Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG VĂN NAM KINH TẾ LÂM NGHIỆP Ở HUYỆN SƠN ĐỘNG
TỈNH BẮC GIANG TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Ngọc Cơ
Thái Nguyên, 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thày cô giáo
trong tổ Lịch Sử Việt Nam khoa Lịch Sử trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái
Nguyên, Đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn khoa học Giáo Sư - Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc
Cơ đã chỉ bảo tận tình, động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành luận văn.
Trong thời gian thực hiện luận văn, Tác giả đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Giang, Huyện Uỷ, UBND huyện Sơn
Động, cùng các ban ngành, đoàn thể trong huyện Sơn Động đã cung cấp tư
liệu, để tác giả hoàn thành luận văn. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ quý báu đó .
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn
thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013
Ngƣời thực hiện
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 0
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU iii
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài 6
4. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 6
5. Đóng góp của luận văn 7
6. Kết cấu luận văn 7
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN
SƠN ĐỘNG TRƢỚC NĂM 2000 9
1.1. Khái quát chung về huyện Sơn Động 9
1.1.1. Về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 9
1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên 12
1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội 14
1.2.1. Đặc điểm kinh tế 14
1.2.2. Đặc điểm xã hội và các di sản văn hóa 16
1.3. Tình hình kinh tế lâm nghiệp huyện Sơn Động trước năm 2000 17
Tiểu kết chương 1 19
Chƣơng 2: KINH TẾ LÂM NGHIỆP HUYỆN SƠN ĐỘNG TỪ NĂM
2000 ĐẾN 2010. 21
2.1. Bối cảnh lịch sử 21
2.2. Đường lối đổi mới của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bắc Giang nhằm phát
triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn từ năm 2000-2010 23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
qua từng giai đoạn
29
2
Biểu đồ 2.3b:Đất rừng và diện tích rừng đã gia cho các hộ gia
đình và các tổ chức quản lý
30
3
Biểu đồ 3.2a :Diện tích rừng trồng mới từ năm 2000 - 2005
32
4
Biểu đồ3.2b: Diện tích rừng trồng mới từ năm 2006 - 2010
32
5
Biểu đồ3.3: Sự biến động diện tích rừng phòng hộ theo từng
năm
37
6
Biểu đồ 3.4: Sự biến động diện tích rừng đặc dụng qua từng
năm
40
7
Bảng 1: Giá trị sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2000 - 2010
48
8
Bảng 2: Giá trị sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010
65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
Rừng góp phần duy trì chất lượng và nguồn nước sạch. Hơn ¾ lượng
nước sạch trên thế giới bắt nguồn từ rừng, rừng có vai trò như cỗ máy điều hoà
tự nhiên làm cho môi trường trong lành, bớt độc hại, rừng có khả năng hấp thụ,
lọc và hút bớt các khí độc hại, chống ô nhiễm, làm sạch không khí, giảm tiếng
ồn, giúp tránh được những nguy hại cho sức khoẻ con người và tạo được quá
trình sinh thái bình thường cho sinh vật. Trong các cuộc kháng chiến chống
giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, rừng cũng giữ vai trò to lớn góp phần làm nên
thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta. Vì vậy, hình ảnh của rừng còn được nhà thơ
Tố Hữu ca ngợi qua những vần thơ:
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt giày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.
Có thể nói, rừng là người bạn thân thiện với mọi người, mọi nhà. Từ ngôi
nhà nhỏ bé đến trang trí nội thất, đồ gia dụng, công cụ lao động, Tất cả đều
không thể thiếu tài nguyên rừng.
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, có khả năng tái tạo, nếu
được quản lý bảo vệ và khai thác đúng kĩ thuật thì nguồn tài nguyên này không
bao giờ vơi cạn. Rừng là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có tác
dụng điều hòa khí hậu, hạn chế lũ lụt, chống xói mòn, tái tạo và nâng cao độ
phì nhiêu của đất, hạn chế quá trình biến đổi khí hậu Vì vậy, rừng được ví
như lá phổi của trái đất, có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của
quốc gia, gắn liền với đời sống của nhân dân và sức sống của toàn dân tộc.
Hiểu rõ tầm quan trọng của rừng, trên con đường đổi mới đất nước,
Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách ưu tiên phát triển kinh tế lâm
nghiệp. Để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế lâm nghiệp trên con đường
đổi mới theo định hướng của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân các dân
tộc huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã không ngừng đẩy mạnh phát triển kinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
khăn gì ? Bài học rút ra từ trồng rừng trong những thập niên tiếp theo. Xuất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
phát từ những vấn đề thực tế như biến đổi khí hậu, các hiện tượng thiên tai, hạn
hán, lũ lụt thường xuyên diễn ra ở nước ta nói chung và huyện Sơn Động nói
riêng là tiếng chuông “cảnh tỉnh sinh thái”, là sự trả giá đắt của con người cho
nguồn tài nguyên rừng bị suy thoái.
