khảo sát một số hợp chất có hoạt tính sinh học trong nuôi cấy mô sẹo cây kim ngân (lonicera japonica thumb) - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
o0o

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỘT SỐ HỢP CHẤT CÓ HOẠT
TÍNH SINH HỌC TRONG NUÔI CẤY MÔ SẸO
CÂY KIM NGÂN (Lonicera japonica Thunb.)

Chuyên ngành: Công Nghệ Sinh Học
Mã số ngành : 111
GVHD: CN. BÙI VĂN THẾ VINH
SVTH : NGUYỄN THỊ THU THẢO
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2010 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐẠI HỌC KTCN ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC


PHẦN DÀNH CHO KHOA, BỘ MÔN
Người duyệt (chấm sơ bộ): ………………………………………

Đơn vị: …………………………… ………………………………
Ngày bảo vệ: ……………………………………………………
Điển tổng kết: ……………………………………………………
Nơi lưu trữ Đồ án tốt nghiệp: ……………………………………

Phần hướng dẫn
Toàn bộ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN CHÍNH

(Ký và ghi rõ họ tên)
Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn:
 Ban giám hiệu nhà trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Thành phố Hồ Chí
Minh, Ban chủ nhiệm Bộ Môn Công Nghệ Sinh Học, cùng tất cả các quý
thầy cô đã truyền đạt kiến cho em trong suốt quá trình học tập.
 Thầy Bùi Văn Thế Vinh đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và
giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
 Các thầy cô tại Phòng Thí nghiệm khoa Môi Trường và Công Nghệ Sinh
học thuộc trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã
tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đồ án.
 Cha mẹ đã suốt đời tận tụy để con có được ngày hôm nay.
 Tập thể lớp 06DSH và bạn Mỹ lớp 07DSH đã gắn bó, giúp đỡ tôi trong
suốt 4 năm đại học.
Sinh viên thực hiện


Khái niệm 3

2.1.2.

Phân loại 3

2.2.

Khái niệm chung về Thin layer chromatography (TLC) 15

2.2.1.

Tổng quát về TLC 15

2.3.

Nuôi cấy mô tế bào thực vật sản xuất hợp chất thứ cấp 25

2.3.1.

Khái niệm 25

2.3.2.

Sự tích lũy các hợp chất thứ cấp trong tế bào thực vật 26

2.3.3.

Ứng dụng nuôi cấy tế bào thực vật trong sản xuất các hoạt chất sinh
học 29


3.2.1.

Đối tượng nghiên cứu 41

3.2.2.

Trang thiết bị và dụng cụ 41

3.2.3.

Các loại hóa chất sử dụng 41

3.3.

Phương pháp thí nghiệm 42

3.3.1.

Thí nghiệm 1:cảm ứng tạo mô sẹo 42

3.3.1.1.Khử trùng mẫu lá 42

Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
ii
3.3.1.2.Cảm ứng tạo mô sẹo 42

3.3.2.

Chuẩn bị mẫu 43


4.2.2.

Khảo sát sự hiện diện của triterpenoid saponin 57

4.3.

Thí nghiệm 2: khảo sát thành phần flavonoid và saponin
triterpenoid bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC) 59

4.3.1.

Khảo sát sự hiện diện flavonoid 59

4.3.2.

Khảo sát sự hiện diện triterpenoid 62

4.4.

Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết Kim ngân 65

4.4.1.

Khảo sát khả năng kháng khuẩn của dịch chiết Kim ngân bằng
phương pháp khuếch tán qua vòng giấy lọc 65

4.4.2.

