Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHÁP GIA : 2
1.1.Khái quát sự hình thành của phái Pháp gia : 2
1.2.Những tư tưởng cơ bản của Triết học Pháp gia : 2
1.2.1Những tư tưởng trước Hàn Phi : 2
−Phái Trọng Thuật :
−Phái Trọng Thế :
−Phái Trọng Pháp :
1.2.2Tư tưởng của Hàn Phi : 6
1.NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ: 10
2.1.Những giá trị của tư tưởng triết học Pháp gia: 10
2.2.Những hạn chế của tư tưởng triết học Pháp gia: 11
KẾT LUẬN : 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 14
PHỤ LỤC : cuối
Khóa 21 – Đ5 Học viên : Phạm T.Thùy Duyên
Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
PHẦN MỞ ĐẦU
Không phải ngẫu nhiên Phương Đông được coi là nơi khởi nguồn của nền văn
minh nhân loại, với nhiều thành tựu vĩ đại trong lịch sử. Về tư tưởng, Trung Quốc
thời Xuân Thu- Chiến Quốc đã hội tụ những nhân tố cho sự phát triển đến đỉnh cao.
Trong đó Pháp gia được biết đến với tư cách một trong bốn trường phái lớn nhất của
hệ thống tư tưởng triết học Trung Quốc thời cổ đại. Trong số các đại biểu lớn của
trường phái này, Hàn Phi được coi là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Nội
dung cơ bản của tư tưởng Pháp gia là đề cao vai trò của pháp luật và chủ trương
dùng pháp luật hà khắc để trị nước. Để hiểu một cách tương đối có hệ thống về tư
tưởng của phái Pháp gia ta cần phải tìm hiểu, phân tích “những giá trị và hạn chế
của nó”. Thông qua quá trình tìm hiểu về tư tưởng pháp trị của trường phái triết học
pháp gia để ta có thể thấy từ thời cổ đại pháp trị đã thành một tiêu chuẩn khách
được chế độ quân chủ chuyên chế .
Để hiểu một cách tương đối có hệ thống về đường lối trị nước của phái Pháp
gia ta cần phải tìm hiểu tư tưởng cơ bản của các nhà pháp trị đã nêu trên cũng như
những luận chứng khá thuyết phục về sự cần thiết của đường lối Pháp trị.
1.2Những tư tưởng cơ bản của triết học Pháp gia :
1.1. Những tư tưởng trước Hàn Phi :
Người mở đường cho phái Pháp gia là Quản Trọng. Vào thời Xuân Thu , Quản
Trọng được coi là người đầu tiên bàn về pháp luật như một cách trị nước và chủ
trương công bố pháp luật rộng rãi trong công chúng. Mục đích trị nước theo ông là
làm sao cho quốc phú, binh cường. Ông chú trọng nhất đến sự phú quốc vì "kho lẫm
đầy rồi mới biết lễ tiết, y thực đủ rồi mới biết vinh nhục" (2, 334).
Muốn cho binh cường, ông có sáng kiến "ngụ binh ư nông" (5,103) (gởi việc
binh vào nghề nông), thời bình dân làm ruộng, những lúc rảnh rỗi thì luyện võ bị, có
Khóa 21 – Đ5 - 2 - Học viên : Phạm T.Thùy Duyên
Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
bao nhiêu nông dân khoẻ mạnh là có được bấy nhiêu binh sỹ. Căn cứ vào đó mà cho
rằng Quản Trọng đã lập ra một học thuyết rất hoàn bị về pháp luật, xét về đủ các vấn
đề : Lập pháp là quyền của vua, quy tắc lập pháp là phải lấy tình người và phép trời
làm tiêu chuẩn ; Hành pháp thì phải chuẩn bị, công bố cho rõ ràng, thi hành cho
nghiêm chỉnh, đừng thay đổi hoài, mà phải chí công vô tư, "vua tôi sang hèn đều
phải theo luật pháp", thưởng phạt phải nghiêm minh, tóm lại nếu "danh chính, phép
hoàn bị thì bậc minh quân chẳng có việc gì phải làm nữa, vô vi mà được trị"(5, 105).
