- - - - - - Đề tài triết học QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC
QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ
LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
NGUYỄN QUANG HƯNG(*)
Trong bài viết này, sau khi trình bày một cách khái quát quan niệm của các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về lịch sử triết học, những đánh giá, nhận xét
của các ông về một số nhà triết học tiền bối, tác giả đã đưa ra nhận xét của
mình về quan niệm này của các ông. Theo tác giả, mặc dù bàn tới lịch sử triết
học ở nhiều tác phẩm, song các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin không
của ông về chủ nghĩa duy vật và về phép biện chứng. Những giai đoạn triết học
trước đó, tuy có được ông đôi khi nhắc tới, bình luận, nhưng không hệ thống.
Trong số các nhà kinh điển, có lẽ Ph.Ăngghen để lại những nhận xét về lịch sử
triết học có hệ thống hơn cả. Ông nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của lịch
sử triết học đối với sự phát triển của tư duy lý luận, đồng thời có điều kiện quan
tâm tới những vấn đề cụ thể của lịch sử triết học. Theo Ph.Ăngghen, “tư duy lý
luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi.
Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho
tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời
trước“(2). Cũng ở đây, Ph.Ăngghen nhấn mạnh, “tư duy lý luận của mỗi một
thời đại, cũng có nghĩa là cả thời đại chúng ta, là một sản phẩm lịch sử mang
những hình thức rất khác nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một
nội dung rất khác nhau. Thế cho nên cũng như bất kỳ khoa học nào khác, khoa
học về tư duy là một khoa học lịch sử, là khoa học về sự phát triển lịch sử của tư
duy con người“(3).
Nói tới những đóng góp của Ph.Ănghen về lịch sử triết học, không thể không
nhắc tới việc ông chỉ ra vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và
vật chất với tư cách vấn đề cơ bản của triết học, đồng thời chỉ ra hai mặt của vấn
đề này(4). Đây là sự khái quát những thành tựu của Arixtốt, Lépnít, đặc biệt là
của Hêghen về lịch sử triết học và phân chia các nhà triết học thành hai khuynh
hướng duy vật và duy tâm tuỳ thuộc vào việc họ giải quyết vấn đề cơ bản trên.
Hiển nhiên, cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng trên là một trong những nội
dung cơ bản của lịch sử triết học và điều này đặc biệt thể hiện rõ trong lịch sử
triết học phương Tây, từ thời cổ đại tới đầu thế kỷ XX, khi mà triết học có truyền
thống coi trọng và đặt lên vị trí hàng đầu những vấn đề siêu hình học, những vấn
đề bản thể luận và nhận thức luận.
Không có điều kiện nghiên cứu triết học phương Đông như Hêghen, nhưng
nhận xét của Ph.Ăngghen “những nhà Phật giáo nguyên thuỷ là những nhà biện
chứng sơ khai” là vô cùng quan trọng, nó giúp chúng ta định hướng khi nghiên
cứu triết học Phật giáo nói riêng, triết học Ấn Độ nói chung. Không dừng lại ở
siêu hình là phương pháp tư duy “chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”. Triết
học Anh thế kỷ XVII đôi khi được ông nhắc tới. Sau khi cả C.Mác và
Ph.Ăngghen gọi Ph.Bêcơn là “ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh” thì
Ph.Ăngghen, ngay sau đó, lại chỉ ra chính Ph.Bêcơn và G.Lốccơ đã du nhập
phương pháp tư duy siêu hình từ các khoa học tự nhiên vào triết học(9). Cũng như
C.Mác, Ph.Ăngghen phê phán quan niệm của T.Hốpxơ ví xã hội loài người giai
đoạn tự nhiên như một “bellum omnium contra omnes” (cuộc chiến tranh của tất cả
chống lại tất cả), như là tiền đề cho chủ nghĩa Đácuyn xã hội và thuyết Mantuýt sau
này(10).
Đứng về phía C.Mác, nhưng ít nhiều với tư cách “người thứ ba” trong quan hệ
giữa C.Mác và Hêghen, nên việc đánh giá của Ph.Ăngghen về triết học Hêghen
có phần khách quan hơn. Theo ông, “Geothe và Hêghen, mỗi người trong lĩnh
vực của mình, đều là một Dớt trên núi Ôlimpơ Hệ thống Hêghen bao trùm một
lĩnh vực hết sức rộng hơn bất cứ hệ thống nào trước kia, và phát triển, trong lĩnh
vực đó, một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên.