Để cung cấp những kiến thức cơ bản về tác dụng của kinh tế lâm nghiệp,
tác dụng của rừng, tư vấn chọn nghề đối với học sinh dân tộc miền núi trong
những buổi hoạt động ngoại khoá là hết sức cần thiết, với lý do trên tôi đã chọn
đề tài “Kinh tế lâm nghiệp ở huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ năm 2000 đến
2010” làm đề tài luận văn Thạc sĩ lịch sử.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cá nhân, tập thể và các tổ chức
viết về đề tài kinh tế lâm nghiệp.
Kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và các địa phương nói riêng luôn
là vấn đề được các cấp lãnh đạo, các nhà khoa học, kinh tế và chính trị quan
tâm nghiên cứu dưới nhiều hình thức và nhiều góc độ khác nhau. Trong văn
kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng, có nêu lên hai nội dung rất
quan trọng, mang tính chất định hướng cho sự phát triển là “ Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010” và “ Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội năm năm 2001 – 2005”. Ban chấp hành trung ương
Đảng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Những bài viết, phát biểu của các nhà lãnh đạo:
- Lê Duẩn: Nắm vững đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến lên
xây dựng kinh tế địa phương vững mạnh (Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1986).
- Nguyễn Văn Linh: Đổi mới sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt
động ( Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1992).
Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học:
liệu nói trên, chúng tôi vẫn đánh giá cao và coi đó là nguồn tư liệu tham
khỏa quan trọng cho chúng tôi thực hiện đề tài kinh tế lâm nghiệp huyện
Sơn Động 2000 – 2010.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế lâm nghiệp và những
nguyên nhân thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp huyện Sơn Động phát triển.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: đề tài được thực hiện trong thời gian 8 tháng. Từ tháng 7
năm 2012 đến tháng 3 năm 2013. Nghiên cứu một số cây trồng chủ yếu đem lại
năng suất cao tại huyện Sơn Động. Đánh giá hiệu quả trên cả 3 mặt ( kinh tế, xã
hội và môi trường ). Để làm sáng tỏ sự phát triển kinh tế lâm nghiệp huyện Sơn
Động, luận văn còn đề cập khái quát tình hình kinh tế - xã hội của huyện từ sau
công cuộc đổi mới của Đảng (1986) đến năm 2000.
Về không gian: tìm hiểu những xã, thị trấn có nền kinh tế lâm nghiệp
phát triển.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Khái quát về huyện Sơn Động, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí,
tài nguyên thiên nhiên, thành phần dân tộc, tình hình kinh tế - xã hội của huyện
trước năm 2000.
Thứ hai: Nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện những chuyển biến về
kinh tế lâm nghiệp thúc đẩy sự phát triển về văn hoá, xã hội từ năm 2000 đến
2010. Qua đó rút ra những mặt mạnh của kinh tế lâm nghiệp và những hạn chế
tồn tại cần khắc phục.
4. Nguồn tƣ liệu, phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Các nguồn tƣ liệu
Thực hiện đề tài này ngoài việc khai thác các công trình nghiên cứu của
Ngoài ra, đề tài còn có các mục: tài liệu tham khảo và phụ lục. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN SƠN ĐỘNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN SƠN ĐỘNG
TRƢỚC NĂM 2000
1.1. Khái quát chung về huyện Sơn Động
1.1.1. Về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Sơn Động là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông của tỉnh Bắc Giang
trên vòng cung Đông Sơn - Ngân Triều, có diện tích tự nhiên là 844,32 km
2
(84.577 ha), bằng 22,12% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Giang và là huyện có
diện tích tự nhiên lớn thứ hai trong tỉnh (sau huyện Lục Ngạn: 1.012 km
2
).
Huyện Sơn Động nằm trong toạ độ địa lý:
- Từ 106
0
41’11” đến 107
0
quanh, độ dốc lớn là đầu nguồn của sông Lục Nam, nên việc khai thác và sử
dụng đất đai phải gắn với phát triển rừng, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường. Nó
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đời sống nhân dân trong huyện nói riêng
và cả khu vực hạ lưu nói chung.
* Đặc điểm khí hậu
Huyện Sơn Động nằm cách bờ biển Quảng Ninh không xa, nhưng do án
ngữ bởi dãy núi Yên Tử ở phía Đông nên Sơn Động có đặc điểm khí hậu lục
địa miền núi. Hàng năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mùa Xuân và mùa
Thu là hai mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hoà, mùa Hạ nóng và mùa Đông lạnh.
Theo chế độ mưa có thể chia khí hậu của huyện thành 2 mùa:
- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, hướng gió thịnh hành là gió Đông
Nam, nhiệt độ cao nhất trung bình tháng là 32,9
0
C, mưa nhiều, chiếm khoảng
85% lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 7 và tháng 8 (trung bình tháng
8 là 304 mm).
- Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, hướng gió thịnh hành là gió
Đông Bắc, nhiệt độ thấp nhất trung bình tháng là 11,6
0
C. Mùa này lượng mưa
ít, chiếm 15% lượng mưa của cả năm (tháng 01 lượng mưa trung bình chỉ đạt
15,2 mm), khí hậu khô hanh, độ ẩm thấp, nhiệt độ xuống thấp, do ảnh hưởng
của gió mùa Đông Bắc, nên đã tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát
triển của một số cây trồng, vật nuôi.
Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,6
0
C
- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 32,9
0
* Thuỷ văn
Chế độ thuỷ văn các sông ở huyện Sơn Động phụ thuộc chủ yếu vào chế
độ mưa và khả năng điều tiết của khu vực. Do đó, cùng với điều kiện, diễn biến
lượng mưa hàng tháng trong năm thì chế độ thuỷ văn trên các sông cũng thay
đổi theo. Sơn Động là thượng nguồn của sông Lục Nam, trên địa bàn huyện có
3 nhánh sông chính gặp nhau ở xã Yên Định:
- Nhánh sông Cẩm Đàn bắt nguồn từ khu vực 2 xã Thạch Sơn và xã Phúc
Thắng, chảy theo hướng Bắc - Nam, dài 21 km, qua xã Cẩm Đàn và đổ về sông
chính ở xã Yên Định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
- Nhánh sông Tuấn Đạo bắt nguồn từ hai xã Thanh Luận, Tuấn Mậu và
thị trấn Thanh Sơn, chảy qua địa bàn xã Tuấn Đạo dài 11 km.
- Nhánh sông An Châu bắt nguồn từ các xã Hữu Sản, An Lạc nơi có khu
rừng nhiệt đới tự nhiên Khe Rỗ, đây là nguồn sinh thuỷ lớn nhất của sông Lục
Nam. Nhánh chính chảy trong địa phận huyện Sơn Động dài khoảng 40 km, từ
Khe Rỗ sông chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, đến địa phận xã Lệ Viễn
sông chảy theo hướng Đông - Tây về xã Yên Định gặp các nhánh sông Thanh
Luận và sông Cẩm Đàn rồi chảy sang đất Lục Ngạn.
Nhìn chung mật độ sông suối của huyện khá dày, nhưng đa phần là đầu
nguồn, nên lòng sông, suối hẹp, độ dốc lớn, lượng nước hạn chế, đặc biệt là
mùa khô.
1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất
Đất được hình thành do hai nguồn gốc phát sinh gồm: Đất hình thành tại
chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sa sông suối bồi tụ, do đó có
thể chia đất của huyện Sơn Động thành các nhóm đất chính sau:
- Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét (F
s
- Đất bạc màu trên phù sa cổ (B), diện tích nhỏ, tập trung ở vùng đồi núi
trọc thuộc các xã Bồng Am, Tuấn Đạo, TT Thanh Sơn, Thanh Luận, Vĩnh
Khương
- Đất tím trên đất sét màu tím và đất dốc tụ, hai loại đất này chỉ có ở xã
Dương Hưu, phía Đông Nam của huyện, là loại đất phân bổ kẹp giữa các núi
đồi, là sản phẩm dốc tụ thung lũng.
Như vậy, đặc điểm đất đai của huyện khá đa dạng, phong phú với nhiều loại
đất được phân bố ở các địa hình bằng phẳng và địa hình dốc, cho phép phát triển hệ
sinh thái nông - lâm nghiệp. Đặc biệt, nên sử dụng hợp lí đất đai vừa tạo độ che phủ
tránh xói mòn, vừa trồng cây công nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao.
* Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê năm 2000, huyện Sơn Động có 39.125 ha rừng,
trong đó diện tích rừng tự nhiên có 34.682 ha, chiếm 88,64% diện tích đất có
rừng, diện tích rừng trồng là 4.443 ha chiếm 11,36% diện tích đất có rừng.
Rừng tự nhiên phân bổ chủ yếu ở các xã An Lạc, Dương Hưu, Vân Sơn, Hữu
Sản, Bồng Am, Tuấn Đạo Đặc biệt là khu rừng : Khu bảo tồn thiên nhiên Khe
Rỗ (thuộc địa phận xã An Lạc), thảm thực vật rừng ở nơi đây vẫn còn có độ che
phủ lớn (68%), chủ yếu là các loại cây bản địa và các loại gỗ quí như: Lim, Lát,
Pơmu, Sến, Táu, Dẻ Tổng trữ lượng gỗ rừng tự nhiên của huyện khoảng
600.000 - 700.000 m
3
[Nguồn: 37, tr:14,15].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
Diện tích rừng trồng ngày càng tăng, chủ yếu là các loại cây phù hợp với
đặc điểm của địa phương như: Keo tai tượng, Trám, Thông, Lát Những năm
gần đây nhân dân đã chú ý đến việc trồng các loại cây ăn quả, trồng rừng kinh
tế theo chương trình 327, chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Do đó,
thảm thực vật ở các vùng dự án rừng trồng ngày càng lớn.
