TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
****
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI NHÓM 6:
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
NGƯỜI THỰC HIỆN: PHẠM THỊ NGỌC HẠNH
STT: 53
LỚP CAO HỌC: KHÓA 21-ĐÊM 5
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
TP.HCM, 2012
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 – NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM
KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI
I. Hoàn cảnh ra đời 2
II. Những tư tưởng cơ bản 2
1. Tư tưởng của Xôcrát 2
2. Tư tưởng của Platông 3
CHƯƠNG 2 – NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY
TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI
I. Những giá trị 8
II. Những hạn chế 10
KẾT LUẬN 12
CHÚ THÍCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 3
SVTH: Phạm Thị Ngọc Hạnh Lớp Cao học: K21-Đêm 5
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
PHẦN MỞ ĐẦU
Hy Lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, là thời kì
dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên
trong lịch sử-chế độ chiếm hữu nô lệ. Như Ăng-ghen nói: “nếu không có chế độ
nô lệ, thì cũng không có nhà nước Hy Lạp, không có khoa học và nghệ thuật Hy
Lạp”.
Trường phái triết học duy tâm khách quan được hình thành trong giai
đoạn chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển đến hình thức cao và cũng là thời kỳ phồn
vinh của triết học cổ đại Hy Lạp. Thời kỳ này, đối tượng nghiên cứu của triết học
được mở rộng sang các vấn đề về kết cấu của vật chất, nhận thức luận và đời
sống chính trị. Trong đó, kết cấu của vật chất là vấn đề trung tâm của nhiều
trường phái triết học. Platông là người đầu tiên xây dựng hệ thống hoàn chỉnh
đầu tiên của chủ nghĩa duy tâm khách quan, đối lập với thế giới quan duy vật.
Ông đã tiến hành đấu tranh gay gắt chống lại chủ nghĩa duy vật đặc biệt là chống
lại những đại biểu của chủ nghĩa duy vật thời bấy giờ như Hêraclit, Đêmôcrit.
II. Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy tâm khách quan
Trường phái duy tâm khách quan thể hiện lập trường chính trị của tầng
lớp chủ nô bảo thủ chống lại nền dân chủ Athen và hệ thống triết học duy vật của
trường phái nguyên tử luận. Trường phái này do Xôcrát đặt nền móng và Platông
- học trò của ông hoàn thiện.
1. Tư tưởng của Xôcrát :
Xôcrát xuất thân trong một gia đình khá giả ở Athen. Ông hướng về chính
thể chủ nô quý tộc chống lại chủ nô dân chủ. Ông không viết một tác phẩm nào,
chúng ta chỉ biết về ông chủ yếu qua các tác phẩm của Platông và Arixtốt
SVTH : Phạm Thị Ngọc Hạnh
2
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
[Aristotle (384 – 322 TCN)]. Ông là nhà triết học “đối thoại” vì đối với ông, chỉ
có văn nói mới sống động, còn những gì người ta viết ra thì đã bị khô cứng
Xôcrát không hướng về nghiên cứu tự nhiên. Ông dành phần lớn công sức
nghiên cứu triết học về nhân bản, về con người và về đạo đức vì theo ông con
người không có khả năng khám phá được sự sáng tạo của giới tự nhiên và không
cộng hòa, Luật pháp…
•
Thuyết ý niệm :
Platông chia thế giới làm hai loại: thế giới ý niệm (là thế giới tồn tại chân
thực, bất biến, vĩnh viễn, tuyệt đối, là cơ sở tồn tại của thế giới các sự vật cảm
tính) và thế giới của các sự vật cảm tính (là thế giới tồn tại không chân thực,
thường xuyên biến đổi, phụ thuộc vào thế giới ý niệm, do các ý niệm sản sinh
ra). Theo ông, thế giới ý niệm là nguyên mẫu, nó có trước và thế giới vật chất là
cái được sinh ra, nó là thế giới cảm tính. Thế giới vật chất chẳng qua là cái bóng,
là sự mô phỏng, bắt chước thế giới ý niệm, thế giới ý niệm quyết định thế giới
vật chất, không có thế giới ý niệm thì không có thế giới vật chất. Ông lý giải sự
sinh thành thế giới sự vật xảy ra gắn liền với bốn yếu tố cơ bản là tồn tại (ý
niệm), không tồn tại ( vật chất), con số ( quan hệ tỷ lệ), sự vật cảm tính. Chính sự
tồn tại của ý niệm thông qua các tỷ lệ của các con số tác động vào sự không tồn
tại của vật chất sinh ra sự vật cảm tính.
