nghiên cứu đặc điểm tái sinh dưới tán rừng trồng tại xã thanh tương, huyện na hang, tỉnh tuyên quang - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
MA A SIM
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH DƢỚI TÁN RỪNG
TRỒNG TẠI XÃ THANH TƢƠNG, HUYỆN NA HANG,
TỈNH TUYÊN QUANG LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này do tôi thực hiện
dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Lê Đồng Tấn. Các tài liệu tham khảo
dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời
gian, địa điểm công bố. Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là
hoàn toàn trung thực. Nếu sai tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm. XÁC NHẬN
CỦA KHOA CHUYÊN MÔN

Thái Nguyên, ngày 19 tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn

Ma A Sim


hiện luận văn.
Do còn hạn chế về thời gian và kinh nghiệm, chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy, cô giáo, các nhà khoa học cùng bạn bè, đồng nghiệp để luận văn này được
hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 8 năm 2013
Tác giả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
Ma A Sim

MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

3.1. Mục tiêu nghiên cứu 36
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu 36
3.2.2. Phạm vi nghiên cứu 36
3.3. Nội dung nghiên cứu 36
3.3.1. Nghiên cứu hiện trạng và một số đặc điểm rừng trồng tại xã Thanh Tương 36
3.3.2. Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên dưới tán
rừng trồng tại xã Thanh Tương 36
3.3.3. Nghiên cứu năng lực tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại xã Thanh Tương 36
3.3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm xúc tiến khả năng tái sinh tự nhiên
dưới tán rừng trồng xã Thanh Tương 37
3.4. Phương pháp nghiên cứu 37
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 37
3.4.2. Phương pháp điều tra trong nhân dân 38
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu 38
Chƣơng 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
4.1. Hiện trạng và một số đặc điểm rừng trồng tại xã Thanh Tương,
huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 41
4.1.1. Điều tra thống kê các trạng thái rừng trồng tại xã Thanh Tương 41
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
4.1.2. Đặc trưng về cấu trúc các loại rừng trồng tại xã Thanh Tương 42
4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng tại
xã Thanh Tương 43
4.2.1. Ảnh hưởng của vị trí địa hình 43
4.2.2. Ảnh hưởng của cấu trúc rừng 46

1.3

Đường kính ngang ngực
2.
H
VN

Chiều cao vút ngọn
3.
H
DC

Chiều cao dưới cành
4.
OTC
Ô tiêu chuẩn
5.
ODB
Ô dạng bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Một số đặc điểm của tầng cây gỗ tại khu vực nghiên cứu 42
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của vị trí địa hình đến tái sinh tự nhiên dưới tán rừng

tràm tại khu vực nghiên cứu 59
Hình 4.6. Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao dưới tán rừng hỗn
giao (Keo lá tràm + Mỡ) tại vùng nghiên cứu 59

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Rừng là một trong những nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo quý giá
nhất của đất nước ta. Rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, duy trì tính
ổn định và độ màu mỡ của đất, ngăn chặn xói mòn đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán
làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, góp phần bảo tồn nguồn
nước mặn và nước ngầm.
Nếu trên thế giới trong vòng 300 năm qua đã khai thác mất 2/3 diện tích
rừng thì ở Việt Nam tài nguyên rừng bị giảm đi 1/2 chỉ trong vòng 50 năm.
Diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam bị suy giảm một cách nhanh chóng từ
14,3 triệu ha năm 1945 tương ứng độ che phủ 43% đến năm 1995 chỉ còn 8,25
triệu ha rừng tự nhiên và 1,05 triệu ha rừng trồng tương ứng độ che phủ 28%.
Cùng với diện tích rừng bị mất, chất lượng rừng còn lại cũng giảm sút; trữ
lượng rừng thấp, nhiều loài cây gỗ quý trở nên hiếm, nhiều động thực vật có
nguy cơ tuyệt chủng; khả năng cung cấp của rừng không đáp ứng được yêu cầu
ngày càng tăng của xã hội; năng lực phòng hộ của rừng cũng bị hạn chế, thiên
tai bão lụt ngày càng nghiêm trọng.
Sớm nhận thức được tầm quan trọng của nguồn tài nguyên rừng với hy
vọng phục hồi lại cân bằng sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần vào
việc làm chậm quá trình nóng lên toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều

huyện Chiêm Hoá; phía Tây giáp xã Năng Khả của huyện Na Hang, có tổng
diện tích đất tự nhiên là 10.653,65 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 9.536,59 ha,
chiếm 89,51% diện tích đất tự nhiên của toàn xã, trong đó diện tích đất có rừng
9.536,59 ha: đất rừng đặc dụng: 3.977,6 ha; đất rừng phòng hộ: 3.380,83 ha;
đất rừng sản xuất: 2.178,16 ha, trong đó đất có khả năng trồng rừng sản xuất
298,47 ha, độ che phủ của rừng đạt 87,1 %. Điều kiện tự nhiên thích hợp với
nhiều loại cây trồng và thuận lợi cho phát triển nghề rừng. Tuy nhiên, rừng
trồng ở khu vực xã Thanh Tương chủ yếu là cây Mỡ, Keo lá tràm, Lát hoa nên
cấu trúc rừng còn đơn điệu, chất lượng rừng và tính đa dạng sinh học không
cao. Thực tế, để cải tạo rừng trồng đặc dụng bằng cách trồng mới một số loài
cây bản địa tạo ra hệ sinh thái đa dạng về thành phần loài thì rất khó khăn, tốn 3
kém do nguồn kinh phí phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển trồng rừng
còn hạn chế.
Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu, đánh giá thành phần
loài, tính đa dạng thực vật tại Na Hang diễn ra tương đối mạnh mẽ nhưng các
công trình đó mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa nghiên cứu sâu về đặc
điểm tái sinh, sự phân bố và giá trị của từng loài, từng họ. Nhằm cung cấp thêm
những cơ sở khoa học về chuyển hóa rừng trồng thành rừng gần giống với rừng
tự nhiên có tính bền vững của hệ sinh thái đáp ứng được mục tiêu của rừng đặc
dụng và gắn liền với mục tiêu du lịch sinh thái, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh dƣới tán rừng trồng tại xã Thanh
Tƣơng, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1. Ý nghĩa khoa học
Đánh giá năng lực tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng làm cơ sở khoa
học cho việc chuyển đổi rừng trồng thuần loài thành rừng hỗn loài đa tầng nhằm
tăng cường tính đa dạng thực vật và nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái

rừng và làm thay đổi cả quá trình trao đổi vật chất và năng lượng diễn ra trong
hệ sinh thái. Do đó, tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của
một hệ sinh thái rừng. Tái sinh rừng thúc đẩy việc hình thành cân bằng sinh học
trong rừng, đảm bảo cho rừng tồn tại liên tục và do đó bảo đảm cho việc sử
dụng rừng thường xuyên.
Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài cây tái sinh, điều kiện địa
lý và tiểu hoàn cảnh rừng là cơ sở tự nhiên quan trọng có tác dụng quyết định,
chi phối sự hình thành lên những quy luật tái sinh rừng. Ở các vùng tự nhiên
khác nhau, tái sinh rừng diễn ra theo các quy luật khác nhau. Những kiến thức
về sinh thái, tái sinh rừng bao gồm mối quan hệ giữa loài cây tái sinh với hoàn
cảnh sinh thái, đặc biệt là tiểu hoàn cảnh rừng, mối quan hệ sinh vật trong hệ
sinh thái rừng có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu quy luật tái sinh, trong
từng loại rừng cụ thể và là cơ sở khoa học quan trọng cho việc đề xuất các biện
pháp tái sinh rừng có hiệu quả. Xét về bản chất sinh học, tái sinh rừng diễn ra 5
dưới ba hình thức: Tái sinh hạt, tái sinh chồi, tái sinh thân ngầm (các loài tre
nứa). Trong đó, tái sinh hạt là quá trình mà thế hệ các cây rừng mới được hình
thành từ các hạt giống. Quá trình tái sinh hạt phải trải qua 3 giai đoạn: Ra hoa
kết quả; phân tán hạt giống; hạt giống nảy mầm và sinh trưởng của cây tái sinh.
Tái sinh chồi là quá trình vô tính cây con được phát triển từ một phần của cây
mẹ. Tái sinh thân ngầm là trường hợp các cây con được phát triển từ thân ngầm.
Đứng trên quan điểm triết học, tái sinh rừng là một quá trình phủ định
biện chứng: Rừng non hay thay thế rừng già trên cơ sở được thừa hưởng hoàn
cảnh thuận lợi do thế hệ rừng ban đầu tạo nên.
Đứng trên quan điểm chính trị kinh tế học, tái sinh rừng là quá trình tái
sản xuất mở rộng tài nguyên rừng. Đương nhiên, điều kiện này chỉ có thể trở
thành hiện thực khi ta nắm chắc được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính
xác, nhằm điều hoà và định hướng các quá trình tái sinh phục vụ mục tiêu kinh

nương rẫy), thế hệ cây tái sinh này sẽ lớn dần lên thay thế thế hệ cây già [23].
1.2. Những nghiên cứu trên thế giới
1.2.1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật
trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có
thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát
triển nhất định của tự nhiên. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện
quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường
sinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau.
1.2.1.1. Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái
học, hệ sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho
hiệu quả sản xuất cao. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba
dạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian.
Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản
phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực
vật với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là 7
hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng. Thực
tế, cấu trức rừng nó có tính trật tự và theo quy luật của quần xã.
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được
Richards P.W (1933-1934), Baur G.N (1962), Odum E.P (1971), v.v tiến
hành. Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định
tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.
Theo Baur G.N (1962) [3] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái
học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng,
trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt
lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ đó, tác giả này đã đưa ra những

thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ).
Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có
nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh
trên thân hoặc cành cây.
Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các
đặc trưng như: Cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng
suất thảm thực vật.
Ngay từ nửa đầu thế kỷ XIX, Humboldt và Grisebach đã sử dụng dạng
sinh trưởng (toàn bộ hình thái hoặc cấu trúc và trạng thái của thực vật) của các
loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của chúng để biểu thị cho các nhóm
thực vật. Phương pháp hình thái của Humboldt và Grisebach được các nhà sinh
thái học Đan Mạch (Warming, 1904; Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển.
Raunkiaer đã phân chia các loài cây hình thành thảm thực vật thành các dạng
sống và các phổ sinh học (phổ sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong một
quần xã có các dạng sống khác nhau). Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho
rằng phân loại hình thái, các phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn các
dạng sinh trưởng của Humboldt và Grisebach. Trong các phương pháp phân
loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa
vào hình thái bên ngoài của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất. 9
Kraft (1884), lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông chia
cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích
thước và chất lượng của cây rừng. Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình
phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng
chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi.
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn
đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân
cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi. Sampion

loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc
tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng. Đại diện
cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper
(1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973), v.v Trong nhiều hệ thống phân
loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã
không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó và do vậy hình thành một hướng phân
loại theo ngoại mạo sinh thái.
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu
mô tả rừng ở trạng thái tĩnh. Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động,
Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến
đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá
trình phát sinh và phát triển của rừng.
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng
nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trình
nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng.
1.2.2. Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được
xác định bởi tổ thành loài cây, mật độ, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc
điểm phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và
tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre.ad, 1930;
Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954;
Jones, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur G.N, 1964; Rollet, 1969). Do tính chất 11
phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong
thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít
được nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng
mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện

thông thường từ 1 - 4m
2
. Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra
nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng.
Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị
một phương pháp "điều tra chuẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể
thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác
nhau. V.Gnexterov (1954,1960) đề nghị dùng 15 - 26 ô kích thước từ 1 - 2m
2
cho cây con tuổi nhỏ hơn 5 năm, 10 - 15 ô kích thước từ 4 - 5m
2
thống kê cây
con tuổi từ 5 - 10 năm. A.V.Pobedinxki (1961) đề nghị 25 ô dạng bản 1x1m
cho một khu tiêu chuẩn 0,5 - 1,0 ha. X.V.Belov (1983) nhấn mạnh phải áp dụng
thống kê toán học trong điều tra và đánh giá tái sinh rừng. Các phương pháp
thống kê đã được trình bày rõ trong các công trình của P.G.Smith (1967) và
V.I.Vasilevich. (dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2002) [46].
H. Lamprecht (1989) [57] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây
trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa
sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng. Kết cấu của quần thụ lâm
phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng. Yurkevich I.D (1960) đã chứng minh độ
tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7.
Sự phân bố cây theo đường kính là cấu trúc cơ bản của lâm phần và cũng
được nhiều nhà lâm học quan tâm nghiên cứu. Đầu tiên, phải kể đến công trình
của Meyer (1952). Ông mô tả phân bố số cây theo đường kính bằng phương
trình toán học mà dạng của nó là một đường cong giảm liên tục. Phương trình
này được gọi là phương trình Meyer (hay hàm Meyer). Tiếp đó, nhiều tác giả đã
dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình đường cong phân bố N/D của
lâm phần thuần loài đều tuổi như: M.Prodan và A.Ipalatscase (1964), Bill và



14
thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp
thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng
phục hồi sau nương rẫy.
Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của
cây con. Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần
thụ, V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về
dinh dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của
quan hệ qua lại giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện
sinh thái của quần thể thực vật. (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002) [41].
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây
bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của
tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ. Những
quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây
bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng
kể. Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều
kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất
lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973). (dẫn theo Nguyễn Văn
Thêm, 2002) [41].
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm
sáng tỏ đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Đó là cơ sở để xây dựng
các phương thức lâm sinh hợp lý.
1.2.3. Những nghiên cứu về phục hồi rừng
Theo Trần Đình Lý (1995) [27] Phục hồi rừng là một quá trình tái tạo
một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu. Đó là một quá
trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một
thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán. Nói cách khác, phục hồi rừng được hiểu
là việc tái tạo lại rừng trên những diện tích đã bị mất rừng.


(1960) thì chỉ là giải pháp trước mắt, còn về lâu dài thì phải dựa vào kiến thức
đúng đắn về sinh thái học của quần lạc đó.
Hội nghị Lâm nghiệp thế giới lần thứ 7 (10/1972) tại Buenos - Aires đã
khẳng định cần phải đẩy mạnh việc trồng rừng. Nhưng hội nghị cũng lưu ý là

Trích đoạn Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu Tài nguyên thiên nhiên Tình hình phát triển kinh tế Tình hình hoạt động lâm nghiệp trong những năm qua Nghiên cứu hiện trạng và một số đặc điểm rừng trồng tại xã Thanh Tương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status