ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI ANH DŨNG
KHẢO SÁT TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KỲ
CỦA DÂN TỘC MÔNG LƯU HÀNH Ở YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN – 2013
THÁI NGUYÊN – 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố
trong một công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013
Tác giả luận văn
Mai Anh Dũng
Mai Anh Dũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KỲ CỦA
DÂN TỘC MÔNG LƯU HÀNH Ở YÊN BÁI 7
1.1. Sơ lược về điều kiện tự nhiên, đặc điểm xã hội và đời sống văn hóa
của dân tộc Mông ở Yên Bái 7
1.1.1. Đặc điểm địa - chính trị Yên Bái 7
1.1.2. Đặc điểm lịch sử văn hóa dân tộc Mông ở Yên Bái 8
1.2. Truyện cổ tích, truyện cổ tích thần kỳ 11
1.2.1. Truyện cổ tích 11
2.1.3. Truyện về người con riêng 43
2.1.4. Truyện về người mang lốt 46
2.1.5. Truyện về người dũng sĩ 52
2.2. Những điểm tương đồng và khác biệt về nội dung phản ánh giữa
truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc Mông lưu hành ở Yên Bái với
truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc Kinh 57
2.2.1. Những điểm tương đồng 57
2.2.2. Những điểm khác biệt 58
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
THẦN KỲ CỦA DÂN TỘC MÔNG LƯU HÀNH Ở YÊN BÁI 60
3.1. Kết cấu truyện 60
3.1.1. Phần mở đầu 60
3.1.2. Phần nội dung 62
3.1.3. Phần kết thúc 65
3.2.1. Đặc điểm xây dựng nhân vật chính 66
3.2.1.1. Nghệ thuật giới thiệu nhân vật. 66
3.2.1.2. Nghệ thuật sử dụng yếu tố thần kỳ 67
1. Lý do chọn đề tài.
1.1 Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc lại có những
nét riêng về bản sắc văn hóa cũng như phong tục tập quán. Điều đó phần lớn
được thể hiện trong những lời ru, câu hò, điệu hát… và cả trong những câu
chuyện cổ tích được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Trong những năm
gần đây, thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về việc chăm lo phát triển
văn hóa dân tộc, những người làm công tác văn hóa tư tưởng, văn nghệ dân
gian cùng những người yêu thích văn học dân tộc đã tiến hành sưu tầm truyện
dân gian trên khắp mọi miền đất nước. Số lượng các truyện cổ tích nói riêng
và truyện dân gian nói chung được sưu tầm ngày càng nhiều, góp phần làm
cho kho tàng văn học dân tộc ngày càng phong phú và giàu đẹp hơn. Song để
có được cái nhìn toàn diện, có cách đánh giá đúng đắn về giá trị truyện cổ tích
của mỗi dân tộc, khi tiến hành khảo cứu chúng ta phải tìm hiểu thêm về vị trí
địa lý, địa hình, lịch sử, lễ hội, phong tục tập quán… để thấy được các yếu tố
bên ngoài tác động, chi phối đến sự hình thành, phát triển của mỗi tác phẩm
văn học; thấy được sức sống bền bỉ của văn học dân tộc trong không gian,
thời gian. Việc khảo sát truyện cổ tích của mỗi dân tộc sẽ đánh giá được một
cách chính xác giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong mỗi truyện dân gian
của từng dân tộc. Qua việc khảo sát, ta sẽ thấy được nguồn gốc tộc người, đặc
điểm tính cách cũng như lối sống của từng dân tộc trong cộng đồng các dân
tộc Việt Nam.
1.2 Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa
miền Tây Bắc và Trung du Bắc Bộ của Việt Nam. Ở vị trí cửa ngõ miền Tây
Bắc của Tổ quốc, đây còn là điểm dừng chân của các dòng người thiên di từ
đồng bằng Bắc Bộ lên, từ phương Bắc xuống sinh cư lập nghiệp. Hiện nay,
vùng đất Yên Bái là nơi quần cư của hơn 30 dân tộc anh em với dân số gần 70
vạn người, trong đó dân tộc Mông chiếm 8,1%. Hầu hết người Mông ở Yên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
gian của dân tộc nói chung và truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc Mông ở Yên
Bái nói riêng sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn đầy đủ hơn về truyện dân gian
của dân tộc Mông ở Yên Bái. Với những lý do trên, chúng tôi đã quyết định lựa
chọn đề tài Khảo sát truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc Mông lưu hành ở Yên
Bái để làm đề tài nghiên cứu. Việc lựa chọn đề tài này mặc dù gặp rất nhiều khó
khăn và vất vả, song nếu thành công chắc chắn nó sẽ có nhiều hữu ích.
