CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài nhóm 6:
Chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại
và những giá trị, hạn chế của nó

Sinh viên thực hiện : Dương Hoàng Hiệp
STT : 55
Lớp : Đêm 5 – Khóa 21
Giáo viên hướng dẫn: TS. Bùi Văn Mưa
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
TP. Hồ Chí Minh, 2012
SVTH :DƯƠNG HOÀNG HIỆP 2 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5

CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 6
SỐ
THỜI
GIAN
ĐỊA
ĐIỂM
NGƯỜI
VẮNG
NỘI DUNG THỐNG NHẤT
1 18h00
11/01/11
(thứ Tư)
Lớp học Nguyễn
Đức
Hồng

: mạng Việt Nam http://go.vn/diendan
/forum.php; diễn đàn sinh viên đại học
Lao động – Xã hội http://sinhvienulsa.
info/showthread.php?t=216;…
- Mỗi thành viên phải bổ sung thêm nhà
xuất bản, năm xuất bản cho tài liệu đem
vào họp nhóm như “Câu chuyện triết
học của Will Durant”,…và tên tác giả
SVTH :DƯƠNG HỒNG HIỆP 1 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5

CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
trong trang web như “Kỷ yếu hội thảo
triết học 2011”,…
3 18h00
01/02/12
(thứ Tư)
Lớp học - Phân chia công việc cụ thể cho từng
thành viên, tránh tình trạng phân bì
công sức và mất đoàn kết trong nhóm:
+ Nguyễn Ngọc Hiếu & Nguyễn Đức
Hoàng : điều kiện lịch sử ra đời, phát
triển và các đặc điểm cơ bản.
+ Dương Quang Hiếu & Nguyễn Đức
Sĩ Hoàng : những tư tưởng cơ bản.
+ Dương Hoàng Hiệp : giá trị “phản
bác trường phái ngụy biện” và “tạo
nền tảng cho trường phái triết học
duy tâm sau này”.
+ Nguyễn Thị Mỹ Hạnh : giá trị “là
động lực thúc đẩy khoa học phát

số thành viên gặp khó khăn trong việc
tìm tài liệu về phần được giao phó.
5 18h00
21/02/12
(thứ Ba)
Hội quán
Kinh tế -
số 36,
Trần Cao
Vân,
quận 3
- Do có một số ý trùng lặp trong bài
làm, nhóm 6 cùng thống nhất loại bỏ
các ý như giá trị “về mỹ học”, hạn chế
“còn rời rạc, chưa được hệ thống hóa”.
- Sau quá trình tìm hiểu sâu sắc về đề
tài, để tôn trọng ý kiến cá nhân, mỗi
thành viên có thể loại bỏ hoặc sáng tạo
thêm những ý kiến khác vào tiểu luận.
- Thống nhất ngày gửi bài in và file
mềm cho nhóm trưởng là 24/02/2012.
Các thành viên đã nộp bài và thống nhất những ý kiến trên :
51. Bùi Thúy Hằng
52. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
53. Phạm Thị Ngọc Hạnh
54. Lư Kỳ Hảo
55. Dương Hoàng Hiệp (trưởng nhóm)
56. Nguyễn Ngọc Hiếu
57. Dương Quang Hiếu
58. Trần Thị Hoa


CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
MÔÛ ÑAÀU
Trong lịch sử văn minh thế giới, văn minh Hy Lạp với phong thái đặc sắc và
thành tựu tuyệt vời của mình đã tạo nên một ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với
phương Tây nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung. Hy Lạp cổ đại chính là cái
nôi của nền văn minh phương Tây. Và yếu tố gây nên ảnh hưởng sâu sắc nhất đối
với nền văn minh phương Tây có lẽ chính là bộ môn khoa học liên quan đến tâm
linh nhân loại – đó là triết học. Lịch sử Hy Lạp cổ đại có rất nhiều trường phái
triết học đua nhau phát triển. Trong đó, những triết gia vĩ đại như Xôcrát [Socrate
(469 – 399 TCN)], Platông [Platon (427 – 347 TCN)] đã để lại cho hậu thế
những tư tưởng bất hủ về chủ nghĩa duy tâm khách quan của mình. Họ chính là
những người góp phần đưa nền triết học thế giới từ giai đoạn cổ điển phát triển
thành chủ nghĩa duy vật khoa học hiện đại.
Chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề con người
nhưng lại dựa hẳn vào một thế lực hoàn toàn đối lập với thế giới tự nhiên, đó là
“ý niệm tuyệt đối”. Việc này rõ ràng là rất kỳ lạ và hấp dẫn. Thông qua việc tiến
hành nghiên cứu, tham khảo những quyển sách như : 1) Bùi Văn Mưa chủ biên,
Triết học – Phần 1 – Đại cương về lịch sử triết học (tài liệu dùng cho học viên
cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học của trường Đại
học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh), 2011; 2) Tô Mộng Vi, Tìm lại nền văn
minh Hy Lạp cổ đại, Nguyễn Kim Dân biên dịch, NXB Lao động, 2010; 3) Will
Durant, Câu chuyện triết học, Trí Hải và Bửu Đích biên dịch, NXB Văn hóa
thông tin, 2008; cùng một số trang web, tài liệu khác, tiểu luận này hy vọng
giải đáp phần nào những thắc mắc của đọc giả về những tư tưởng cơ bản, giá trị
và hạn chế của trường phái triết học này.
Tuy nhiên, với tính chất là một tiểu luận cùng với lượng tài liệu tham khảo
quá ít ỏi, tiểu luận này chắc chắn không thể trình bày một cách đầy đủ và chi tiết
như đọc giả mong đợi. Rất mong quý đọc giả thông cảm và tham khảo tài liệu
này cho những nghiên cứu, khảo sát tỉ mỉ về sau. Xin chân thành cảm ơn!


CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
1. Xôcrát :
Xôcrát xuất thân trong một gia đình khá giả ở Aten. Ông không viết một tác
phẩm nào, chúng ta biết về ông chủ yếu qua các tác phẩm của Platông và Arixtốt
[Aristotle (384 – 322 TCN)]. Ông là nhà triết học “đối thoại” vì đối với ông, chỉ
có văn nói mới sống động, còn những gì người ta viết ra thì đã bị khô cứng.
Khác với các triết gia khác, ông không chủ trương nghiên cứu các hiện
tượng tự nhiên vì theo ông, chúng đã được thần thánh an bài, con người không có
khả năng khám phá được sự sáng tạo ra giới tự nhiên của thần thánh và cũng
không thể cải đổi được giới tự nhiên theo ý mình. Dành phần lớn vào việc nghiên
cứu về con người, về đạo đức, về nhân sinh quan, Xôcrát cho rằng triết học
không có gì khác hơn là sự nhận thức của con người về chính bản thân mình.
Xôcrát tìm cách khám phá ra các chân lý chung cho con người trong các
cuộc đàm thoại. Theo ông, để có đàm thoại được, những người tham gia cuộc
đàm thoại phải có “ngôn ngữ chung” nhất định. Ngôn ngữ đó mang tính khách
quan và nhờ đó, con người mới khám phá ra chân lý một cách đích thực mà ai
cũng phải thừa nhận. Theo ông, ngoài yếu tố chủ quan, ý thức của con người
trong cuộc đàm thoại còn có một nội dung khách quan, có tri thức phổ biến mang
tính tổng quát. Đó là tri thức chung mà mỗi con người chúng ta có được bằng nỗ
lực của mình. Xôcrát cho rằng tri thức chung đó là chân lý khách quan thu được
trong các cuộc đàm thoại mà ai cũng phải thừa nhận nên ý kiến chủ quan của mỗi
người không phải là tiêu chuẩn của chân lý. Theo ông, khám phá ra chân lý đích
thực về bản chất sự vật tức là phải hiểu nó có khái niệm, nếu không có khái niệm
xem như không có tri thức. Đây là một vấn đề được lý luận rõ ràng và có logic dễ
thuyết phục.
Đạo đức học của Xôcrát mang tính chất duy lý, ông thừa nhận đạo đức và
tri thức thống nhất làm một. Xôcrát cho rằng hiểu biết là cơ sở của điều thiện,
ngu dốt là cội nguồn của cái ác; và chỉ có cái thiện phổ biến mới là cơ sở của đạo
đức, mới là tiêu chuẩn của đạo đức; ai tuân theo cái thiện phổ biến thì người đó

thoại”, “Bữa tiệc”, “Chế độ cộng hòa”, Luật pháp”,…
SVTH :DƯƠNG HOÀNG HIỆP 4 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5

CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Platông chịu ảnh hưởng bởi ba nguồn gốc tư tưởng: tư tưởng của Xôcrát về
cái phổ biến, cái chung làm cơ sở cho đạo đức; học thuyết của Pácmênít
[Parmenide (500 – 449 TCN)], trường phái Êlê, về sự tồn tại duy nhất, bất biến;
tư tưởng của Pytago [Pythagore (571 – 497 TCN)] về những con số được xem là
bản chất chân thật của sự vật. Dựa vào ba nguồn gốc trên, trong đó chủ yếu vẫn
là tư tưởng của Xôcrát, Platông đã xây dựng nên chủ nghĩa duy tâm khách quan
lần đầu tiên trong lịch sử triết học Hy Lạp đạt đến sự hoàn chỉnh, nhất quán và
triệt để.
* Thuyết ý niệm:
Đây chính là hạt nhân trong tư tưởng triết học của Platông. Ông đã chia thế
giới ra thành thế giới ý niệm và thế giới sự vật. Thế giới ý niệm là lý tính, tồn tại
trên trời, mang tính phổ biến, chân thực, tuyệt đối, bất biến, vĩnh hằng và duy
nhất. Thế giới sự vật là cảm tính, tồn tại dưới đất, mang tính cá biệt, ảo giả,
tương đối, khả biến, thoáng qua và đa tạp. Ông coi ý niệm là cái sản sinh, có
trước, là nguyên nhân, bản chất và khuôn mẫu của sự vật; coi sự vật là cái được
sản sinh, có sau và là cái bóng được mô phỏng, sao chép lại từ ý niệm; đồng thời,
bất cứ sự vật nào cũng xuất hiện từ ý niệm và có quan hệ ràng buộc với ý niệm.
Bằng thuyết ý niệm, Platông đã lý giải sự sinh thành thế giới sự vật, con
người và hoạt động của linh hồn. Theo ông, sự sinh thành thế giới sự vật xảy ra
gắn liền với bốn yếu tố cơ bản là tồn tại (ý niệm), không tồn tại (vật chất), con số
(tỷ lệ) và sự vật cảm tính. Chính sự tồn tại của ý niệm thông qua quan hệ tỷ lệ
của các con số tác động vào sự không tồn tại của vật chất sinh ra sự vật cảm tính.
* Quan niệm về con người và linh hồn:
Platông cho rằng con người là sự kết hợp của thể xác khả tử (được cấu
thành từ đất, nước, lửa, không khí và là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn) với
linh hồn bất tử. Linh hồn của con người là sản phẩm của linh hồn vũ trụ được

chiêm nghiệm những ý tưởng và khắc phục những dục vọng vật chất thấp hèn,
giúp linh hồn thoát khỏi gông cùm của nhà tù thể xác. Dục vọng phải phục tùng
trái tim, trái tim phải làm theo khối óc là điều kiện tiên quyết để sống hạnh phúc.
Như vậy, theo Platông, con người không thể tìm thấy hạnh phúc cho riêng mình
ở quanh mình, dưới trần gian và con người chỉ có thể đạt được hạnh phúc trong
SVTH :DƯƠNG HOÀNG HIỆP 6 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5

CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
thế giới ý niệm, ở trên trời, sau khi chết. Quan niệm về đạo đức đầy tính chất duy
tâm thần bí của Platông là cơ sở cho nền đạo đức Thiên chúa giao sau này.
* Quan niệm về chính trị - xã hội:
Platông rất căm ghét chế độ dân chủ. Ông cho rằng ở Aten, "bình dân được
tự do quá trớn", thậm chí chó ngựa lừa cũng muốn làm gì thì làm không theo sự
chỉ huy của chủ [6, trang 246]. Ở Aten, dân tự do và nô lệ, công dân và ngoại
kiều, thầy giáo và học trò, người nhiều tuổi và ít tuổi đều không phân biệt. Hơn
nữa lúc bấy giờ, đạo đức tốt đẹp không được đề cao, chủ nghĩa lợi kỷ thịnh hành
và sự phân hóa giàu nghèo càng trầm trọng. Vì vậy, Platông nêu ra một mẫu hình
nhà nước lý tưởng để làm thay đổi tình hình ấy.
Trong tác phẩm "Chế độ cộng hòa", ông nêu ra rằng nhà nước lý tưởng do
ba tầng lớp họp thành. Thứ nhất, các nhà hiền triết là tầng lớp cầm quyền lãnh
đạo. Tầng lớp này không nên có tài sản riêng, cũng không nên có gia đình vì dễ
nảy sinh lòng tham lam vị kỷ. Những nhà hiền triết cầm quyền nên sống tập thể,
như vậy có thể tránh được sự lo lắng về cuộc sống. Tầng lớp thứ hai là các chiến
sĩ. Tầng lớp này có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Họ cũng không nên có gia đình và
tài sản. Tầng lớp thứ ba là số công dân, còn lại tức là nông dân, thợ thủ công, lái
buôn Tầng lớp này có nhiệm vụ cung cấp của cải cho nhà nước và cung phụng
hai tầng lớp trên. Họ có thể có gia đình và tài sản riêng, nhưng các nghề nghiệp
đều do nhà nước quản lý.
Con cái của mọi người cũng thuộc về nhà nước. Cha mẹ không biết con cái,
con cái cũng không biết cha mẹ. Những đứa trẻ sơ sinh nếu yếu đuối thì giết đi,

vào trực giác của mình để giải thích thế giới. Một đại biểu khác là Giorơgiát
(487-380 TCN), cho rằng "tồn tại khơng tồn tại". Nếu có cái gì thực sự tồn tại
chăng nữa thì cũng khơng thể dùng ngơn ngữ để diễn tả được, vì ngơn ngữ khơng
đủ để diễn tả tư tưởng. Từ đó ơng kết luận chân lý là khơng có [6, trang 244].
Và dĩ nhiên là thuyết tương đối, thái độ hồi nghi và chủ nghĩa cá nhân của
trường phái ngụy biện đã làm dấy lên 1 làn sóng phản đối đương thời. Một số
người Hy Lạp bảo thủ còn cho rằng điều đó dường như dẫn đến tình trạng vơ
chính phủ và vơ thần. Nếu chân lý và những điều tốt hay cơng lý chỉ mang tính
tương đối với ý nghĩ chợt nảy ra trong tâm trí của một con người thì tơn giáo,
những nền tảng đạo đức, nhà nước hay xã hội đều khơng thể duy trì được lâu dài.
Kết quả của sự thú nhận đó là sự ra đời và phát triển của phong trào triết học mới
SVTH :DƯƠNG HỒNG HIỆP 9 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5

CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
mà những người đứng đầu là Xôcrát, Platông [3, trang 161]. Chủ nghĩa duy tâm
khách quan của hai ông cho rằng chân lý và ý niệm tuyệt đối là thực sự tồn tại,
đồng thời nâng sự lý giải vấn đề đạo đức – chính trị lên trình độ khái niệm,
chứng minh tính chất khách quan của đức hạnh, chính trị, pháp quyền để đối lập
với chủ nghĩa tương đối của trường phái ngụy biện.
2. Đạo đức lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đề cập và đặt nền
tảng vững chắc:
Bắt đầu từ Xôcrát, đề tài con người trở thành một trong những vấn đề trọng
tâm nghiên cứu của triết học Hy Lạp. Luận điểm nổi tiếng “hãy nhận thức chính
mình” có ý nghĩa xây dựng nên những khái niệm về chuẩn mực đạo đức chung
của con người. Đạo đức đòi hỏi biết ý thức về cái thiện và đức hạnh nói chung.
Nó phải trở thành khoa học về sự hoàn thiện phẩm chất con người.
Xuất phát từ việc thừa nhận tri thức khách quan, Xôcrát đi đến khẳng định
tính khách quan của các chuẩn mực đạo đức. Khác với các nhà ngụy biện, ông
coi cái thiện và cái ác là hoàn toàn khác biệt nhau, cũng như không đồng nhất
hạnh phúc với cái lợi, mà coi hạnh phúc là đức hạnh. Chỉ có người nào biết đức