Khảo sát khả năng kháng khuẩn bằng phương pháp khuếch tán qua

sinh tổng hợp các hợp chất thứ cấp mong muốn trong thực vật cũng như trong nuôi
cấy tế bào ở quy mô lớn là rất phức tạp. Vì vậy, các thông tin ở mức độ tế bào và
phân tử của các quá trình chuyển hóa là rất cần thiết cho sự phát triển của sản xuất
công nghiệp. Nhiều nghiên cứu được đã thực hiện ở các điều kiện khác nhau để giải
thích các hiện tượng xuất hiện trong quá trình sản xuất các chất trao đổi thứ cấp từ
các tế bào thực vật nuôi cấy in vitro. Các kết quả này cũng cho thấy các hệ thống
nuôi cấy tế bào thực vật có tiềm năng rất lớn cho việc khai thác thương mại các chất
trao đổi thứ cấp.
1.2. Mục đích và nội dung nghiên cứu
1.2.1. Mục đích
Bước đầu khảo sát một vài hợp chất có hoạt tính sinh học có trong mẫu mô
sẹo, hoa, cành lá của Kim ngân hoa và thử hoạt tính của chúng lên hai chủng vi
khuẩn E.coli và Samonella. Từ đó tạo tiền đề cho những nghiên cứu tách chiết và
phân lập các chất có giá trị dược lý trong mô sẹo, hoa, cành lá Kim ngân làm nguyên
liệu phục vụ cho nghành công nghiệp dược. Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
2

1.2.2. Nội dung nghiên cứu
Bước đầu khảo sát hai hợp chất có hoạt tính sinh học được biết nhiều trong
Kim ngân hoa là saponin triterpenoid và flavonoid bằng hai phương pháp: trắc
nghiệm sinh hóa và sắc ký lớp mỏng (TLC).
Thử hoạt tính dịch chiết của mô sẹo, hoa đối với hai chủng vi khuẩn E.coli và
Samonella.


được tạo ra bởi cơ thể của một sinh vật. Chất biến dưỡng thứ cấp có thể cần thiết
hoặc nhiều khi không cần thiết cho sự sống của sinh vật, điều này khác với những
hợp chất đại phân tử như protein, acid nucleic, polysacchride là những hợp chất căn
bản cần thiết đối với sự sống của mỗi sinh vật. (Nguyễn Kim Phi Phụng, 2007,
Phương pháp cô lập hợp chất hữu cơ, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh).
2.1.2. Phân loại
Các chất biến dưỡng thứ cấp bao gồm nhiều loại hợp chất và được sắp xếp
thành những nhóm khác nhau. Việc phân loại các hợp chất thành một nhóm thường
không phải bởi một định nghĩa duy nhất, cũng như ranh giới của một nhóm thường
không rõ ràng.
2.1.2.1. Alkaloid
Alkaloid là những hợp chất có tính base yếu, do sự có mặt của nguyên tử nitơ.
Tính base của các alkaloid cũng khác nhau tùy theo sự hiện diện của các nhóm thế R
(mang các nhóm chức khác nhau) gắn trên nguyên tử nito.
Các alkaloid chia thành ba loại:
 Alkaloid thật: là những hợp chất có hoạt tính sinh học, luôn có tính base,
thường được sinh tổng hợp từ amino acid, phân bố giới hạn trong thực vật và
hiện diện trong cây dưới dạng muối của một acid hữu cơ.
 Protoalkaloid được xem là những amin có hoạt tính sinh học kể cả mescalin
và N, N–dimetyltryptamin. Chúng là những amin đơn giản, được tổng hợp từ
các amino acid, trong đó nguyên tử nitơ không ở trong vòng dị hoàn.
 Giả alkaloid là những hợp chất không bắt nguồn từ những amino acid, bao
gồm hai nhóm hợp chất lớn là alkaloid steroid và alkaloid terpenoid.
Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
4

2.1.2.2. Flavonoid

Người ta xem cấu trúc này gồm hai phần (được theo dõi bằng chất đồng vị):
+ C
6
– C
3
(tức là vòng B + 3C) phần này xuất phát từ acid shikimic dẫn
đến các dẫn chất phenylpropanoid

Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
5 Hình 2.2: sơ đồ hình thành phenylpropanoid
+ C
6
hay là (vòng A) xuất phát từ 3 đơn vị acetat dẫn đến acid triacetic.
Sau đó 2 phần được ghép lại tạo thành chalcone