2. Lịch sử vấn đề.
Tìm hiểu về văn hóa cũng như truyện cổ tích của mỗi dân tộc trong
mấy thập kỷ gần đây đã được những người làm công tác văn hóa tư tưởng,
văn nghệ dân gian cùng những người yêu thích văn học dân tộc lưu tâm. Xét
riêng ở tỉnh Yên Bái, việc sưu tầm nghiên cứu về văn hóa Mông cũng như
truyện kể dân gian Mông đã được chú ý. Cho đến nay, văn học cũng như
truyện cổ tích của dân tộc Mông ở Yên Bái mới chỉ được sưu tầm, dịch và
giới thiệu trên một số công trình hay tạp chí của địa phương và trung ương.
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi chưa thấy có công trình nào giới thiệu
đầy đủ về truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc Mông lưu hành ở Yên Bái. Bên
cạnh đó, việc khảo sát các giá trị về nội dung và nghệ thuật của các truyện cổ
tích thần kỳ cũng chưa được tiến hành. Có thể những điều đó chưa phải là
mục đích của các công trình đã nghiên cứu. Về truyện dân gian của dân tộc
Mông lưu hành ở Yên Bái, chúng tôi mới chỉ thấy luận văn Khảo sát truyền
thuyết các dân tộc lưu hành ở Yên Bái của Thạc sĩ Phùng Thị Phương Hạnh
đề cập đến vấn đề này. Một số công trình khác của Lò Ngân Sủn, Trần Hữu
Sơn, Doãn Thanh, Minh Khương, Đinh Sơn, Hoàng Hạc, Hoàng Việt Quân
lại tập trung vào nghiên cứu văn hóa, dân ca, lịch sử mang tính tổng hợp chứ
không phải là công trình nghiên cứu văn học.
Chúng tôi nhận thấy rằng số lượng truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc
Mông lưu hành ở Yên Bái không những phong phú về số lượng mà còn đa
dạng trong việc thể hiện nội dung. Bên cạnh những điểm tương đồng trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ra những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong các truyện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
3.3. Mục đích nghiên cứu:
Truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc Mông là một tiểu loại đặc sắc, đậm
đà màu sắc văn hóa Mông. Qua việc nghiên cứu đề tài Khảo sát truyện cổ tích
thần kỳ của dân tộc Mông lưu hành ở Yên Bái, chúng tôi muốn góp phần gìn
giữ, bảo tồn và giới thiệu những nét đặc sắc trong truyện cổ tích của dân tộc
Mông ở Yên Bái đến độc giả và những người quan tâm đến vấn đề này.
4. Những đóng góp mới của luận văn.
4.1 Về lý luận:
- Thống kê và phân loại được truyện cổ tích thần kỳ của dân tộc Mông
lưu hành ở Yên Bái.
- Hiểu được mối quan hệ hữu cơ giữa văn học và các yếu tố ngoài văn
học: lịch sử tộc người, quan niệm sống, vùng đất, địa bàn cư trú, văn hóa…
Đó là những nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức sống của truyện cổ tích
thần kỳ của dân tộc Mông.
4.2 Về nhận thức:
Kết quả mà luận văn đạt được chính là những giá trị nội dung cũng như
những giá trị nghệ thuật làm nên sự hấp dẫn trong truyện cổ tích thần kỳ của
dân tộc Mông lưu hành ở Yên Bái.
Mặt khác, kết quả mà luận văn nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu hữu ích
cho việc nghiên cứu và giảng dạy của giáo viên đứng lớp sau này khi giảng
dạy về văn học địa phương ở Yên Bái cũng như văn học các dân tộc thiểu số
ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích đề ra trong
phạm vi tự giới hạn, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phối hợp
một số phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại.
hành ở Yên Bái.
Chương 2: Những đặc điểm về nội dung trong truyện cổ tích thần kỳ
của dân tộc Mông lưu hành ở Yên Bái.