Hiện tượng học tinh thần (mà người ta có thể coi là giống như bào thai học và cổ
sinh vật học tinh thần, là một sự phát triển của ý thức cá nhân qua các giai đoạn
khác nhau của nó, như là sự lặp lại thu gọn của các giai đoạn mà ý thức con người
đã trải qua trong lịch sử), lôgic học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần
Hêghen cố gắng phát hiện ra và chỉ rõ sợi chỉ đỏ của sự phát triển xuyên suốt
ấy”(11).
Tinh thần này chúng ta cũng thấy trong những đánh giá của Ph.Ăngghen đối với
triết học I.Cantơ và các nhà triết học trước đó. Mặc dù phê phán, nhưng chúng
ta ít thấy Ph.Ăngghen dùng những “ngôn từ mạnh” cả khi nhận xét về những
người có quan điểm đối lập với mình, như Đ.Hium, I.Cantơ, v.v Một đôi chỗ,
Ph.Ăngghen còn phê phán Đuyrinh đã giản lược những gì mà I.Cantơ đã trình
bày trong tác phẩm nổi tiếng Phê phán lý tính thuần tuý(12). Phê phán quan
niệm về “vật tự nó”, nhưng Ph.Ăngghen đánh giá cao những phát kiến của nhà
triết học Đức này trong khoa học tự nhiên. “Học thuyết của Cantơ cho rằng tất
cả các thiên thể hiện tại đều sinh ra từ những khối tinh vân đang xoay tròn, là
ta thì Cantơ là người duy vật. Khi ông ta tuyên bố rằng cái vật tự nó ấy là không
thể nhận thức được, là siêu nghiệm, là ở thế giới bên kia thì ông ta là người duy
tâm Trò chơi nước đôi ấy đã khiến cho Cantơ bị công kích kịch liệt bởi những
người duy vật triệt để, cũng như bởi những người duy tâm triệt để“(15). Có lẽ,
trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin chọn
“cái điểm yếu nhất“ của triết học Cantơ để phê phán, chứ không có điều kiện
khảo cứu toàn bộ triết học Cantơ một cách tổng thể. Hơn nữa, do bối cảnh phải
bảo vệ các giá trị của triết học Mác cùng với văn phong riêng của mình, ông
thường dùng nhiều “động từ mạnh“ khi phê phán các quan điểm đối lập. Cho
nên, nếu chỉ căn cứ vào những nhận xét của ông trong tác phẩm này thì rõ ràng
nhận thức của chúng ta về những di sản của Đ.Hium, I.Cantơ và nhiều nhà triết
học khác sẽ thiếu đầy đủ, thậm chí dễ có nhận thức lệch lạc về họ trong một số
vấn đề cụ thể. Đây là điều chúng ta cần đặc biệt lưu ý khi nghiên cứu tác phẩm
này cũng như quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về lịch sử
triết học nói chung.
Quan niệm của V.I.Lênin về lịch sử triết học thể hiện rõ hơn cả trong Bút ký
triết học. Ông đánh giá cao sự phê phán của Arixtốt đối với học thuyết ý niệm
của Platôn, mặc dù cũng chỉ ra sự thiếu triệt để của sự phê phán này. Theo ông,
“đoạn bút chiến chống lại Platôn (ở phần đầu của “Phép siêu hình“) thật là đặc
sắc và vô cùng thú vị“(16). V.I.Lênin không có điều kiện trình bày những điểm
tích cực của triết học Platôn trong kho tàng tư tưởng của nhân loại. Dưới cái vỏ
duy tâm thần bí, Platôn đã phát hiện ra tính độc lập tương đối của tư tưởng nhân
loại, của thế giới tinh thần đối với những điều kiện xã hội sản sinh ra nó. Cái mà
Platôn gọi là “thế giới ý niệm“ cũng như cái mà Hêghen gọi là "tinh thần tuyệt
đối" không là cái gì khác ngoài cái mà sau này, C.Mác đã cải biên theo hướng
duy vậy và gọi là “ý thức xã hội“.
Cũng như C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin nhìn nhận triết học Tây Âu trung
cổ một cách hoàn toàn tiêu cực: “Chủ nghĩa thầy tu đã giết chết cái gì là sinh
động ở Arixtốt và làm thành bất tử cái gì đã chết rồi“(17). Phải chăng, V.I.Lênin
đã không mặn mà với triết học trung cổ chỉ vì nó gắn nhiều với tôn giáo và thần
quyền, đạo đức, v.v Triết học không là cái gì khác ngoài hình thái ý thức xã
hội.
