Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Khoá luận được hoàn thành dưới sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình
của cô giáo Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Lan. Em xin được gửi tới cô
lời cảm ơn chân thành sâu sắc.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, các cô trong Tổ bộ
môn Văn học Việt Nam, các thầy, các cô trong khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ em
trong quá trình làm khoá luận.
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Nguyễn Thị Thuý Ngân
1
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu trong khoá luận là trung thực. Khoá luận này
chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào. Nếu những
lời cam đoan trên là sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
2. Mục đích nghiên cứu
6
3. Phạm vi nghiên cứu
7
4. Phương pháp nghiên cứu
7
5. Lịch sử vấn đề
7
Nội dung
12
Chương 1. Giới thuyết chung
12
1.1. Khái niệm truyện cổ tích và truyện cổ tích thần kỳ
12
1.1.1. Truyện cổ tích
2.2. Môtíp người con riêng bị bức hại
30
2.3. Môtíp người con riêng báo thù
40
2.4. Môtíp thử hài
47
2.5. Môtíp miếng trầu
52
Kết luận
57
Danh mục 25 truyện khoá luận khảo sát
60
Tài liệu tham khảo
61
3
4
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
(V.Xukhômlinxki) [dẫn theo24]. Đó chính là giá trị lớn lao mà truyện cổ tích
nói chung đem tới. Còn với kiểu truyện người con riêng: Hình tượng nhân vật
người con hiền thảo tốt bụng, người dì ghẻ tham lam độc ác sẽ đem lại cho các
em những cảm xúc nghệ thuật chân thực, để rồi từ đó các em nhận thức đúng
đắn về cái thiện, cái ác, cái xấu xa và những điều tốt đẹp trên đời. Đặt các em
vào những cảm xúc mãnh liệt, yêu thương cái tốt, căm ghét cái xấu và có thái
độ đạo đức rõ ràng. Thế giới thần kỳ có tác dụng phát huy không ngừng trí
tưởng tượng của các em, mở ra trước mắt chúng một chân trời mơ ước vừa
quen thuộc vừa kỳ lạ. Bằng lối kết thúc có hậu, với sự ban thưởng xứng đáng
cho nhân vật chính nghĩa và sự trừng phạt thích đáng đối với nhân vật phi
nghĩa, cổ tích thần kì đã làm yên lòng trẻ thơ lấy lại niềm tin đích thực cho
các em vào cuộc sống bình đẳng tốt đẹp của thế giới loài người.
Xuất phát từ thực tế dạy và học, từ vai trò chức năng của kiểu truyện nói
riêng và thể loại truyện cổ tích nói chung đã đặt ra cho các nhà sư phạm sự
quan tâm đặc biệt tới tâm lý tiếp nhận của học sinh trong quá trình dạy học,
với mong muốn khi ra trường sẽ đạt hiệu quả cao trong dạy học văn học dân
gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng.
1.3. Còn có lý do khác để chúng tôi lựa chọn đề tài này là xuất phát từ
chính sự yêu thích của bản thân với đề tài. Bởi kiểu truyện người con riêng
với một vẻ đẹp riêng, không chỉ tạo ra sức hút kỳ lạ với trẻ thơ, mà còn đem
đến cho người lớn đến những rung cảm mãnh liệt, đưa tâm hồn mình đến một
thế giới khác hẳn Cuộc đời hàng ngày tẻ nhạt, khô cằn, đầy tiếng thở than
thông qua việc khảo sát tư liệu rút ra những nhận xét ban đầu về kiểu truyện
nghiên cứu.
- Tiến hành nhận diện một số môtíp phổ biến - hạt nhân tạo dựng cốt
truyện và kiểu truyện người con riêng. Thông qua các môtíp phổ biến chúng ta
sẽ thấy rõ hơn về nội dung, ý nghĩa, góp phần lý giải sức hấp dẫn rất riêng của
kiểu truyện người con riêng so với những kiểu truyện khác trong kho tàng
truyện cổ tích Việt Nam.
6
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Tư liệu
- Chúng tôi lựa chọn đề tài có tên: Tìm hiểu kiểu truyện người con
riêng trong truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam điều đó cho thấy chúng tôi chỉ
giới hạn phạm vi tư liệu ở truyện cổ tích thần kỳ.