Chương 3: Những đặc điểm về nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kỳ
của dân tộc Mông lưu hành ở Yên Bái.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KỲ CỦA DÂN TỘC
MÔNG LƯU HÀNH Ở YÊN BÁI
1.1. Sơ lược về điều kiện tự nhiên, đặc điểm xã hội và đời sống văn
hóa của dân tộc Mông ở Yên Bái
1.1.1. Đặc điểm địa - chính trị Yên Bái
Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa. So với các tỉnh
miền núi khác, Yên Bái có một vị trí địa lý khá đặc biệt. Phía Bắc giáp với
tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Tuyên Quang,
phía Tây giáp tỉnh Sơn La. Yên Bái nằm giữa hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc,
nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc và Trung du Bắc Bộ. Vì vậy
mà cả đặc điểm tự nhiên và kinh tế văn hóa xã hội của tỉnh có mối quan hệ
giao lưu và mang dấu ấn của cả ba vùng. Yên Bái là tỉnh giữ vị trí trọng yếu
về kinh tế và quân sự của Việt Nam và có lợi thế trong quá trình giao lưu với
các tỉnh bạn.
Yên Bái có diện tích tự nhiên là 6.888 km2 với ¾ là núi đồi; 01 thành
phố (Yên Bái), 01 thị xã (Nghĩa Lộ) và 07 huyện (Yên Bình, Lục Yên, Trạm
Tấu, Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Mù Cang Chải). Về địa hình, Yên Bái
do Ban Dân vận và dân tộc tỉnh Yên Bái xuất bản vào tháng 6 năm 2000 thì
người Mông ở Yên Bái có 4 ngành: Mông hoa (Mông lềnh, ở Mù Cang Chải
gọi là Mông linh), Mông đen (Mông dú, ở Mù Cang Chải gọi là Mông đu),
Mông trắng (Mông đư, ở Mù Cang Chải gọi là Mông đơ), Mông đỏ (Mông
si). Trong đó người Mông đen chiếm số lượng đông hơn cả.
Người Mông ở tỉnh Yên Bái có khoảng 55.000 người, cư trú tập trung
tại 40 xã thuộc 5 huyện: Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, Văn Yên, Trấn
Yên. Theo công trình nghiên cứu Tìm hiểu dân ca dân tộc Mông của tác giả
Hoàng Việt Quân (N.X.B Văn hóa Dân tộc, 2004) thì người Mông có 5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
ngành: Mông hoa (Mông lềnh), Mông đen (Mông dú), Mông xanh (Mông
chúa), Mông trắng (Mông đư), Mông đỏ (Mông si). Các nhóm Mông trên tuy
có sự khác nhau đôi chút về tiếng nói nhưng lại cùng thuộc nhóm ngôn ngữ
Mông - Dao. Cả bốn nhóm Mông đều mặc vải lanh nhuộm chàm, riêng váy
của ngành Mông trắng để nguyên vải mộc. Chính chất liệu lanh đã tạo nên sự
khác biệt giữa trang phục của người Mông với trang phục của các dân tộc
khác. Đàn ông Mông thường mặc quần đũng thấp, áo cài vạt sang một bên,
thân áo lưng ngắn để hở một khoảng bụng. Phụ nữ mặc váy nhiều lớp, phủ
ngoài tạp dề trước và sau, áo ngắn cài khuy một bên, trên ống tay áo có khoác
nhiều khoang vải. Trên nền y phục, sắc độ các màu nguyên: đỏ, vàng, xanh,
đen cùng với kĩ thuật dệt, thêu, ghép màu vải, vẽ sáp ong, dân tộc Mông đã
tận dụng, sử dụng phương tiện tạo hình trên y phục.