Các ý niệm, theo cách hiểu của Platông, là các khái niệm, tri thức đã được
khách quan hoá, chúng tồn tại mãi mãi từ xưa đến nay. Thế giới ý niệm là vĩnh
viễn, bất biến, không phân chia được và chỉ được nhận thức duy nhất bằng lý
tính. Ông cho rằng thế giới ý niệm có vô vàn ý niệm, trong số tất cả các ý niệm
thì ý niệm phúc lợi là cao nhất - nó là ý niệm của các ý niệm. Theo Platông, vật
chất nói chung cũng tồn tại vĩnh viễn, nó là căn nguyên tạo ra chất liệu cụ thể của
mỗi sự vật, làm cho chúng đa dạng, biến đổi không ngừng; các ý niệm là bản
chất chung của mọi sự vật, là cơ sở thống nhất toàn vũ trụ, là linh hồn đem lại
sinh khí cho toàn vũ trụ; còn các con số là một dạng bản chất độc lập đặc biệt
SVTH : Phạm Thị Ngọc Hạnh
4
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
chiếm vị trí trung gian ở giữa ý niệm và sự vật cảm tính, sự khác nhau giữa các
sự vật là do khác nhau về quan hệ toán học, do những con số quyết định.
•
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
tuyệt đối khách quan thuộc về thế giới ý niệm ở trên trời. Con người chỉ nhận
thức được những ý tưởng này bằng lý trí. Theo Platông, con người muốn sống
hạnh phúc phải dùng lý trí để chiêm nghiệm những ý tưởng và khắc phục những
dục vọng vật chất thấp hèn, giúp linh hồn thoát khỏi cùm gông của nhà tù thể
xác. Dục vọng phải phục tùng trái tim, trái tim phải làm theo khối óc là điều kiện
tiên quyết để sống hạnh phúc Như vậy theo Platông, con người không thể tìm
thấy hạnh phúc cho riêng mình ở xung quanh mình, dưới trần gian, con người chỉ
có thể đạt được hạnh phúc trong thế giới ý niệm, ở trên trời, sau khi chết. Quan
niệm về đạo đức đầy tính chất duy tâm thần bí của Platông là cơ sở cho nền đạo
đức Thiên chúa giáo sau này.
•
Quan điểm về chính trị - xã hội:
Do ba bộ phận cấu thành linh hồn của con người cụ thể là không giống
nhau nên xã hội có ba loại người. Thứ nhất là triết gia- những người mà bộ phận
lý trí trong linh hồn con người đóng vai trò chủ đạo, có nhận thức sáng suốt và
đạo đức cao cả; Thượng đế sinh ra họ để họ lãnh đạo xã hội. Loại thứ hai gồm
các chiến binh – những người mà bộ phận ý chí trong linh hồn họ đóng vai trò
chủ đạo; họ tràn đầy lòng dũng cảm và sự gan dạ; Thượng đế sinh ra họ để họ
bảo vệ xã hội. Loại thứ ba bao gồm nông dân, thợ thủ công, thương gia…- những
người có bộ phận cảm xúc chi phối chủ đạo linh hồn họ; họ thích nghi với lao
động chân tay và đam mê của cải vật chất; Thượng đế sinh ra họ để họ đảm bảo
đời sống vật chất cho xã hội. Platông cho rằng nô lệ không là con người mà là
động vật biết nói và không có lý trí. Vì vậy nô lệ không biết nhận thức. Do không
nhận thức nên không có đời sống đạo đức và do đó nằm ngoài vòng chính trị, họ
không có một quyền nào khác ngoài quyền được tự do làm nô lệ cho người khác.