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi tham khảo 12 tập truyện
cổ tích của các dân tộc Việt Nam và tập hợp được 25 truyện thuộc kiểu truyện
người con riêng. Với số lượng chưa phải là nhiều, nhưng nó là cơ sở để chúng
tôi bước đầu có một cái nhìn nhất quán và đầy đủ hơn về kiểu truyện.
3.2. Nội dung
Chúng tôi tập trung tìm hiểu kiểu truyện qua một số môtíp đặc trưng.
Bởi môtíp chính là tiêu chí hàng đầu để có thể nhận diện các kiểu truyện nói
chung và kiểu truyện người con riêng nói riêng.
4.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê.
Nhơn. ở đây, vấn đề nguồn gốc ra đời của kiểu truyện đã được đề cập
đến một cách sâu sắc. Đó là khi xã hội bắt đầu có sự thay đổi, gia đình
lớn phân tán thành gia đình nhỏ, chế độ mẫu quyền được thay thế bằng
chế độ phụ quyền: Cùng với sự giải thể của gia đình lớn về mặt xã hội,
xuất hiện sự tích luỹ tài sản tư hữu theo từng gia đình riêng lẻ. Cơ sở xã
hội và cơ sở kinh tế sâu xa ấy tạo điều kiện cho sự xuất hiện một loạt
truyện dân gian khá phổ biến ở các dân tộc ít người. Đó là loại truyện
về các nhân vật bất hạnh như người em út, người con riêng.... Đây
chính là những gợi ý có giá trị cho chúng tôi khi tìm hiểu về cơ sở hình
thành của kiểu truyện người con riêng.
Giáo trình văn học dân gian Việt Nam của tác giả Trần Gia Linh, xuất
bản năm 1991, khi giới thuyết và phân loại truyện cổ tích cũng đã đề
cập đến nguồn gốc ra đời của truyện cổ tích cũng như kiểu truyện:
Truyện xuất hiện rất xưa nhưng chủ yếu phát triển ở thời kỳ đã phân
chia giai cấp. Chế độ tư hữu tài sản và gia đình riêng đã tạo nên những
8
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
xung đột gay gắt đe doạ số phận con người. Những nhân vật bất hạnh
trong xã hội như những người đi ở, con riêng, em út, mồ côi ... đã trở
thành những nhân vật được quan tâm biểu hiện đặc biệt. Kiểu truyện
người con riêng còn được thể hiện qua phần nội dung của truyện, có ví
dụ minh hoạ về nội dung và nhân vật song còn riêng lẻ và chưa cụ thể :
Nội dung của truyện hướng về những con người bình thường, bất hạnh
để nêu bật số phận bi thảm của những con người thấp cổ bé họng. Đó là
thành kiểu truyện người con riêng, mà chỉ có những kiểu nhân vật bất
hạnh (người em út, người mồ côi, người con riêng, người xấu xí, người
đi ở...).
Cùng năm 1998, cuốn Văn học tập 2, giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu
học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12 + 2 do tác giả Đỗ Bình Trị và
Trần Đình Sử chủ biên cũng điểm qua một vài khía cạnh cơ bản có liên
quan đến kiểu truyện người con riêng trong mục xung đột trong truyện
cổ tích thần kỳ. Theo hai tác giả: Nhân vật trung tâm của truyện kể
được gọi là Tự sự xã hội này (tức truyện cổ tích) là nhân vật bất
hạnh - loại nhân vật xuất hiện lần đầu trong truyện kể dân gian. Xung
đột xã hội trong truyện cổ tích đặc biệt trong truyện cổ tích thần kỳ,
thường diễn ra trong phạm vi nhiều quan hệ gia đình. Ta hiểu vì sao
nhân vật bất hạnh lại luôn luôn là những thành viên lép vế nhất trong
gia đình gia trưởng ngày xưa: người em út, người con riêng .... Mỗi
một nhận định đều mang một ý nghĩa riêng nhất định, vì vậy dù chỉ
mang tính chất điển hình, sơ lược, khái quát, ý kiến của Đỗ Bình Trị và
Trần Đình Sử trên cũng góp phần đem đến cho chúng tôi một cái nhìn
ban đầu về nhân vật trung tâm của kiểu truyện người con riêng.
Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam - Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Nxb GD (tái bản lần thứ 6) năm 2002, tác giả đã chỉ ra nguồn gốc ra đời
của truyện cổ tích thông qua khái quát vấn đề mâu thuẫn trong truyện
cổ tích: Khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã và xã hội chuyển sang
chế độ có giai cấp, thì công xã thị tộc cũng tan rã và được thay thế
bằng gia đình riêng lẻ. Nếu những mâu thuẫn trong xã hội được truyện
10
Nguyễn Thị Thuý Ngân
1.1. Khái niệm truyện cổ tích và truyện cổ tích thần kỳ
1.1.1. Truyện cổ tích
Cho đến nay, truyện cổ tích đã có rất nhiều khái niệm song nhìn chung
là giống nhau về cơ bản. Mỗi một khái niệm mà các nhà nghiên cứu đưa ra đã
bổ sung, làm phong phú thêm những hiểu biết của chúng ta về thể loại truyện
cổ tích. ở đây, chúng tôi xin điểm qua một số khái niệm truyện cổ tích trong
các công trình nghiên cứu lớn.
Theo tác giả Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì
truyện cổ tích là : Một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội có giai cấp
với chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số
phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có
chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền), có
mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt.
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt - Hoàng Phê (chủ biên), khái niệm
truyện cổ tích được diễn đạt ngắn gọn như sau: Truyện cổ tích là truyện cổ
dân gian phản ánh cuộc đấu tranh trong xã hội, thể hiện tình cảm, đạo đức,
mơ ước của nhân dân, về hình thức thường mang nhiều yếu tố thần kỳ, tượng
trưng và ước lệ.
1.1.2. Truyện cổ tích thần kỳ
Phân loại tác phẩm cổ tích là một trong những vấn đề tồn tại đáng kể
của khoa học về truyện cổ tích trên thế giới. ở nước ta, vấn đề này vẫn chưa
12
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
có nhiều người đi sâu nghiên cứu, kết quả đạt được còn rất ít. Song hiện nay,
Khoá luận tốt nghiệp
nhiều môtíp nhưng không nhất thiết mỗi truyện trong kiểu truyện đó phải có
đủ tất cả các môtíp chung
Từ khái niệm trên chúng ta có thể xác định được một số kiểu truyện
thường gặp trong truyện cổ tích đó là:
+ Kiểu truyện người con riêng.
+ Kiểu truyện người mồ côi.
+ Kiểu truyện người mang lốt.
+ Kiểu truyện dũng sĩ.
+ Kiểu truyện người em út.
1.2.1.2. Môtíp
Khái niệm môtíp đã từng được nhà khoa học nga là A.N.Vexelopxki
nêu lên và định nghĩa từ những năm cuối thế kỉ XIX: tôi hiểu môtíp như một
công thức, vào thủa ban đầu của xã hội loài người, trả lời cho những câu hỏi
mà giới tự nhiên ở mọi nơi đặt ra đối với con người, hoặc ghi nhận những ấn
tượng về thực tại đặc biệt mạnh mẽ quan trọng và lặp lại nhiều lần[dẫn theo 4].
Năm 1993, khi hoàn thành cuốn Nghiên cứu môtíp truyện cổ tác giả
Kristina Lindell cung cấp cho bạn đọc cách hiểu: môtíp là những chi tiết nhỏ
nhất tạo nên cốt truyện [dẫn theo 9].
Còn theo Từ điển văn học thì lại đưa ra hai cách hiểu sau:
1. Môtíp là hạt nhân của cốt truyện, là công thức từ đó cốt truyện được
triển khai.
2. Môtíp là yếu tố hợp thành cốt truyện.
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau cho thuật ngữ môtíp nhưng nhìn
chung những định nghĩa ấy đều thống nhất: môtíp nhằm chỉ những thành tố,
những bộ phận lớn nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững và được sử dụng
nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật nhất là trong văn học dân gian [8].