Theo các nhà nghiên cứu thì người Mông có nguồn gốc chung với
người Dao. Từ thế kỉ VII đến thế kỉ IX sau công nguyên, Mông với Dao mới
tách ra thành hai cộng đồng riêng biệt. Những nhóm Mông đầu tiên di cư đến
Việt Nam cách đây chừng hơn 300 năm. Người Mông từ Quý Châu (Trung
Quốc) vào Lào Cai cách ngày nay hơn 200 năm. Trong đợt thiên di từ Quý
Châu đến Lào Cai vào đợt thứ 2 (từ năm 1840 đến năm 1869), có một đoàn từ
luyện người Mông thường thổi khèn múa tua tài với nhiều động tác khá phức
tạp như trồng cây chuối, đi qua đòn ống bắc trên chảo thắng cố…
Về văn học, người Mông ở Yên Bái có một kho tàng văn học dân gian
rất phong phú, gồm nhiều thể loại: thần thoại, truyện cổ tích, các thể loại dân
ca và tục ngữ… Có loại được kể như văn xuôi, có loại kể dưới dạng truyện
thơ, bài ca mang tính chất li kì, hấp dẫn. Có thể nói rằng dòng đời của người
Mông luôn tắm mình trong các lễ nghi phong tục tập quán, các hoạt động đời
sống thực tiễn gắn liền với sinh hoạt văn hóa truyền thống mang đậm tính
nguyên hợp. Trong cộng đồng của mình, người Mông vẫn kể chuyện cổ tích
cho con cháu của mình nghe. Có thể nói truyện cổ tích đóng một vai trò quan
trọng góp phần làm nên sức hấp dẫn của văn học dân tộc Mông ở Yên Bái nói
riêng và của văn học Việt Nam nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Người Mông cũng có chữ viết riêng. Chữ của người Mông ngày nay có
được là do cha đạo Sanina (cha đạo thuộc dòng thừa sai Paris vào truyền đạo
ở Việt Nam tạo nên bằng cách Latinh hóa theo mẫu chữ quốc ngữ). Những
con chữ cũng đã góp phần lưu giữ lại những nét văn hóa cổ truyền đặc sắc của
dân tộc Mông (trong đó có truyện cổ tích thần kỳ).
1.2. Truyện cổ tích, truyện cổ tích thần kỳ
1.2.1. Truyện cổ tích
Kể từ khi truyện cổ tích được quan tâm nghiên cứu, nhiều nhà nghiên
cứu đã đưa ra định nghĩa về truyện cổ tích theo quan niệm và cách hiểu của
họ. Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (NXB Giáo dục Việt Nam, 2011),
nhóm tác giả PGS. Lê Bá Hán - PGS.TS Trần Đình Sử - GS. Nguyễn khắc
Phi đã đưa ra định nghĩa về truyện cổ tích như sau: “Truyện cổ tích là một thể
loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển
trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải những vấn
đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu
và xã hội. Nó dùng một thứ tưởng tượng hư cấu riêng, kết hợp các thủ pháp
nghệ thuật đặc thù khác để phản ánh đời sống và mơ ước của nhân dân, đáp
ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mĩ, giáo dục giải trí của họ” [84.42]. Đây được
coi là khái niệm tương đối đầy đủ và sáng rõ về truyện cổ tích. Theo cách
hiểu này, ta có thể nắm bắt nội dung cơ bản và hình thức sáng tạo một cách
chung nhất của truyện cổ tích.
Qua việc tìm hiểu khái niệm về truyện cổ tích trong các công trình
nghiên cứu cũng như trực tiếp đọc các truyện cổ tích của Việt Nam và thế
giới, chúng tôi nhận thấy một số điểm cơ bản về thể loại cổ tích như sau:
Truyện cổ tích ra đời trong xã hội có sự phân chia giai cấp, đề cập và quan
tâm trước hết đến những nạn nhân xấu số cho nên chức năng chủ yếu của nó
là nhằm an ủi, động viên, bênh vực cho thân phận, phẩm chất của con người.
Chính vì thế mà thông qua mỗi câu chuyện, nhân dân lao động thường gửi
gắm ước mơ về một thế giới tốt đẹp, về sự công bằng, về sự thưởng phạt công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
minh. Từ chức năng thể loại đó, ta có thể thấy truyện cổ tích có những đặc
trưng cơ bản như:
- Truyện cổ tích xây dựng một thế giới hư cấu, kì ảo.
- Truyện cổ tích là câu chuyện đã hoàn tất trong quá khứ, đã trọn vẹn
về cốt truyện, nhưng đồng thời cũng mang tính mở đặc trưng của văn bản văn
học dân gian ở cấp độ chi tiết, môtip.
- Truyện cổ tích mang tính giáo huấn cao, mỗi câu chuyện là một bài
học về đạo đức, ứng xử, về lẽ công bằng, thưởng phạt công minh.