Sau cùng ông cũng chú trọng đến đạo đức, bảo lễ, nghĩa, liêm, sỉ là bốn điều
cốt yếu (tứ duy) trong nước, người cầm quyền ráng giữ mà trị dân.
Những sáng kiến rất thực tế của Quản Trọng ảnh hưởng lớn đến các Pháp gia
sau này. Cho nên chúng ta có thể coi ông là thuỷ tổ của Pháp gia mà cũng là chiếc
cầu nối Nho gia với Pháp gia, biết dung hoà thực tế với lý tưởng, trọng kinh tế, võ bị
mà cũng biết lễ nghĩa, nhân tín. Công của ông rất lớn chẳng những đối với Tề,
mà đối với cả văn minh Trung Quốc.
Phái trọng thuật :
người hiền là vì quyền trọng, vị cao. Nghiêu hồi còn là dân thường thì không
trị được ba người, mà Kiệt khi làm thiên tử thì có thể làm loạn cả thiên hạ. Do đó tôi
biết rằng quyền thế và địa vị đủ để nhờ cậy được, mà bậc hiền, trí không đủ cho ta
hâm mộ. Cây ná yếu mà bắn được mũi tên lên cao là nhờ sức gió đưa đi, kẻ bất tiếu
mà lệnh ban ra được thi hành là nhờ sự giúp đỡ của quần chúng, do đó mà xét thì
hiền và trí không đủ cho đám đông phục tùng , mà quyền thế và địa vị đủ khuất phục
được người hiền “(2, 337).
Thận Đáo đề cao sức mạnh và tác dụng của quyền thế, địa vị; điều đó đúng.
Nhưng không đủ. Không rõ trong 42 thiên đã thất truyền, ông có bàn gì thêm không,
có xét quyền thế, địa vị do đâu mà có, khi nào thì chính đáng, khi nào không, và một
khi đã có được rồi thì làm sao giữ được Vì trọng "thế" nên Thận Đáo chủ trương
Khóa 21 – Đ5 - 4 - Học viên : Phạm T.Thùy Duyên
Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
tập quyền, cấm không được lập bè đảng, địa vị và quyền lợi của vợ lớn bé, con cả
con thứ phải rõ ràng, đại thần không được lấn vua, phải bỏ ý riêng mà chỉ theo luật.
Phái trọng pháp :
Pháp gia có ba phái chính, phái trọng thuật là Thân Bất Hại, phái trọng thế là Thận
Đáo, phái thứ ba trọng pháp là Thương Ưởng.
Từ năm -350 đến -348, Thương Ưởng lại biến pháp lần nữa, lần này về hành chánh
và tài chánh, cấm cha con anh em đồng cư để cho công việc khẩn hoang mau phát
triển :
- Chia nước thành quận huyện.
- Mở mang đất đai, ai vỡ thêm được đất thì làm chủ đất, đặt một thứ thuế công
bằng, ai cũng như ai.
- Thống nhất đồ đo lường.
Chủ trương của ông là: Pháp luật phải rất nghiêm, ban bố khắp trong nước, và
từ trên xuống dưới ai cũng phải thi hành, không phân biệt giai cấp; pháp đã định rồi
thì không ai được bàn ra bàn vào nữa, không được "dùng lời khéo mà làm hại pháp"
(5, 160), nghĩa là làm sai ý nghĩa của pháp để tìm lợi cho mình. Tội dù nhẹ cũng
phạt rất nặng, để cho dân sợ, mà sau khỏi phải dùng hình phạt. Đó là cách "dùng
phê phán đời nay hay lấy cái quá khứ được tuyệt đối hóa để đo hiện tại, Hàn Phi cho
rằng, mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi lý luận phải đều được bắt nguồn từ chính
thực tiễn của đất nước. Các nhà Nho trên mây trên gió bàn việc chính sự chẳng qua
chỉ như trẻ con nghịch đất, không thể đem lại hiệu quả thực tế: “Trẻ con đùa nghịch
với nhau lấy đất làm cơm, lấy bùn làm canh, lấy gỗ làm thịt. Nhưng chiều đến, thế
