TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Tiểu luận triết học
Đề tài nhóm 6:
“CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP
CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ”SVTH : NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH
STT : 052
LỚP : ĐÊM 5
KHÓA : CAO HỌC-K21
GVHD : T.S BÙI VĂN MƯA
Tp. HCM, Tháng 02 Năm 2012.
GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM
KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI 4
1.1. Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại: 4
1.2. Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại: 4
1.2.1. Triết gia Xôcrát [Socrate (469 – 399 TCN)]: 5
1.2.2. Triết gia Platông [Platon (427 – 347 TCN)]: 6
CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ
ĐẠI 10
2.1. Những giá trị của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại 10
2.2. Những hạn chế của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại: 14
KẾT LUẬN 17
học, NXB Trẻ, 2004, 3) Will Durant, Câu chuyện triết học, Trí Hải và Bửu
Đích biên dịch, NXB Văn hóa thông tin, 2008 và một số trang web khác.
SVTH: NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH 3 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5
GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1. Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại:
Hy lạp cổ đại là một quốc gia có khí hậu ôn hòa và rộng lớn bao gồm phần
đất liền và vô số hòn đảo lớn nhỏ trên biển Êgiê, vùng duyên hải Bancăng và
Tiêu Á. Chính sự thuận lợi về thiên nhiên và địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp
nhanh chóng phát triển các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị
văn hóa. Văn minh Hy Lạp cổ đại phát triển rất rực rỡ, nó phong phú trong các
lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học, văn học, nghệ thuật, và đặc biệt là về triết học.
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh chuyển biến lâu dài và sâu sắc các
quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử-chế
độ chiếm hữu nô lệ. Như Ăng-ghen đã nói: “Nếu không có chế độ nô lệ, thì cũng
không có nhà nước Hy Lạp, không có khoa học và nghệ thuật Hy Lạp”[8].
Do triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền với lịch sử ra đời của nền chính trị Hy
Lạp cổ đại và phản ánh lịch sử của đất nước này. Do vậy, lịch sử triết học Hy
Lạp cổ đại chia làm ba thời kỳ: thời kỳ hình thành, thời kỳ cực thịnh và thời kỳ
suy tàn. Xuyên suốt ba thời kỳ ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật của
Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platông.
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử
triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại chứng tỏ rằng, ngay từ đầu, lịch sử triết học là lịch
sử đấu tranh giữa hai thế giới quan, hai phương pháp luận đối lập nhau. Cuộc đấu
tranh ấy phản ánh lợi ích của những tầng lớp, những giai cấp khác nhau trong xã
hội có giai cấp đối kháng.
1.2. Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ
đại:
Nhận thức luận của ông chủ yếu là thể hiện qua đạo đức của con người.
Đạo đức học của ông mang tính chất duy lý, ông thừa nhận Đạo Đức và Tri Thức
SVTH: NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH 5 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5
GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
thống nhất là một “Mỗi điều thiện đó là tri thức và mỗi điều ác đó là sự dốt nát”,
mỗi hành vi vô đạo đức đều là kết quả của sự dốt nát của chúng ta. Ông cho rằng
cái thiện phổ biến là cơ sở của đạo đức, là tiêu chuẩn của đức hạnh, muốn tuân
thủ theo cái thiện thì phải nắm bắt được nó, hiểu nó, để phát hiện được cái phổ
biến, phải có phương pháp tìm ra chân lý thông qua các cuộc tranh luận. Theo
Xôcrát có 4 phương pháp là: mỉa mai, đỡ đẻ, quy nạp, và xác định…
Xôcrát là người khởi xướng ra phép biện chứng, theo nghệ thuật tranh luận,
ông có tài thuyết phục và gây hào hứng cho những người đàm thoại, từ đó rút ra
chân lý. Ông đã dùng hình thức vấn đáp để khảo sát những lời phát biểu, bằng
cách tra xét định nghĩa, đào sâu khái niệm, truy nã nội hàm của chúng, với giả
định rằng một lời phát biểu đúng không thể nào dẫn đến hệ quả sai.