luận vững chắc về sự vận động và phát triển. Khi nhận định về phép biện chứng
chất phác trong nền triết học cổ đại Hy Lạp, Ph. Ăngghen đã viết “Những nhà
triết học Hy Lạp đều là những nhà biện chứng bẩm sinh” [1, trang 43]. Với
Xôcrát, một đóng góp quan trọng cho tư tưởng phương Tây là phương pháp truy
vấn biện chứng, được biết đến dưới tên gọi là “phương pháp Xôcrát” hay
“phương pháp bác bỏ bằng lôgíc” (elenchus). Ông đã áp dụng phương pháp này
chủ yếu cho việc kiểm nghiệm các khái niệm quan trọng về mặt đạo đức như tốt
đẹp – công bằng, cái thiện – cái ác, cái tốt – cái xấu,…Để giải quyết một vấn đề,
ông dẫn dắt người đối thoại đến với chân lý bằng tư duy lôgíc và khả năng biện
luận thuyết phục, có cơ sở, có chứng cứ. Đó là phép biện chứng của khái niệm
hay biện chứng chủ quan.
SVTH :DƯƠNG HOÀNG HIỆP 11 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5

CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Thuyết ý niệm và các quan niệm triết học của Platông cũng chứa đựng
nhiều yếu tố biện chứng. Thông qua các khái niệm đối lập và phương pháp đối
chiếu những mặt đối lập, ông giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa vận động –
đứng im, hữu hạn – vô hạn, liên tục – gián đoạn, tồn tại – hư vô,…[2, trang 23].
Sau này, các triết gia của triết học cổ điển Đức (cuối thế kỷ XVIII – đầu thế
kỷ XIX) cũng đã tiếp thu những tư tưởng biện chứng quý báu trong di sản triết
học Hy Lạp, phát triển thêm và xây dựng nên phép biện chứng mới như một học
thuyết triết học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trong thế giới.
Đó là phép biện chứng tư duy – một cống hiến vĩ đại cho kho tàng tư tưởng của
nhân loại và là một cội nguồn của triết học Mác.
5. Tạo động lực thúc đẩy khoa học của nhân loại phát triển:
Chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại đã có ảnh hưởng vô cùng sâu
sắc đến nền triết học nói riêng và sự phát triển tổng thể văn hóa Châu Âu nói
chung. Đặc biệt là nhận thức luận, triết học toán học và tư tưởng giáo dục toán
học của ông, dưới điều kiện xã hội Hy lạp đương thời, đã có một tác dụng thúc
đẩy mạnh mẽ đối với sự hình thành của khoa học và sự phát triển của toán học.

một nửa diện tích Âu châu. Nói tóm lại, khi đề ra quan niệm về chính trị - xã hội
của mình, Platông không coi đó là một quan niệm hão huyền và xa rời thực tế [7,
trang 20].
II. NHỮNG HẠN CHẾ:
Những giá trị bất hủ kể trên đã chứng tỏ Xôcrát và Platông là những nhà triết
học vĩ đại. Khi sáng tạo nên những tư tưởng của mình, hai ông cũng chỉ nhằm
mong muốn con người sống tốt hơn, sống hạnh phúc hơn và hướng đến một quốc
gia có trật tự và “lý tưởng”. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ
đại đã ra đời cách đây hàng ngàn năm lịch sử. Liệu nó có còn phù hợp với thời
đại ngày nay? Sau đây, chúng ta hãy cùng điểm qua những mặt hạn chế của nó :
1. Mang đầy màu sắc duy tâm và thần bí:
SVTH :DƯƠNG HOÀNG HIỆP 13 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5

CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Theo Arixtốt, về mặt bản thể luận, việc Platông chia thế giới ra thành thế
giới ý niệm và thế giới sự vật là thiếu cơ sở và đầy mâu thuẫn. Bởi vì ý niệm là
cái tồn tại bên ngoài và độc lập với sự vật thì không thể làm bản chất cho sự vật
được. Hơn nữa, ý niệm là cái trừu tượng, phi cảm tính thì không thể làm khuôn
mẫu cho sự vật cảm tính được. Còn về mặt nhận thức luận, việc Platông coi ý
niệm là cái có trước và độc lập so với sự vật thì ý niệm (khái niệm) cũng không
thể được dùng để nhận thức sự vật được. Arixtốt cho rằng bản chất phải nằm
ngay trong bản thân sự vật và phải được nhận thức của con người khái quát thành
cái chung dưới dạng khái niệm, quy luật, phạm trù. Do đó, khái niệm, quy luật,
phạm trù không phải là cái có trước, sinh ra và quyết định sự tồn tại của sự vật.
Tóm lại, chủ nghĩa duy tâm khách quan đã duy tâm khi cho rằng “ý niệm”,
“tinh thần thế giới” là cái có trước, sản sinh ra thế giới tự nhiên và thần bí ở chỗ
không giải thích được “ý niệm” ấy đã sản sinh ra thế giới tự nhiên bằng cách nào.
2. Quan niệm về đạo đức duy lý còn nhiều hạn chế:
Xôcrát đã cho rằng đạo đức và tri thức thông nhất làm một, người nào thông
hiểu được cái thiện phổ biến thì mới có đạo đức. Còn Platông coi hạnh phúc của