Hai là, mặc dù bàn tới lịch sử triết học ở nhiều tác phẩm, nhưng cả C.Mác,
Ph.Ăngghen và V.I Lênin không trình bày chi tiết toàn bộ quan niệm, học thuyết
của một nhà triết học cụ thể nào. Ngay hệ thống của Hêghen được các ông
nghiên cứu tường tận hơn cả, nhưng các ông cũng chỉ nhận xét, đánh giá về một
số tác phẩm chính, như Hiện tượng học tinh thần, Khoa học logíc, Những
nguyên lý cơ bản của triết học pháp quyền, Những bài giảng về lịch sử triết học.
Nhưng, khi đọc những nhận xét của các nhà kinh điển về Hêghen trong những
tác phẩm này, người đọc cũng vẫn khó nắm bắt được cái mạch tư tưởng của
Hêghen. Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm khác thời trẻ, như Hiện tượng học tinh
thần, Thẩm mỹ học, Đạo đức học, Triết học tôn giáo, v.v. của Hêghen đã không
được các ông trình bày chi tiết, mà chỉ được điểm qua. Nói cách khác, nếu
chúng ta không đọc trực tiếp nguyên tác của Hêghen thì rất khó lĩnh hội được
những nhận xét của các nhà kinh điển về ông. Các nhà kinh điển “không làm
thay” chúng ta trong nghiên cứu Hêghen được. Tiếp đến, triết học Cantơ được
các ông bàn ở nhiều tác phẩm, nhưng chủ yếu cũng là những phê phán trong các
vấn đề nhận thức luận. Ngoài ra, Ph.Ăngghen còn có một số nhận xét về những
cống hiến của I.Cantơ trong lĩnh vực khoa học tự nhiên thời kỳ tiền phê phán.
Một số điểm tích cực trong nhận thức luận của Cantơ, những giá trị nhân đạo
trong đạo đức học, triết học lịch sử, triết học pháp quyền và thẩm mỹ học,
những đóng góp của nhà triết học Đức này trong lĩnh vực quan hệ quốc tế ít
được các ông lưu tâm.
Ba là, các nhà kinh điển không khảo sát quan niệm của các vị tiền bối theo trình
tự niên đại và ít có điều kiện phê phán dưới góc độ sử liệu học. Điều quan trọng
nhất khi nghiên cứu lịch sử triết học là phải dựa vào tác phẩm gốc của các triết
gia để lại. Cả C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều có nghiên cứu trực tiếp các
tác phẩm gốc. Nhưng thực tế việc xác định tác phẩm này hay tác phẩm kia là
của một triết gia cụ thể nào đó nhiều khi không dễ dàng. Chẳng hạn, không ít
các tác phẩm, theo các chuyên gia nghiên cứu, được viết sau Arixtốt, nhưng lại
(1) Những đóng góp của Epiquya đối với kho tàng tư tưởng nhân loại thật đáng
trân trọng, nhưng có lẽ nhận định sau của C.Mác về nhà triết học này có phần
cường điệu: ”Êpiquya là một nhà khai sáng cấp tiến thực sự của thời cổ, ông
công khai công kích tôn giáo thời cổ, và chủ nghĩa vô thần của người La Mã -
trong chừng mực nó tồn tại ở họ - cũng bắt nguồn từ ông". C.Mác và
Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.3. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.186.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr. 487.
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr. 487.
(4) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.21, tr. 403-406.
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.34-35.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.471.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.491.
(8) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.36-37.
(9) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.36.
(10) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.820.
(11) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.21, tr.397. Tuy vậy, một số nhận định của
Ph.Ăngghen, theo chúng tôi, cần có sự trao đổi thêm. Theo Ph.Ăngghen, điểm
yếu nhất của hệ thống Hêghen nằm trong triết học pháp quyền của ông. Ở đó, chủ
nghĩa duy tâm của ông thể hiện rõ nhất và do vậy ít duy vật nhất. Đứng về lập
trường chính trị-tư tưởng, thì nhận định này là có cơ sở. Tuy nhiên, về phương
diện học thuật, điểm yếu nhất của hệ thống Hêghen nằm trong triết học tự nhiên
của ông. Hêghen nói chung có sự am hiểu về khoa học tự nhiên, nhưng khác với
I.Cantơ, không có những khám phá trong lĩnh vực này. Chúng ta có thể gọi ông là
nhà triết học, nhà sử học, nhà luật học, nhà bách khoa toàn thư, nhưng không thể
suy tôn ông là nhà vật lý học hay hoá học.
(12) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.74-75.
(13) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.85-86.
(14) V.I.Lênin, Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr. 238-239.
(15) V.I.Lênin. Sđd.,t.18, tr.238-239.
(16) V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.390.