phản ánh sự tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, của chế độ thị tộc, chế độ
hôn nhân theo huyết thống. Sự chuyển từ thị tộc sang gia đình dẫn đến sự vi
phạm chế độ hôn nhân cổ truyền giữa các thị tộc trong bộ lạc. Theo chế độ
hôn nhân cổ truyền ấy thì gia đình nguyên thuỷ cổ điển không có người dì ghẻ
15
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
(mẹ kế), bởi vì chế độ hôn nhân cổ truyền ấy với hình thức hôn nhân con cô
lấy con cậu, tức là lấy con gái của anh, em mẹ. Trong hệ thống như vậy thì tất
cả các người vợ của cha hoặc có khả năng trở thành vợ của cha đều là chị em,
do đó cũng đều được gọi là mẹ như người mẹ chính thức. Khi chế độ hôn nhân
đó tan rã, tức khi người chồng lấy vợ sau là người ngoài dòng họ của người vợ
trước, thì lúc đó người vợ sau của cha không còn là mẹ của cô gái nữa mà trở
thành mẹ kế. Và người mẹ kế này trở thành người xa lạ, một mối quan hệ
ghẻ lạnh xuất hiện giữa mẹ kế và con riêng của chồng. Và sự thống khổ của
người con riêng -thành viên thấp cổ bé họng nhất trong gia đình đã được
tác giả dân gian đưa vào truyện cổ tích và trở thành một kiểu nhân vật khái
quát hoá: Nhân vật người con riêng. Đây là kiểu nhân vật khá phổ biến trong
truyện cổ tích Việt Nam. Tập hợp những truỵên kể về người con riêng với
những mô típ đặc trưng, ta có một kiểu truyện vô cùng đặc sắc: Kiểu truyện
người con riêng.
1.2.2.2. Cơ sở kinh tế
Khi sự phát triển của gia đình phụ quyền diễn ra song song với sự phát
triển của chế độ tư hữu tư sản, ý thức cá nhân của con người nảy sinh và thế là
cuộc xung đột giữa cá nhân bắt đầu. ở đây, các thành viên trong gia đình phụ
hằng vận động [dẫn theo 6 ]. Nếu như ở ngoài xã hội có kẻ giàu bóc lột người
nghèo thì trong gia đình phụ quyền cũng tồn tại bất bình đẳng một cách vô lý
mà nạn nhân phải chịu sự bất bình nhiều nhất chính là những con người nhỏ
bé cả về hình hài lẫn địa vị như: Đứa con nuôi, đứa con riêng, đứa trẻ mồ côi,
đứa em út trong gia đình. Điều đó cũng lý giải vì sao truyện cổ tích về người
con riêng lại xuất hiện khá phổ biến đến như vậy trong kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam.
1.2.3. Đặc điểm nội dung kiểu truyện
1.2.3.1. Phản ánh nỗi thống khổ của người con riêng - thành viên thấp
cổ bé họng trong gia đình phụ quyền:
Người con riêng cũng giống như người mồ côi, người em út, người đi ở,
là những con người bất hạnh, chịu đau khổ mọi bề. Họ bị ghẻ lạnh, bạc đãi cả
về vật chất lẫn tinh thần, bị tước đoạt quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc.
Những người con riêng trong Tấm Cám, Gồng Nao và Trâu đầu đàn, ....đều
17
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
bị người dì ghẻ đẩy vào cảnh sống lẻ loi không tài sản, không nơi nương tựa,
có địa vị thấp kém, bị thua thiệt và bị ức hiếp. Nhân dân lao động đã lí tưởng
hoá nhân vật của mình và thể hiện ý thức về sự công bằng dân chủ, tâm lý
luyến tiếc thời kì cộng đồng bộ tộc đã qua, mượn yếu tố thần kì để giảm nỗi
đau, giành lại chân lý.
Trong 25 truyện mà chúng tôi khảo sát, nhân vật người con riêng luôn
xuất hiện trong tuyến trung tâm tức là trong toàn bộ câu chuyện tập trung đi
vào miêu tả xung đột dì ghẻ - con chồng từ đơn giản đến phức tạp. Như vậy,
xung đột con riêng - con đẻ được nhắc đi nhắc lại khá đậm nét trong thế giới
truyện cổ và muôn mặt của cuộc sống ấy được quy về chủ yếu ở xung đột hôn
nhân, tài sản, sắc đẹp, qua đó bản chất giữa các lực lượng đối lập được bộc lộ
một cách chân thực, rõ nét. Những người con riêng bao giờ cũng là nạn nhân
của sự áp bức, bức hại. Nhưng dù cho ở hoàn cảnh nào, họ vẫn luôn sáng ngời
những phẩm chất tốt đẹp: hiền lành, trung thực, thơm thảo..., còn những người
dì ghẻ là những kẻ tham lam, độc ác, xảo quyệt. Họ lợi dụng vai trò chính (có
thể chồng đã mất hoặc người chồng đó quá nhu nhược nghe lời họ) để giành
mọi quyền lợi, áp bức đè nén những đứa con chồng ngoan ngoãn, khéo léo
nhưng không có ai bênh vực. Không chỉ bắt con riêng của chồng làm lụng vất
vả, đầu tắt mặt tối mà còn mưu giết hại để tước đoạt quyền hạnh phúc của đứa
con riêng như trong truyện Tấm cám, Hai chị em Vùi và Lu, Inh và ính...,
trong các truyện khảo sát, chúng tôi thấy mâu thuẫn xung đột chủ yếu giữa dì
ghẻ và người con gái riêng của chồng. Điều này thể hiện dụng ý nghệ thuật
của tác giả dân gian, thứ nhất trong chế độ phụ quyền, người đàn ông bao giờ
cũng giữ một vai trò khá lớn, do đó khi tạo xung đột giữa dì ghẻ với con trai
chồng sẽ ít làm nổi bật nếu không giành một sự dụng công nghệ thuật lớn.