Về việc phân loại, có rất nhiều cách phân loại truyện cổ tích, song hiện
nay chúng ta thấy phổ biến nhất là phân chia ra làm ba tiểu loại: truyện cổ
tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt. Ở Nga, cách
phân chia này đã có từ năm 1865 do Ô. Mi lơ đề xuất. Cách phân loại này
được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. Đây cũng là cách phân loại hợp
truyện cổ tích thần kỳ. Từ khái niệm chung “truyện cổ về xã hội”, nơi phản
ánh xung đột xã hội diễn ra trong phạm vi gia đình phụ quyền và sự nảy sinh
của lý tưởng dân chủ - nhân đạo của nhân dân, tác giả đã tìm ra đặc điểm
chung của truyện cổ tích thần kỳ. Theo Cao Huy Đỉnh thì truyện cổ tích thần
kỳ vẫn mang đậm nội dung về hiện thực xã hội, tình cảm tự nhiên, đạo đức
thực tiễn và ước mơ lãng mạn của nhân dân lao động. Khi “yếu tố thần kỳ
(…) trở thành những biện pháp nghệ thuật của chủ nghĩa lãng mạn và chủ
nghĩa tượng trưng rất đậm đà và phổ biến trong hàng loạt truyện cổ xã hội.
Có thể gọi chung đó là truyện cổ tích thần kỳ” [11.56].
Cao Huy Đỉnh đã kết luận: “truyện cổ tích thần kỳ có nội dung dân chủ
và tính chất dân tộc”. Như vậy, có thể nói rằng nội dung phản ánh của truyện
cổ tích thần kỳ xoay quanh cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người
tốt và kẻ xấu, và cuối cùng bao giờ cái ác, cái xấu cũng bị tiêu diệt. Truyện cổ
tích thần kỳ bao giờ cũng kết thúc có hậu, đó chính là quan điểm thẩm mĩ tích
cực, lạc quan của nhân dân lao động. Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được một
định nghĩa ngắn gọn, súc tích và trọn vẹn về truyện cổ tích thần kỳ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Trong công trình Đặc điểm nghệ thuật truyện cổ tích thần kỳ của dân
tộc Mông ở Hà Giang, tác giả Hạng Thị Vân Thanh đã trích dẫn quan niệm
của A.M.Nôvicôva về truyện cổ tích thần kỳ như sau: “Trong nhận thức của
người nguyên thủy, cả hai thế giới đó (thế giới hiện thực, thế giới tưởng
tượng) hợp thành một thực tại thống nhất (…). Truyện cổ tích thần kỳ (…) là
những tác phẩm nghệ thuật mang tư tưởng rõ ràng về sự chiến thắng của con
người đối với lực lượng độc ác, đen tối, miêu tả những nhân vật lý tưởng hóa
sau khi đi qua những thử thách ban đầu, nhờ có sự giúp đỡ của các phương tiện
thần kỳ đã đạt được điều mong muốn…”[72.27]. Theo đó, chúng tôi nhận thấy
có ba bước hình thành liên tục của truyện cổ tích với tư cách là một thể loại:
- Thứ nhất: Những truyện kể cổ xưa nhất mang tính chất thần thoại có
cục có tính chất ước mơ dành cho nhân vật trung tâm của truyện.
Trong cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, tác giả Đinh Gia
Khánh đã chia truyện cổ tích thành hai tiểu loại là truyện cổ tích lịch sử và
truyện cổ tích thế sự. Cách phân chia của tác giả dựa trên tiêu chí tính chất sự
kiện được phản ánh trong nội dung mỗi truyện. Theo ông, truyện cổ tích dù ở
tiểu loại nào dù nhiều hay ít cũng có sự tham gia của yếu tố thần kỳ. Vì “yếu
tố kỳ diệu, siêu nhiên chính là một thủ pháp nghệ thuật gắn với nội dung lãng
mạn của truyện” [28.347].
