia
ngành khoa học không chấp nhận vấn đề này, bởi vì họ cho rằng vật chất không liên
Đức Phật dạy: “Hãy tự là ngọn đèn cho chính mình, không y tựa một cái gì
khác. Dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác”. Với
lời dạy này, Đức Phật muốn con người tự làm chủ mình, tự tại, không nô lệ vào bất
cứ đối tượng nào; bằng trí tuệ, bằng kiến thức, bằng quan điểm đúng đắn, bằng cái
nhìn chân thật, con người tự định hướng cho chính mình, tự mình đi ra khỏi khổ
đau. Cái giá trị lớn lao là đánh giá trong thực tại cuộc sống của con người, hướng
con người đến chỗ an lạc, chỉ có con người xác quyết một niềm tin chân chánh, tin
tưởng chính mình, mình chính là hòn đảo không bị chìm đắm trong đại dương phiền
muộn của dục vọng, không bị chôn vùi trong hiện tại.
15
16
2.2 Những hạn chế của Phật giáo
2.2.1 Cái nhìn bi quan về thế giới và con người.
Phật giáo tiếp cận thế giới, con người với cái nhìn bi quan, thương cảm. Bản
thân Tứ Diệu Đế là sự minh chứng rõ nhất cho điều này khi Khổ Đế được đề cập
đến đầu tiên. Theo đó việc chúng ta được sinh ra đời, phải tiếp xúc, tồn tại trong cái
thế giới này đã là khổ rồi.
Tiếp cận dưới góc nhìn của tư tưởng Phật Giáo thì sự cố chấp, tham lam, ái dục
của con người chính là nguồn gốc, là nguyên nhân của mọi đau khổ. Song với góc
nhìn của một con người đang sống, đang tồn tại, đang ăn và hít thở không khí…thì
không phải lúc nào cũng cần tới sự tư duy thấu triệt và cực đoan như thế. Không thể
chối cãi rằng chúng ta tồn tại và phấn đấu không đơn thuần vì bản năng sinh tồn, mà
còn để cho sự tồn tại của mình trong dòng chảy vô thường của sự sống sao cho có ý
nghĩa. Chúng ta phấn chấn, hạnh phúc, hồ hởi khi sự tồn tại của chúng ta được ghi
nhận và thừa nhận về ý nghĩa.
2.2.2 Chủ trương tinh thần là trung tâm (ko chú trọng phát triển vật chất)
Hạn chế thứ hai của Phật giáo là đề ra phương thức giải quyết tất cả những nỗi
khổ đều xuất phát từ ý thức, tâm linh, từ sự rèn luyện về tinh thần tức là những yếu
tố bên trong, những yếu tố duy tâm của con người. Tức là xét từ gốc độ sống tích
cực, đã quay lưng lại với hiện thực và để con người tuyệt giao với hiện thực bằng
chính là những khoảng lặng, là những giây phút để chúng ta quên đi bao bộn bề lo
toan và khó khăn của cuộc sống, đó là khi ta có cơ hội nhìn nhận lại bản thân mình
để rồi đưa ra những điểu chỉnh cân bằng cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội.
Đến với Phật giáo không phải để nhận được hạnh phúc đâu đó xa vời trong kiếp
khác, mà là để đạt được “hạnh phúc trong thực tại”.
17
18
Danh mục tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Duy Cần – Phật Học Tinh Hoa – NXB TP Hồ Chí Minh – 1997
[2] Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Đức Phật và Phật pháp – NXB Tôn giáo – 2005
[3] Thích Chiếu Sáng – Phật giáo và một số thành tựu của khoa học – Tuần báo giác
ngộ số 180, trang 14
/>[4] Phạm Thị Thu Thủy - Giá trị giáo dục của Phật giáo trong xã hội hôm nay – 2007
/>[5] Các tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo
/>18