Hơn nữa, người con gái nhỏ trong gia đình phụ quyền ít có vai trò, và yếu
đuối sẽ dễ tạo được xung đột mâu thuẫn.
Mối quan hệ đối kháng giữa dì ghẻ - con chồng một mặt phản ánh sắc
nét một thực tế đang diễn ra trong gia đình phụ quyền và xã hội phân chia giai
cấp. Mặt khác hàm chứa những ước mơ, khát vọng hạnh phúc của nhân dân
lao động. Những người dì ghẻ, con của dì ghẻ tham lam luôn giành giật,
19
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định tạo thành một
bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học
thuộc các loại tự sự và kịch [8].
Trong truyện cổ dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng, cốt
truyện giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể nói: Sự hấp dẫn của cốt truyện
đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân tác phẩm trong không gian và thời gian.
Chức năng của cốt truyện phản ánh hiện thực xã hội bằng hình tượng nghệ
thuật nhưng theo đặc trưng riêng của Folklore [14].
Cốt truyện của truyện cổ tích nhằm diễn tả cuộc đời, sự phát triển hành
động của nhân vật chính, qua đó phản ánh quan điểm tư tưởng và thẩm mỹ
của nhân dân lao động đối với hiện thực xã hội. Song, cốt truyện là sự đan
dệt hàng loạt những môtíp quen thuộc theo một hệ thống nhất định [Dẫn theo
22], Cốt truyện trước hết là tập hợp các dãy môtíp [Dẫn theo 22], môtíp
được xem như là hạt nhân của cốt truỵên[dẫn theo 28], môtíp phát triển
thành cốt truyện. Vì vậy, muốn hiểu được nhân vật của kiểu truyện người con
riêng, hiểu được quan điểm tư tưởng và thẩm mỹ gửi gắm trong mỗi câu
chuyện, chúng tôi đi khảo sát các môtíp đặc trưng.
Trong các truyện cổ tích nói chung và kiểu truyện người con riêng nói
riêng, mỗi môtíp mang một nội dung nhất định và đảm nhận những chức năng
nhất định. Nhưng đều thể hiện được tư duy nghệ thuật, lí tưởng đạo đức, thẩm
mỹ của người xưa. Qua khảo sát kiểu truyện, chúng tôi đã tìm thấy các môtíp
21
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
đặc trưng: Môtíp con người riêng bị hành hạ bạc đãi, môtíp con người riêng
Khoá luận tốt nghiệp
Trong số 25 truyện chúng tôi khảo sát chỉ có 5 truyện: Người dì ghẻ
độc ác (Dân tộc Dao), Ba anh em (Dân tộc Ca Tu), Người dì ghẻ ác nghiệt
hay là sự tích con dế (Dân tộc Kinh) và Mẹ kế con chồng (Dân tộc Tày
Nùng), Con ông, con tôi (Dân tộc Cao Lan), người con riêng là con trai
(chiếm 20%). Với số lượng người con riêng là con trai được thể hiện ít trong
kiểu truyện, điều này có thể được hiểu trước hết dựa theo cơ sở xã hội, đây là
xã hội phụ quyền nên ít nhiều vai trò của người con trai (con riêng) vẫn được
khẳng định. Do đó muốn đẩy mâu thuẫn, xung đột lên cao, tác giả dân gian
phải dành một dụng công nghệ thuật lớn, với cốt truyện phức tạp, tình tiết đa
dạng (điều này sẽ khó thực hiện với một tác phẩm dân gian - truyền miệng).