nào cũng trở về nhà ăn cơm. Cơm đất, canh bùn có thể đùa để chơi, nhưng không
thể dùng để ăn. Khen những điều truyền tụng từ thượng cổ, hùng biện mà không
chắc chắn, nói chuyện nhân nghĩa của các tiên vương mà không biết sửa đổi nước,
thì đó cũng đều là những điều có thể dùng để đùa chơi chứ không dùng để trị
nước”(8, 327). Có pháp luật, pháp luật được thi hành một cách phổ quát và đúng đắn
thì xã hội mới ổn định, xã hội ổn định lại là tiền đề quan trọng để xây dựng đất nước
Khóa 21 – Đ5 - 6 - Học viên : Phạm T.Thùy Duyên
Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
giàu mạnh, làm cho dân chúng được yên bình, hạnh phúc. Từ chỗ cho rằng, “Không
có nước nào luôn luôn mạnh, cũng không có nước nào luôn luôn yếu. Hễ những
người thi hành pháp luật mà mạnh thì nước mạnh, còn hễ những người thi hành
pháp luật yếu thì nước yếu”(8, 55), Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng “trị nước bằng luật
pháp” (dĩ pháp trị quốc), chủ trương “luật pháp không phân biệt sang hèn” (pháp bất
a quý), “hình phạt không kiêng dè bậc đại thần, tưởng thưởng không bỏ sót kẻ thất
phu” (hình quá bất tị đại thần, thưởng thiện bất di tứ phu). Ông hết sức coi trọng tác
dụng của pháp luật và chủ trương xây dựng một lý luận pháp trị hoàn chỉnh, trong
đó lấy “pháp” làm hạt nhân, kết hợp chặt chẽ “pháp”, “thuật” với “thế”.
Hàn Phi hiểu rất rõ và sâu sắc về pháp luật, coi “pháp luật là mệnh lệnh ban bố
rõ ràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với lòng dân, thưởng cho những kẻ
cẩn thận giữ pháp luật, nhưng phạt những kẻ làm trái lệnh”(8, 478-479). Đây là một
tư tưởng hết sức tiến bộ so với đương thời. Cái gọi là “mệnh lệnh ban bố rõ ràng nơi
cửa công” khác xa so với cách cai trị bởi ý muốn chủ quan của các cá nhân quý tộc
nắm quyền đương thời. Pháp luật rõ ràng được ban bố cho trăm họ, làm cho dân biết
pháp luật để tránh phạm pháp; lấy đó làm chuẩn tắc cho hành vi của mọi người, chứ
không phải là cái bẫy để hại dân. Các điều luật minh bạch là phương thức phòng bị
Đối với việc chấp pháp, nguyên tắc của Hàn Phi là:
1/ Tăng cường giáo dục pháp chế, tức là “dĩ pháp vi giáo”.
2/ Mọi người, ai ai cũng bình đẳng trước pháp luật : Đến bản thân bậc quân
chủ – nhà vua – cũng phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật: “Kẻ làm vua chúa là kẻ
phải giữ pháp luật, căn cứ vào kết quả mà xét để lập công lao”(8, 394); Nếu nhà vua
biết bỏ điều riêng tư, làm theo phép công thì chẳng những dân sẽ được yên, mà nước
cũng được trị. Nếu xét theo ý nghĩa của những luận điểm này thì có thể thấy rằng,
mặc dù Hàn Phi chủ trương quân quyền thần thánh không thể xâm phạm, song hình
thái quân quyền này vẫn bị chế ước bởi pháp quyền.
3/ Nghiêm khắc cẩn thận, “tín thưởng tất phạt”, không được tùy ý thưởng cho
người không có công, vô cớ sát hại người vô tội.
Khóa 21 – Đ5 - 8 - Học viên : Phạm T.Thùy Duyên
Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
4/ Dùng sức mạnh đạo đức hỗ trợ cho việc thi hành pháp luật.