Nhà nước đảm bảo cho sự phân công trên được thực hiện. Tuy nhiên, chế độ sở
hữu tư nhân đã làm cho nhà nước bị tha hóa, gây ra sự băng hoại đời sống đạo
đức, phá hoại tính hài hòa của xã hội.
Platông đã xây dựng học thuyết lý tưởng trên cơ sở học thuyết về linh hồn
nghĩa xây dựng nên những khái niệm về chuẩn mực đạo đức chung của con
người. Đạo đức đòi hỏi biết ý thức về cái thiện và đức hạnh nói chung. Nó phải
trở thành khoa học về sự hoàn thiện phẩm chất con người. Con đường đi đến tri
thức cũng chính là con đường hoàn thiện nhân cách đạo đức của con người, con
đường hướng con người tới cái thiện và hạnh phúc. Để tôn vinh những giá trị của
tư tưởng Xôcrát đối với sự phát triển trong lịch sử, triết học Hy Lạp cũng đã lấy
ông làm tiêu chí để phân kỳ.
3. Thể hiện một số t ư tưởng tiến bộ về chính trị - xã hội
Platông thể hiện tư tưởng tiến bộ trong vấn đề nam nữ bình quyền. Theo
Platông, không có sự phân chia nam nữ nhất là trong giáo dục. Con gái cũng có
cơ hội học tập và vươn lên đỉnh cao chính trị như con trai. “Nếu một người đàn
SVTH : Phạm Thị Ngọc Hạnh
8
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
bà tỏ ra có khả năng trong lãnh vực chính trị, hãy để cho bà ta làm chính trị. Nếu
một người đàn ông có khả năng rửa chén, hãy để cho ông ta rửa chén.” [2,17]
Platông chủ trương nhóm người lãnh đạo sẽ là những nhóm người ưu tú,
bất kể xuất thân. Nếu con vua chúa mà không có khả năng vẫn sẽ bị đào thải, nếu
con thứ dân mà học hỏi và tài năng vẫn sẽ có cơ hội vươn lên. “Đây là nền dân
chủ của học đường, một nền dân chủ trăm ngàn lần đẹp đẽ hơn nền dân chủ của
thùng phiếu.” [2,16]
4. Đóng góp cho triết học p hép biện chứng chất phác
Có lẽ đóng góp quan trọng nhất của Xôcrát cho tư tưởng phương Tây là
phương pháp truy vấn biện chứng, hay "phương pháp Xôcrát" còn gọi là phương
pháp “bác bỏ bằng logic” (elenchus). Ông đã áp dụng phương pháp này chủ yếu
cho việc kiểm nghiệm các khái niệm quan trọng về mặt đạo đức như Tốt đẹp và
Công bằng. Để giải quyết một vấn đề, ông dẫn dắt người đối thoại đến với chân
lý bằng tư duy logic, khả năng biện luận thuyết phục, có cơ sở, chứng cứ. Đó là
biện chứng của các khái niệm, hay biện chứng chủ quan [3,11] . Ngày nay, ảnh
hưởng của cách tiếp cận này có thể thấy rõ nhất ở việc sử dụng phương pháp
II. Những hạn chế:
1. Tư tưởng chính trị - xã hội của Platông chứa đầy tính tính bảo thủ và
mâu thuẫn.