Triết học Xôcrát là một bước ngoặt trong lịch sử triết học phương Tây cổ
đại với việc coi con người là trung tâm của các vấn đề thế giới quan. Đánh giá
cao điều đó, Mác đã gọi các quan niệm của Xôcrát là “biểu tượng của triết học”.
1.2.2. Triết gia Platông [Platon (427 – 347 TCN)]:
Platông là nhà triết học duy tâm cổ Hy Lạp, được coi là người mở đầu siêu
hình học phương Tây, là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất
nhất thời cổ đại, người sáng lập chủ nghĩa duy tâm khách quan. Ông là học trò
nổi tiếng nhất của Xôcrát. Các nhà triết học sau này, khi nghiên cứu về nền triết
học phương Tây cổ đại, đều thống nhất nhận định: “Người kế thừa duy nhất
Xôcrát chính là Platông”.
Platông là người đầu tiên trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, xây dựng hệ
thống hoàn chỉnh của chủ nghĩa duy tâm khách quan. Điểm nổi bật trong hệ
thống triết học duy tâm của ông là học thuyết về ý niệm với giá trị bên trong là
phép biện chứng của khái niệm và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức- chính
trị- xã hội.
giới vật chất mà là sự hồi tưởng của linh hồn bất tử, hồi tưởng lại những gì mà
linh hồn bất tử đã quên đi khi nằm trong thế giới ý niệm. Linh hồn bất tử vốn
thuộc về thế giới ý niệm, khi đó nó biết hết tất cả những gì thuộc về thế giới ý
SVTH: NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH 7 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5
GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
niệm nhưng vì thế giới ý niệm luôn vận động nên linh hồn bất tử vận động xuống
mặt đất, nhập vào con người, biến con người từ một thực thể bất động vô tri, vô
giác thành một cơ thể năng động và có tri giác. Nhưng cũng từ đó linh hồn bất tử
quên hết những gì biết được ở thế giới ý niệm, khi nó hồi tưởng những gì đã biết
tạo ra sự nhận thức. Phương pháp kích thích sự hồi tưởng lại thề giới ý niệm đó
là thuật logic đàm thoại – Platông gọi là phép biện chứng. Ông quan niệm đó là
nghệ thuật so sánh và phân tích những khái niệm trong khi tranh luận. Vì vậy.
Platông cho rằng, những ý kiến xác thực được khơi dậy nhờ các câu hỏi thì sẽ
thành tri thức.
- Quan niệm về đạo đức: Xuất phát từ đạo đức học duy lý, Platông cho
rằng, sống hạnh phúc là sống có đạo đức. Sống có đạo đức là làm điều thiện.
Hành vi hướng thiện là hành vi không dựa trên khoái lạc, lợi thú chủ quan mà là
hướng đến những ý tưởng tuyệt đối khách quan thuộc về thế giới ý niệm ở trên
trời. Con người chỉ nhận thức được những ý tưởng này bằng lý trí. Theo Platông,
con người muốn sống hạnh phúc phải dùng lý trí để chiêm nghiệm những ý
tưởng và khắc phục những dục vọng vật chất thấp hèn, giúp linh hồn thoát khỏi
cùm gông của nhà tù thể xác. Dục vọng phải phục tùng trái tim, trái tim phải làm
theo khối óc là điều kiện tiên quyết để sống hạnh phúc… Như vậy theo Platông,
con người không thể tìm thấy hạnh phúc cho riêng mình ở xung quanh mình,
dưới trần gian, con người chỉ có thể đạt được hạnh phúc trong thế giới ý niệm, ở
trên trời, sau khi chết. Quan niệm về đạo đức đầy tính chất duy tâm thần bí của
Platông là cơ sở cho nền đạo đức Thiên chúa giáo sau này.
- Quan điểm về chính trị - xã hội: Toàn bộ những tư tưởng về chính trị xã
hội của Platông được gói gọn trong mô hình “Quốc gia lý tưởng” mà ông đã dày
công gày dựng suốt cả cuộc đời. Trong quốc gia lý tưởng đó, mọi người được
trực giác của mình để giải thích thế giới. Mặt khác, phái ngụy biện còn cho rằng
"tồn tại không tồn tại". Nếu có cái gì thực sự tồn tại chăng nữa thì cũng không
thể dùng ngôn ngữ để diễn tả được, vì ngôn ngữ không đủ để diễn tả tư tưởng.