Hình 2.3: cấu tạo cơ bản của chalcone
Phần lớn các flavonoid có thể xem là các dẫn chất có gốc phenyl của các nhân
trên. Đánh số thứ tự bắt đầu từ dị vòng, số 1 từ dị tố oxy rồi tiếp đến vòng A, vòng B
đánh số phụ. Trường hợp không có vòng C (nghĩa là mạch 3C hở) ví dụ trường hợp
chalcon thì đánh số bắt đầu từ vòng B, vòng A đánh số phụ.
Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
6
Hình 2.4: cấu tạo cơ bản của flavan
 Phân loại flavonoid

nhiều nhưng cũng đủ các nhóm anthocyanidin, leucoanthocyanidin, flavanon, flavon,
flavonol, isoflavon. Nét đặc trưng của nghành hạt trần có khác thực vật bậc thấp và
ngành hạt kín ở chỗ sự hiện diện của nhiều dẫn chất biflavonoid.
Flavonoid tập trung chủ yếu vào ngành hạt kín ở lớp 2 lá mầm. Có rất nhiều
họ chứa flavonoid và đủ các loại flavonoid. Tuy nhiên cũng có một vài nét đặc trưng
cho một số họ ví dụ họ Asteraceae là một họ lớn với 15.000 loài, 1000 chi, có rất
nhiều dẫn xuất thuộc các nhóm khác nhau. Tuy nhiên, một số chi có nét đặc trưng
riêng của nó, ví dụ trong các chi Carthamus, Coreopsis, Cosmos, Dahlia thì hay gặp
các dẫn chất chalcon và auron. Chi Gymnosperma, Ageratum thì gặp các dẫn chất
flavon và flavonol có nhiều nhóm thế có oxy (có thể đến 8 nhóm). Họ Fabaceae thì
hay gặp các chất thuộc nhóm isoflavonoid. Họ Rutaceae thường gặp các flavon và
flavonol có nhiều nhóm methoxy. Họ Theaceae hay gặp các flavan–3–ol. Họ
Ranunculaceae và Paeoniaceae hay gặp dẫn chất flavonol 3,7 diglycosid. Họ
Rosaceae chi Rubrus và Prunus ở trong quả hay gặp anthocyanin có mạch đường
phân nhánh. Họ Polygonaceae ở chi Hydropiper hay gặp các flavon và flavonol
sulfat.
Lớp một lá mầm có 53 họ nhưng cho đến nay chỉ khoảng trên 10 họ tìm thấy
có flavonoid: Amaryllidaceae, Araceae, Cannaceae, Commelinaceae, Iridaceae,
Lemnaceae, Liliaceae, Musaceae, Oridaceae, Poaceae.
Hàm lượng và cả thành phần flavonoid trong cây phụ thuộc vào nơi mọc. Cây
mọc ở vùng nhiệt đới và núi cao thì hàm lượng cao hơn ở nơi cây thiếu ánh sáng.

Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
8

năng liên kết tốt với các ion kim loại đó theo phức oxychromon, oxycarbonxyl hoặc
3’, 4’ orthodioxyphenol.
Thành phần của màng tế bào có các hoạt chất lipid dễ bị peroxyde hóa, tạo ra
những sản phẩm làm rối loạn sự trao đổi chất cũng như đến sự hủy hoải tế bào. Đua
các chất chống oxy hóa như flavonoid vào cơ thể để bảo vệ tế bào thì có ngăn ngừa
các nguy cơ như xơ vữa động mạch, tai biến mạch, lão hóa, tổn thương do bức xạ,
thoái hóa gan…
Flavonoid cùng với acid ascorbic tham gia trong quá trình hoạt động của
enzyme oxy hóa – khử. Flavonoid còn ức chế tác động của hyaluronidase. Enzyme
này làm tăng tính thấm của mao mạch. Khi enzyme này thừa thì gây hiện tượng xuất
huyết dưới da mà y học gọi là bệnh thiếu vitamin P. Các chế phẩm chứa flavonoid
chiết từ các loài Citrus như “Cemaflavone”, “Circularine”,… flavonoid từ lá bạc hà
(diosmin) như “Daflon”, “Diosmil”, flavonoid từ hoa hòe (rutin) với nhiều biệt dược
khác nhau đã chứng minh tác dụng làm bền thành mạch, làm giảm tính “dòn” và tính
thấm của mao mạch. Tác dụng này được hợp lực cùng với acid ascorbic. Flavonoid
được dùng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, tĩnh mạch bị suy yếu,
giãn tĩnh mạch, trĩ, chảy máu do đặt vòng trong phụ khoa, các bệnh trong nhãn khoa
như sung huyết kết mạc, rối loạn tuần hòa võng mạc. Các dẫn chất anthocyanosid có
tác dụng tái tạo tế bào võng mạc và đã được chứng minh có tác dụng tăng thị lực vào
ban đêm.
Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
10