Hàn Phi chủ trương pháp trị, song cũng rất chú trọng đến “thuật” của nhà vua,
bởi vì “bầy tôi đối với nhà vua không phải có tình thân cốt nhục, chỉ vì bị tình thế
buộc không thể không thờ”(8, 149). Nhà vua dựa vào pháp trị để làm cho đất nước
giàu mạnh, song nếu “không có cái thuật để biết kẻ gian thì chỉ lấy cái giàu mạnh
của nước mà làm giàu có cho các quan đại thần mà thôi”(8, 480). Do vậy, nhà vua
phải có “thuật” để dùng người. Đối với Hàn Phi, “thuật” chính là một loạt các
phương pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, thi cử, thưởng phạt của nhà vua. Trong đó,
phép hình danh là một thuật không thể thiếu được của bậc quân chủ. Với cách nhìn
như vậy thì “pháp” và “thuật” gắn bó chặt chẽ với nhau : “Nhà vua không có thuật
trị nước thì ở trên bị che đậy, bầy tôi mà không có pháp luật thì cái loạn sinh ra ở
dưới. Hai cái không thể thiếu cái nào, đó đều là những công cụ của bậc đế vương”(8,
479).
Ngoài “pháp” và “thuật”, Hàn Phi đặc biệt coi trọng “thế”. “Thế” còn được gọi là
“quyền thế”, “uy thế”, “thế trọng”, nó chỉ một sức mạnh quyền uy tuyệt đối, cũng
chính là quyền thống trị tối cao của ông vua, bao gồm quyền sử dụng người, quyền
thưởng phạt, v.v Hàn Phi cho rằng, chỉ khi nào nắm quyền thống trị trong tay, thì
tưởng về “đạo’, “đức” của Lão giáo, tư tưởng “chính danh” của Nho gia, nó là sự
tổng hợp giữa “pháp”, “thế” và “thuật”trong phép trị nước. Pháp gia là tiếng nói đại
diện cho lợi ích của tầng lớp quý tộc mới, đã tiến hành đấu tranh quyết liệt chống lại
tàn dư của chế độ truyền thống công xã gia trưởng ; đặc biệt là chống lại tư tưởng
bảo thủ và mê tín tôn giáo đương thời. Tư tưởng pháp gia vẫn còn nhiều yếu tố có
giá trị có thể vận dụng trong xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay . Pháp gia coi
trọng quyền lực của nhà lãnh đạo. Là một bước tiến lớn, trong tư tưởng chính trị cổ
đại Trung Quốc.
Khóa 21 – Đ5 - 10 - Học viên : Phạm T.Thùy Duyên
Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
Mấy ngàn năm đã qua, chúng ta có thể chắc chắn một điều là không có gì hoàn
toàn cả. Tư tưởng Pháp gia cũng vậy, nó có những điểm tiêu cực, nhưng nó cũng có
những điểm rất tiến bộ mà ngay cả ngày nay cũng là lý tưởng.
2.2. Những hạn chế của tư tưởng triết học Pháp gia :
Trên thực tế, sau khi sử dụng hệ thống pháp trị, nhà Tần đã thu phục được các
nước còn lại, thống nhất Trung Quốc, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Trung
Hoa. Song, sang đến đời Hán, Nho gia đã hưng thịnh trở lại, Pháp gia cùng hệ thống
pháp trị nhanh chóng mất đi chỗ đứng của mình. Về phương diện này, Ngô Kinh
Hùng, nhà triết học pháp luật nổi tiếng người Trung Quốc, đã đưa ra một nhận xét
tương đối xác đáng rằng, sở dĩ Pháp gia thất bại là do bản thân cách làm của Pháp
gia (trong đó có Hàn Phi) tồn tại nhiều điểm quá cực đoan:
1. Đồng nhất việc cai trị dựa trên pháp luật với việc cai trị dựa vào các hình phạt
nghiêm khắc.
2. Quan niệm về pháp luật của Pháp gia nói chung và Hàn Phi nói riêng quá máy
móc và cứng nhắc, hoàn toàn không có tính đàn hồi trong việc sử dụng pháp luật.
3. Coi các điều khoản pháp luật chính thức là hình thức duy nhất phù hợp với pháp luật,
hoàn toàn bỏ qua nhân tố luật tập quán.
4.Giải thích mục tiêu pháp luật quá chú trọng đến phương diện vật chất; thực ra, luật
pháp cần phải giúp phát triển một cách bình đẳng các lợi ích khác nhau.