Từ đó, kết luận chân lý là không có.
Và dĩ nhiên là thuyết tương đối, thái độ hoài nghi và chủ nghĩa cá nhân của
trường phái ngụy biện đã làm dấy lên một làn sóng phản đối đương thời. Một số
người Hy Lạp bảo thủ còn cho rằng điều đó dường như dẫn đến tình trạng vô
chính phủ và vô thần. Nếu chân lý và những điều tốt hay công lý chỉ mang tính
tương đối với ý nghĩ chợt nảy ra trong tâm trí của một con người thì tôn giáo,
những nền tảng đạo đức, nhà nước hay xã hội đều không thể duy trì được lâu dài.
Kết quả của sự thú nhận đó là sự ra đời và phát triển của phong trào triết học mới
mà những người đứng đầu là Xôcrát, Platông [6, tr.61]. Chủ nghĩa duy tâm khách
quan của hai ông cho rằng chân lý và ý niệm tuyệt đối là thực sự tồn tại, đồng
thời nâng sự lý giải vấn đề đạo đức – chính trị lên trình độ khái niệm, chứng
minh tính chất khách quan của đức hạnh, chính trị, pháp quyền để đối lập với chủ
nghĩa tương đối của trường phái ngụy biện.
b/ Đạo đức lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đề cập và đặt nền tảng
vững chắc:
Xuất phát từ việc thừa nhận tri thức khách quan, Xôcrát đi đến khẳng định
tính khách quan của các chuẩn mực đạo đức. Ông cho rằng đức hạnh là cái thiện,
SVTH: NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH 10 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5
GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
là sự am hiểu bản ngã-“cái tôi” chân chính. Chỉ có người nào biết đức hạnh là gì
mới thực sự được hạnh phúc. Cái ác và bất hạnh là kết quả của sự không hiểu
biết cái thiện. Con đường đi đến tri thức cũng chính là con đường hoàn thiện
nhân cách đạo đức của con người, con đường hướng con người tới cái thiện và
hạnh phúc.
Như vậy, nhận thức chân lý, tri thức là nền tảng đạo đức học của ông. Công
lao của ông là đã bước đầu nhận thấy mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong
hoạt động đạo đức của con người. Sự đóng góp của Xôcrát đã làm nên một bước
những tư tưởng có ảnh hưởng nhất trong lịch sử văn minh phương Tây. Suốt hơn
hai ngàn năm qua, trong các đối thoại muôn hình, muôn vẻ, Platông chạm tới hầu
hết các vấn đề mà những nhà triết học đi sau ông quan tâm, đặc biệt là những nhà
triết học theo chủ nghĩa duy tâm. Hơn nữa, các tác phẩm đối thoại của Platông đã
được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau và được phổ biến bằng nhiều ấn bản…
d/ Phép biện chứng duy tâm chất phác lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử
triết học của nhân loại:
Xôcrát đóng góp cho triết học một định hướng nhân văn cùng với phương
pháp mới mẻ tiếp cận tri thức, đó là phương pháp truy vấn biện chứng, được biết
đến dưới tên gọi là “phương pháp Xôcrát” hay “phương pháp bác bỏ bằng lôgíc”
(elenchus). Phương pháp này dùng hình thức vấn đáp để khảo sát những lời phát
biểu, bằng cách tra xét định nghĩa, đào sâu khái niệm… ông dẫn dắt người đối
thoại đến với chân lý bằng tư duy lôgíc và khả năng biện luận thuyết phục, có cơ
sở, có chứng cứ. Đó là phép biện chứng của khái niệm hay biện chứng chủ quan.