Hơn nữa, người con gái nhỏ trong gia đình phụ quyền (nhất là người con riêng
mồ côi) ít có vai trò, vị thế trong gia đình, do đó sẽ dễ tạo ra được xung đột,
mâu thuẫn.
Trong kiểu truyện người con riêng, việc mẹ con dì ghẻ ghen tức về nhan
sắc với người con riêng có thể thấy trong 10 truyện (chiếm 40%) như: Con
ông con tôi (Dân tộc Cao Lan) Tuagia Tuanhi (Dân tộc Tày), Gầu Nà (Dân
tộc HMông), Hai chị em Vùi là Lu (Dân tộc Lô Lô), ó ché và Hùm Tinh
(Dân tộc Nùng), Tấm Cám (Dân tộc Kinh)..., ghen tức về địa vị (chị trở thành
vợ hoàng tử, trở thành hoàng hậu ... hay anh được cha truyền ngôi) gồm 12
truyện (chiếm 48%) như: Truyện Saogia Saonhi (Dân tộc Tày), Sự tích nhện
nước (Dân tộc Dao), Gầu Nả (Dân tộc HMông), Tấm Cám (Dân tộc Kinh);
ghen tức về của cải, tài sản gồm 4 truyện (chiếm 16%) như truyện Mụ phù
thuỷ và hai cô gái (Dân tộc HMông), Mẹ kế con chồng (Dân tộc
TàyNùng)...
Trong mỗi truyện, sự ghen tức của mẹ con dì ghẻ có thể biểu hiện ở một
khía cạnh là nhan sắc, địa vị, hay tài sản, nhưng cũng có thể ở cả hai hoặc ba
khía cạnh: nhan sắc, địa vị, tài sản. Chính vì mâu thuẫn giữa quyền lợi và
trước. Trong xã hội cũ, trong gia đình cũ, đứa trẻ mồi côi, con riêng là một
trong những kẻ đau khổ nhất. Có lẽ người xưa cảm thấy rằng nếu số mệnh của
mọi người chìm nổi khó lường thì số mệnh của đứa con riêng lại càng đầy
sóng gió, lại càng mờ mịt. Tác phẩm văn học của nhân dân muốn đặt ra số
mệnh đứa con riêng và giải quyết nó theo quan điểm của nhân. Vì vậy chủ đề
24
Nguyễn Thị Thuý Ngân
Khoá luận tốt nghiệp
dì ghẻ - con chồng là chủ đề chính và môtíp người con riêng bị hành hạ bạc
đãi là một môtíp đặc trưng.
Dì ghẻ là người có quyền lực trong gia đình, hơn nữa lại tham lam, độc
ác và xảo quyệt, đứng trước những người con riêng xinh đẹp, nết na hơn con
mình được nhiều người yêu qúi thì mụ dì ghẻ căm phẫn và quyết tâm làm hại
bằng được để cho hả dạ, để thực hiện được mưu đồ của mình. Thấy Tuagia
đẹp hơn con mình, mụ ghét cay ghét đắng và bắt Tuagia làm việc suốt ngày.
Ngoài ra, mụ còn tìm mọi cớ để hành hạ Tuagia cho hả dạ. Vì Tuagia đẹp
đẽ hiền hậu nên nhiều người đến hỏi nàng làm vợ. Nhưng mụ dì ghẻ không
nhận lời một ai, vì mụ không muốn Tuagia lấy chồng trước Tuanhi ... (truyện
Tuagia - Tuanhi); Còn Gơ liu thì vừa đẹp người lại vừa đẹp nết làng trên
bản dưới ai cũng yêu mến (truyện Gơliu - Gơlát) ... Hành hạ về thể xác, bắt
làm lụng vất vả, cực nhọc để cho xấu đi hoặc ốm yếu mà chết đó là mưu đồ
của dì ghẻ. Qua 25 truyện khảo sát, chúng tôi thấy có 17 truyện người con
riêng bị hành hạ bạc đãi về mặt thể chất (chiếm 68%), chiếm số lượng nhiều.
Điều này thể hiện được nỗi nhọc nhằn, cay cực của người con riêng, đồng thời
thấy được bản chất xấu xa, bạc ác của dì ghẻ.