Đầu tiên ông vừa đòi hỏi phải xóa bỏ tư hữu lại vừa đòi hỏi phải bảo vệ
cho bằng được chế độ đẳng cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội; vừa kêu gọi
phải xây dựng cho bằng được nhà nước cộng hòa lý tưởng; lại vừa ra sức bảo vệ
cho bằng được lợi ích và địa vị của tầng lớp chủ nô quí tộc chống lại nhà nước
dân chủ Athen [1, 109].
Kế tiếp, khi chủ trương một chế độ cộng sản ở giai cấp lãnh đạo, trong đó,
“tất cả những đứa con trai đều là anh em, tất cả những đứa con gái đều là chị em,
tất cả những người đàn ông đều là cha, tất cả những người đàn bà đều là mẹ”
[8,17]. Khi ấy, ông đã không tiên liệu được những bản tính tự nhiên của con
SVTH : Phạm Thị Ngọc Hạnh
10
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
người như tính ghen tuông của đàn ông, đàn bà hay tình mẫu tử thiêng liêng. Và
như vậy, khi đả kích gia đình, ông đã vô tình phá vỡ nền móng của xã hội lý
tưởng mà ông sắp xây cất [8,21].
Platông cũng quá chú trọng vào phân chia giai cấp. Ông cho rằng các giai
cấp như thương nhân, nông dân và thợ thủ công là giai cấp sẽ chấp nhận sự cai trị
của giai cấp ưu tú và chu cấp, nâng đỡ giai cấp lãnh đạo. Ông đã tách biệt sự phụ
thuộc của giai cấp lãnh đạo với giai cấp kiểm soát lực lượng kinh tế [8,21].
Thuật chính trị của Platông thiếu sự mềm dẻo và tế nhị: “nó đề cao trật tự
mà không đề cao sự tự do” [8,22]. Ông đã phân loại con người thành những giai
cấp không khác gì nhà côn trùng học phân loại các côn trùng. Ông còn coi nô lệ
không phải là con người mà chỉ là động vật biết nói.
2. Quan điểm của Platông có một số điểm bất hợp lý khi quá đề cao vai
trò của tư duy.
Theo Arixtốt, ý niệm là cái tồn tại bên ngoài và độc lập với sự vật thì
không thể làm bản chất cho sự vật được, làm sao coi sự vật là cái bóng của ý
SVTH : Phạm Thị Ngọc Hạnh
12
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
CHÚ THÍCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] : Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo, Triết học tập 1, Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị
quốc gia, 2011.
[2] : Bùi Văn Mưa, Trần Nguyên Ký, Lê Thanh Sinh, Nguyễn Ngọc Thu, Bùi Bá
Linh, Bùi Xuân Thanh, Triết học – Phần 1 – Đại cương về lịch sử triết học (tài
liệu dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành
triết học của trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh), 2011.
[3] : Đinh Ngọc Thạch, Lịch sử triết học phương Tây (dùng cho học viên cao học
không thuộc chuyên ngành triết học của trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh), 2010.
[4] : Edward McNall Burns, Văn minh phương Tây - Lịch sử và văn hóa, NXB
Từ điển bách khoa, 2010.
[5] : Norman F.Cantor, Nền văn minh thế giới cổ đại (Kiến Văn và Khắc Vinh
biên dịch), NXB Lao Động Xã Hội, 2008.
[6] : Tô Mộng Vi, Tìm lại nền văn minh Hy Lạp cổ đại (Nguyễn Kim Dân biên
dịch), NXB Lao động, 2010.
[7] : Vũ Dương Minh, Lịch sử văn minh thế giới cổ đại, NXB Giáo Dục Việt
Nam, 2011.
[8] : Will Durant, Câu chuyện triết học (Trí Hải và Bửu Đích biên dịch), NXB
Văn hóa thông tin, 2008.
[9]: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Minh Thái Tổ, tại
/>[10] : Phan Thị Cam, Cuộc đời và nội dung triết học của Platon, tại
/>dhoi-va-noi-dung-triet-hoc-cua-platon.
SVTH : Phạm Thị Ngọc Hạnh
13