5. Ở họ, có lòng nhiệt huyết cải cách mù quáng, song lại quá thiếu ý thức lịch sử,
Nếu nhìn trong quá trình lịch sử thì cái gọi là sự thất bại của Pháp trước Nho
có nhiều căn nguyên xã hội sâu xa. Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy
Hoàng đã tiến hành một loạt cải cách quan trọng, như xác lập chế độ sở hữu đất đai
phong kiến trên phạm vi cả nước, xây dựng hàng loạt các công trình thủy lợi lớn,
loại bỏ chế độ phân phong, thiết lập chế độ quận huyện, thống nhất tiền tệ, hệ thống
đo lường, bánh xe, văn tự toàn quốc, v.v Khi nhà Tần sụp đổ, nhà Tây Hán từ Hán
Cao Tổ đến Hán Vũ Đế vẫn tiếp tục con đường chính trị và chính sách của Pháp gia
và từ đây, sự đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng Nho và Pháp ngày càng trở nên gay gắt
hơn.
Khóa 21 – Đ5 - 12 - Học viên : Phạm T.Thùy Duyên
Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
KẾT LUẬN
Trong tư tưởng của Nho gia luôn đặt ra yêu cầu về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và
chính danh. Yêu cầu sống theo lối người xưa theo tam cương, ngũ thường. Thu phục
nhân tâm bằng đức của chính mình. Còn pháp gia cho rằng để ổn định được đất
nước, yêu cầu nhất vẫn là dùng “pháp”, “thế”, “thuật”. Trong đó nhấn mạnh đến yếu
tố pháp luật. Lấy pháp luật làm công cụ đắc lực để thống trị xã hội, biến pháp luật
thành phương tiện, cẩm nang đặc biệt, nhằm đảm bảo cho sự cai trị thành công, và là
chỗ dựa tin cậy vững chắc nhất để vua cai trị dân chúng. Theo quan điểm của pháp
trị thì các quan hệ khác như vua tôi anh – em, chồng – vợ, cha – con đều tuyệt đối
không tin tưởng mà luôn phải đề cao cảnh giác. Như vậy, theo Hàn Phi Tử những
tình cảm kính trọng, thủy chung, trung hiếu đều là huyễn hoặc, xa vời, chỉ có pháp
luật mới có thể đảm bảo trật tự. Nếu như kết hợp cả hai hệ tư tưởng đó thì thật hoàn
chỉnh. Cầm thanh gươm chuyên chế đi thu phục, sau đó dùng đức để cai trị thì nước
đó tất yếu sẽ cường mạnh.
Tóm lại, tư tưởng của Hàn Phi hết sức sâu rộng, bao gồm chính trị, pháp luật,
triết học, xã hội, kinh tế, quân sự, giáo dục, ; trong đó, then chốt chính là tư tưởng
chính trị. Ông để tâm suy nghĩ làm sao cho vị vua trong điều kiện xã hội đương thời
có thể vận dụng vô số các phương pháp khác nhau để đạt được cục diện chính trị ổn
định, để cho nước giàu quân mạnh. Học thuyết của Pháp gia và Hàn Phi Tử đã được
[11] />tri-cua-han-phi-tu-%E2%80%9Cxay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-can-phai-co-trang-
thai-phap-tri-tot-va-nha-cam-quyen-tri-tue%E2%80%9D.html
[12] Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học trước Marx :
/>%C6%B0%E1%BB%9Fng-Ph%C3%A1p-gia-trong-nghi%E1%BB%87p-tr
%E1%BB%8B-qu%E1%BB%91c-c%E1%BB%A7a-T%E1%BA%A7n-Thu
%E1%BB%B7-Ho%C3%A0ng
Khóa 21 – Đ5 - 15 - Học viên : Phạm T.Thùy Duyên
Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
PHỤ LỤC 1
Tài liệu tham khảo : mobireadersetup.msi ; Nguyễn Hiến Lê và Gỉan Chi (soạn giả),
Han Phi Tu.prc (ebooks)
Khóa 21 – Đ5 - 16 - Học viên : Phạm T.Thùy Duyên
Tiểu luận môn : Triết học GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
Khóa 21 – Đ5 - 17 - Học viên : Phạm T.Thùy Duyên