nghiệp cũng từng bước hình thành và góp phần mang lại thu nhập cho người
dân, đóng góp vào nền kinh tế của cả huyện. Với những ngành nghề truyền
thống như: mộc, rèn đúc kim loại, khai thác quặng Tuy nhiên, trước năm
2000, các ngành này chưa được quan tâm phát triển đúng mức, bởi vậy hiệu
quả kinh tế chưa cao. Với nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, nguồn
lao động dồi dào, đó là những điều kiện thuận lợi cơ bản cho huyện Sơn Động
phát triển công nghiêp và thủ công nghiệp. Trong những năm gần đây, do tận
dụng được thế mạnh của địa phương, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp
và chế biến vật liệu đã có bước phát triển rõ rệt, nhiều đơn vị nhà máy đã đầu
tư trang thiết bị, máy móc công nghệ tiên tiến, mở rộng quy mô, đầu tư vốn sản
xuất Do đó, thu hút được số lượng lớn lao động địa phương tham gia và bước
đầu đem lại hiệu quả kinh tế, góp phần cải thiện đời sống cho nhân dân.
Huyện Sơn Động có các tuyến đường quốc lộ 31 và quốc lộ 279 chạy qua
và có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh. Do vậy,
khá thuận lợi cho hoạt động giao lưu văn hóa và hàng hóa. Cùng với sự phát triển
của đất nước theo hướng công nghệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế của huyện
Sơn Động cũng phát triển theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng các ngành kinh tế
nông - lâm nghiệp. Mặc dù vậy, trong những năm gần đây các ngành này vẫn giữ
vị trí - vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của cả huyện.
Bước vào thời kì hội nhập, đặc biệt là thực hiện thắng lợi Nghị quyết
Đại hội lần thứ IX của Đảng. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Sơn
Động cần tích cực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng hợp lý
hóa, cùng với cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
16
1.2.2. Đặc điểm xã hội và các di sản văn hóa
Sơn Động là một huyện miền núi có bề dày văn hóa, có nhiều dân tộc
Với đặc điểm là một huyện miền núi cao, Sơn Động có diện tích rừng tự
nhiên khá lớn (khoảng 34.682 ha), sản phẩm lâm sản cũng rất phong phú và đa
dạng, được phân bố khá đồng đều giữa các địa phương, trong đó diện tích lớn
nhất thuộc các xã ở khu vực phía Đông và phía Nam của huyện như: An Lạc,
Dương Hưu, Tuấn Đạo, Tuấn Mậu, Long Sơn Rừng Sơn Động có nhiều loại
cây gỗ quí, như: Lim, Sến, Táu, Lát Từ sau ngày đất nước thống nhất (năm
1975), cùng với cả nước, nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động đã bắt tay vào
công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, do hậu quả của
chiến tranh để lại, nên đời sống nhân dân còn gặp muôn vàn khó khăn, một bộ
phận không nhỏ người dân trong huyện sống trực tiếp dựa vào rừng. Bởi vậy,
diện tích rừng không những không phát triển được, mà còn bị tàn phá nặng nề
từ hoạt động kiếm kế sinh nhai của người dân.
Từ sau ngày tiến hành đổi mới đất nước (năm 1986), Đảng và Nhà nước
có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội, nhằm nhằm đưa đất
nước từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và từng bước cải thiện đời sống
cho nhân dân, trong đó, có chính sách phát triển kinh tế lâm nghiệp. Thực hiện
chủ trương của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện
Sơn Động đã đẩy mạnh sản xuất và phát triển ngành kinh tế dựa trên tiềm năng,
thế mạnh của quê hương. Trong thời gian này trên địa bàn toàn huyện đã trồng
mới gần 4.000 ha chủ yếu là các loại cây công nghiệp lâu năm như: Bạch Đàn,
Thông, Keo và cây công nghiệp ăn quả như Vải, Nhãn, Tre măng đồng thời
tiếp tục triển khai và tiến hành giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân có
nhu cầu nhận khoán, bảo vệ và kinh doanh sản xuất.
Từ năm 1996 - 1999, công tác trồng cây gây rừng, bảo vệ chăm sóc rừng
từng bước được chú trọng. Hạt kiểm lâm và Lâm trường Sơn Động đã kết hợp
với phòng nông nghiệp huyện triển khai việc giao đất, giao rừng cho các tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
18
chức và hộ gia đình, cùng với đó là các trung tâm ươm và cung cấp giống cây