Trong công trình Cổ tích thần kỳ người Việt, đặc điểm cấu tạo cốt
truyện, Tăng Kim Ngân cũng coi truyện cổ tích thần kỳ là một tiểu loại của
truyện cổ tích Việt Nam. Tác giả cho rằng truyện cổ tích thần kỳ có những
đặc điểm riêng về nhiều mặt, trong đó tiêu chí cơ bản để phân biệt nó với hai
tiểu loại cổ tích còn lại là ở “vai trò quan trọng của yếu tố thần kỳ trong việc
chi phối quá trình phát triển hệ thống tình tiết của cốt truyện”[40.25]. Về
mặt nội dung của truyện cổ tích thần kỳ, tác giả Tăng Kim Ngân cũng thống
nhất với ý kiến của các nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên, Cao Huy Đỉnh và Lê
Chí Quế.
Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, nhà nghiên cứu Hoàng
Tiến Tựu đã phân tích, lý giải về truyện cổ tích thần kỳ. Tuy nhiên, ông vẫn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
chưa đưa ra được khái niệm về truyện cổ tích thần kỳ một cách súc tích và
trọn vẹn nhất. Theo tác giả, gốc rễ sâu xa và nguồn gốc quan trọng của truyện
cổ tích thần kỳ là từ thế giới quan nguyên thủy và từ đời sống xã hội có giai
cấp, “truyện cổ tích thần kỳ chính là sản phẩm của giai đoạn phát triển cao
nhất của thể loại cổ tích” [84.57], khi mà phương pháp sáng tác và phương
tiện nghệ thuật đã thay đổi phù hợp với trình độ tư duy và nhu cầu nhận thức
trước thực tại phong phú, phức tạp hơn. Cũng theo đó, Hoàng Tiến Tựu đã
đưa ra bốn đặc điểm nổi bật của truyện cổ tích thần kỳ:
nào bắt tay vào công việc sưu tầm, biên dịch, nghiên cứu về truyện cổ tích của
dân tộc Mông. Kể từ khi thực dân Pháp chiếm SaPa (1888), nhất là sau năm
1905, cha cố - đại úy Savina cùng với các công sứ Pháp ở Lào Cai xây dựng
kế hoạch truyền đạo Thiên chúa vào vùng dân tộc Mông nhằm ru ngủ tinh
thần đấu tranh quyết liệt của nhân dân ta, cha cố - đại úy Savina mới dành
thời gian nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần của người Mông. Trong cuốn
hồi ký Cát bụi chân ai (N.X.B Hội nhà văn, 1993) của nhà văn Tô Hoài thì
linh mục Savina đã từng ở nhà thờ SaPa, cùng thời kì cha cố Hiền người Pháp
ở nhà thờ Sọa Hồ trên núi ở Nghĩa Lộ. Linh mục Savina đã viết cuốn Lịch sử
dân tộc Mèo và bộ Từ điển Pháp - Mèo in ở Hồng Kông năm 1924.
Năm 1942, nhà in Viễn Đông xuất bản cuốn sách với nhan đề Vùng
cao của Cresson - một viên chánh sứ người Pháp ở Yên Bái - dày 142 trang,
khổ 18 x 22cm, đã mô tả khá chi tiết thiên nhiên hùng vĩ và các dân tộc sinh
sống ở vùng cao Yên Bái, trong đó có dân tộc Mông. Năm 2011, tạp chí Văn
nghệ Yên Bái số 49 đã đăng một đoạn trích với tiêu đề Đến Púng Luông do
An Thế Cường dịch từ cuốn Vùng cao của chánh sứ Cresson.
Điểm qua những công trình có tên trên, chúng tôi mới chỉ nhận thấy các
tác giả mới chỉ tập trung vào việc nghiên cứu về phong tục tập quán và các
vấn đề liên quan đến văn hóa dân gian. Việc nghiên cứu của các tác giả không
hướng tới khai thác và thúc đẩy văn học, văn hóa dân gian phát triển mà chỉ
nhằm mục đích truyền đạo Thiên chúa hoặc âm mưu xâm lược nước ta. Chưa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
có một cuốn sách nào sưu tầm, dịch và giới thiệu về truyện cổ tích của dân tộc
Mông ở Yên Bái.
1.3.2. Sau Cách mạng tháng Tám - 1945
Sau Cách mạng tháng Tám - 1945, cùng với việc chú trọng thúc đẩy
nền văn học nước nhà phát triển nhằm mục đích phục vụ cho đời sống tinh
thần, phát triển nhận thức cho người dân, đặc biệt là phục vụ cho phong trào