thì cũng không thoát khỏi sự lệ thuộc vào giai cấp sản xuất đã nuôi dưỡng họ.
Cuối cùng, với quan niệm cần phải xóa bỏ sở hữu tư nhân, phải xây dựng
chế độ sở hữu công xã với tài sản chung, cha mẹ con cái chung,…tuy với một lý
tưởng tốt nhưng thật sự, Platông đã cũng ngấm ngầm phá vỡ nền móng xã hội lý
tưởng mà ông sắp xây cất. Platông khinh thường sức mạnh của tập tục đã được
xây dựng lâu đời như phong tục độc thê và không tiên liệu được tánh ghen tuông
tự nhiên của đàn ông, tình mẫu tử của đàn bà. Do đó, một khi đời sống gia đình
bị phá vỡ thì những điều kiện cho một nếp sống đạo đức cũng tan biến. Ngoài ra,
chế độ cộng sản cũng sẽ làm cho tinh thần trách nhiệm bị lu mờ, khi tất cả của
cải đều thuộc quyền sở hữu của tất cả mọi người thì sẽ không còn ai lo giữ gìn
của cải ấy nữa. Nó buộc dân chúng sống cuộc đời tập thể nghĩa là giết chết sự
độc đáo cá nhân và sự tự do của đời tư [7, trang 20]. Mặc khác, chế độ cộng sản
này lại mâu thuẫn với chính chế độ đẳng cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội
SVTH :DƯƠNG HOÀNG HIỆP 15 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5

CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
như đã nêu ở trên. Ông vừa kêu gọi phải xây dựng cho bằng được nhà nước cộng
hòa lý tưởng nhưng lại vừa ra sức bảo vệ cho bằng được lợi ích và địa vị của tầng
lớp chủ nô quý tộc, chống lại nhà nước dân chủ Aten.
SVTH :DƯƠNG HOÀNG HIỆP 16 LỚP CAO HỌC: K21-ĐÊM 5

CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
KEÁT LUAÄN
Là một hình thức của chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy tâm khách quan
Hy Lạp cổ đại cũng được khai sinh và góp phần vào cuộc đấu tranh không khoan
nhượng với chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học. Nó cho rằng ý thức, tinh
thần là cái có trước và quyết định giới tự nhiên. Nhưng ý thức, tinh thần đó
không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc
lập với con người, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Nói đến chủ nghĩa duy tâm, người ta thường cho rằng nguồn gốc xã hội của

hi v Nhõn vn i hc Quc gia thnh ph H Chớ Minh), 2010.
[3] : Edward McNall Burns, Vn minh phng Tõy - Lch s v vn húa,
NXB T in bỏch khoa, 2010.
[4] : Norman F.Cantor, Nn vn minh th gii c i, Kin Vn v Khc
Vinh biờn dch, NXB Lao ng Xó Hi, 2008.
[5] : Tụ Mng Vi, Tỡm li nn vn minh Hy Lp c i, Nguyn Kim Dõn
biờn dch, NXB Lao ng, 2010.
[6] : V Dng Minh ch biờn, Lch s vn minh th gii c i, NXB
Giỏo Dc Vit Nam, 2011.
[7] : Will Durant, Cõu chuyn trit hc, Trớ Hi v Bu ớch biờn dch,
NXB Vn húa thụng tin, 2008.
* Trang web tham kho:
[8] : Wikipedia
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch_ngha_duy_tõm_khỏch_quan
[9] : Phan Th Cam , Cuc i v ni dung trit hc ca Platon ,
http://sites.google.com/site/philosophiahv/ky-yeu-hoi-thao-triet-hoc-2011/cuoc-
dhoi-va-noi-dung-triet-hoc-cua-platon .
SVTH :DNG HONG HIP LP CAO HC: K21-ấM 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status