Ông đã áp dụng phương pháp này chủ yếu cho việc kiểm nghiệm các khái niệm
quan trọng về mặt đạo đức như tốt đẹp – công bằng, cái thiện – cái ác, cái tốt –
cái xấu,…
Thuyết ý niệm và các quan niệm triết học của Platông cũng chứa đựng
nhiều yếu tố biện chứng. Thông qua các khái niệm đối lập và phương pháp đối
SVTH: NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH 12 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5
GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
chiếu những mặt đối lập, ông giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa vận động –
đứng im, hữu hạn – vô hạn, liên tục – gián đoạn, tồn tại – hư vô,…
Các triết gia của triết học cổ điển Đức (cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX)
cũng đã tiếp thu những tư tưởng biện chứng quý báu trong di sản triết học Hy
Lạp, phát triển thêm và xây dựng được phép biện chứng mới như một học thuyết
triết học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trong thế giới. Đó là
phép biện chứng tư duy – một cống hiến vĩ đại cho kho tàng tư tưởng của nhân
loại và là một cội nguồn của triết học Mác.
e/ Chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại là động lực thúc đẩy khoa
Sau cách mạng tháng 10 năm 1917, những nhà lãnh đạo cộng sản ở Nga Xô
cũng đã sống cuộc đời mà Platông đã mô tả. Họ là một thiểu số, cấu kết với nhau
bằng một niềm tin mãnh liệt. Họ sợ sự khai trừ khỏi đảng hơn là sợ cái chết, hoàn
toàn hiến thân cho đảng, chết vì đảng không khác gì các thánh tử đạo. Họ sống
một cuộc đời giản dị đơn sơ trong khi cầm quyền cai trị một nửa diện tích Âu
châu. Nói tóm lại, khi đề ra quan niệm về chính trị - xã hội của mình, Platông
không coi đó là một quan niệm hão huyền và xa rời thực tế.
Hơn nữa, Platông thể hiện tư tưởng tiến bộ trong vấn đề nam nữ bình
quyền. Theo Platông, không có sự phân chia nam nữ nhất là trong giáo dục. Con
gái cũng có cơ hội học tập và vươn lên đỉnh cao chính trị như con trai. “Nếu một
người đàn bà tỏ ra có khả năng trong lãnh vực chính trị, hãy để cho bà ta làm
chính trị. Nếu một người đàn ông có khả năng rửa chén, hãy để cho ông ta rửa
chén.” [16]
2.2. Những hạn chế của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại:
Bên cạnh những giá trị đạt được thì chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng
còn một số hạn chế như sau:
a/ Thuyết ý niệm mang đầy màu sắc duy tâm và thần bí:
Theo Arixtốt, về mặt bản thể luận, việc Platông chia thế giới ra thành thế
giới ý niệm và thế giới sự vật là thiếu cơ sở và đầy mâu thuẫn. Bởi vì ý niệm là
SVTH: NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH 14 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5
GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
cái tồn tại bên ngoài và độc lập với sự vật thì không thể làm bản chất cho sự vật
được. Hơn nữa, ý niệm là cái trừu tượng, phi cảm tính thì không thể làm khuôn
mẫu cho sự vật cảm tính được. Còn về mặt nhận thức luận, việc Platông coi ý
niệm là cái có trước và độc lập so với sự vật thì ý niệm (khái niệm) cũng không
thể được dùng để nhận thức sự vật được. Đối với Platông , tri thức bị giới hạn bởi
thế giới của hình thái, trong khi thế giới được biết đến bởi các giác quan, chân lý
thì được gỡ ra khỏi các sự vật đặc thù. Ngược lại, Arixtốt cho rằng bản chất phải
nằm ngay trong bản thân sự vật và phải được nhận thức của con người khái quát
thành cái chung dưới dạng khái niệm, quy luật, phạm trù. Khái niệm, quy luật,
Ông đã phạm sai lầm trầm trọng khi ông đã quá xem thường những giai cấp
dưới trong việc phân chia giai cấp. Ông đã quá lí tưởng vấn đề trật tự mà quên đi
rằng con người rất cần và rất quan trọng vấn đề tự do vì họ không phải là những
con robot để có thể đặt định như thế nào cũng được. Thật ra những giai cấp dưới
không phải là không biết làm chính trị, chỉ tại bởi lằn ranh giai cấp đã bó buộc và
ngăn cản bước tiến của họ. Nếu có điều kiện họ cũng sẽ làm chính trị rất giỏi và
rất xuất sắc. Vì thế, việc phân chia giai cấp của ông “không khác gì nhà côn trùng
phân loại các côn trùng. Ông còn tạo ra các huyền thoại để biết dân chúng tin
tưởng vào sự phân loại ấy”. Do vậy, Will Durant mới nhận xét “Quốc gia của
Platông là một quốc gia thủ cựu, thuật chính trị của Platông thiếu sự tế nhị mềm
dẻo, nó đề cao trật tự mà không đề cao sự tự do, nó thích cái đẹp nhưng không
biết nuôi dưỡng nghệ sĩ” [16].
Có thể nói quan điểm về chính trị - xã hội của Platông chứa đầy tính bảo
thủ và mâu thuẫn. Bởi vì, ông vừa đòi hỏi phải xóa bỏ tư hữu vừa bảo vệ cho
bằng được chế độ đẳng cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội; vừa kêu gọi phải
xây dựng cho bằng được nhà nước cộng hòa lý tưởng, lại vừa ra sức bảo vệ cho
bằng được lợi ích và địa vị của tầng lớp chủ nô quý tộc chống lại nhà nước dân
chủ Aten [2, tr.109]. Nhà nước mà ông coi là lý tưởng, thực chất chỉ là sự biện hộ
cho giai cấp chủ nô quý tộc. Đúng như nhận xét của Mác, nó chỉ là lý tưởng hóa
chế độ đẳng cấp của Aicập vào Aten mà thôi.
SVTH: NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH 16 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5
GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
KẾT LUẬN
Triết học Hy Lạp cổ đại như là những viên gạch đầu tiên xây nên toàn bộ
ngôi nhà văn minh của Châu Âu ngày nay. Đến nay, những gì mà triết học Hy
Lạp cổ đại mang đến cho nhân loại vẫn còn giữ nguyên giá trị.
Xôcrát và Platông là hai đại diện tiêu biểu của hệ thống triết học duy tâm
Hy Lạp cổ đại. Triết học của Xôcrát có đóng góp quan trọng vào việc tạo ra bước
tiến mới trong sự phát triển triết học Hy Lạp cổ đại. Nếu các nhà triết học trước
Xôcrat chủ yếu bàn về vấn đề khởi nguyên của thế giới, về nhận thức luận thì
4. Đỗ Minh Hợp và nhiều tác giả, Đại cương Lịch sử Triết học Phương Tây,
NXB Tổng hợp, 2006.
5. Đinh Ngọc Thạch, Lịch sử triết học phương Tây (dùng cho học viên cao học
không thuộc chuyên ngành triết học của trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh), 2010.
6. Edward McNall Burns, Văn minh phương Tây - Lịch sử và văn hóa, NXB Từ
điển bách khoa, 2010.
7. Hà Thiên Sơn, Lịch sử Triết học, NXB Trẻ, 2004.
8. Hà Thúc Minh, Triết học cổ Hy lạp La mã, NXB Mũi Cà Mau, 1997.
9. Jostein Gaarder, Thế giới của Sôphie, Trần Minh Châu biên dịch, Nxb Văn
hóa thông tin, Hà Nội, 1988.
10. Lê Tôn Nghiêm, Lịch sử triết học Tây phương, NXB Thành phố Hồ Chí
Minh, 2001
11. Nguyễn Ước, Đại cương triết học Tây Phương, NXN Tri Thức, 2009.
12. Nhiều tác giả, “Almanach Những nền văn minh Thế giới, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội, 1998.
13. Norman F.Cantor, Nền văn minh thế giới cổ đại, Kiến Văn và Khắc Vinh
biên dịch, NXB Lao Động Xã Hội, 2008.
SVTH: NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH 18 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5
GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
14. Tô Mộng Vi, Tìm lại nền văn minh Hy Lạp cổ đại, Nguyễn Kim Dân biên
dịch, NXB Lao động, 2010.
15. Vũ Dương Minh chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới cổ đại, NXB Giáo Dục
Việt Nam, 2011.
16. Will Durant, Câu chuyện triết học, Trí Hải và Bửu Đích biên dịch, NXB
Văn hóa thông tin, 2008.
Một số trang web khác:
17. Phan Thị Cam, Cuộc đời và nội dung Triết học của Platon Platông,
http://sites.google.com/site/philosophiahv/ky-yeu-hoi-thao-triet-hoc-2011/cuoc-
dhoi-va-noi-dung-triet-hoc-cua-platon.