Tác dụng chống độc của flavonoid thể hiện làm giảm thương tổn gan, bảo vệ
được chức năng gan khi một số chất độc được đua vào cơ thể sinh vật thí nghiệm
(CCl
4
, benzene, ethanol, CHCl
3
, quinine, novarsenol, ) Dưới tác dụng của flavonoid

11

Cao chiết từ lá cây bạch quả (Ginko biloba) chứa các dẫn xuất 3–rutinosid của
kaempferol, quercetin và isorhammetin (trong lá già đã vàng thì chứa ginkgetin và
isoginkgetin) đã được một số hãng của Pháp bào chế thành biệt dược ví dụ
“Ginkogink”, “Tanakan” có tác dụng tăng tuần hoàn máu trong động mạch, tĩnh
mạch và mao mạch. Thuốc dùng cho những người có biểu hiện lão suy: rối loạn trí
nhớ, khả năng làm việc trí óc sút kém, mất tập trung tư tưởng, hay cáu gắt.
Trên hệ thần kinh, một số C– lavon glycoside của hạt táo – Ziziphus vulgaris
var. spinosus (chứa spinosin, swertisin và các dẫn chất acyl của spinosin) có tác dụng
an thần rõ rệt.
Một số tài liệu gần đây có nói đến tác dụng chống ung thư của một số chất
như leucocyanidin, leucopelargonidin, leucodelphinidin và tác dụng kháng HIV của
một số dẫn xuất thuộc nhóm flavon như chrysin, acacetin 7–O–β–D–
galactopyranosid.
Các dẫn xuất thuộc nhóm isoflavonoid có tác dụng tương tự estrogen ví dụ
như genistein daizein. Tác dụng này được giải thích do sự gần nhau về cấu trúc với
diethylstiboestrol.
Một số flavonoid khác thuộc nhóm rotenoid như chất rotenon có trong dây
mật – Deris ellptica Benth thì tác dụng diệt côn trùng đã được biết và đã được ứng
dụng từ lâu.
2.1.2.3. Saponin
 Định nghĩa
Saponin còn gọi là saponosid do chữ latin sapo = xà phòng, là một nhóm
glycosid lớn, gặp rộng rãi trong thực vật. Người ta cũng phân lập được saponin trong
động vật như hải sâm, cá sao.
Saponin có một số tính chất đặc biệt:
- Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ
hóa và tẩy sạch.
- Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng.

13

+ Saponin triterpenoid tetracyclic: có 3 nhóm chính: dammaran, lanostan,
cucurbitan.

Hình 2.7: (3) dammaran, (4) lanostan
 Saponin steroid
+ Nhóm spirostan

Hình 2.8: spirostan
+ Nhóm furostan

Hình 2.9: furostan
+ Nhóm spirosolan

Hình 2.10: spirosolan
(3)
(4)
Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
14

 Công dụng
- Saponin có tác dụng long đờm, chữa ho. Saponin là hoạt chất chính trong các
dược liệu chữa ho như viễn chí, cát cánh, cam thảo, thiên môn, mạch môn,…
- Một số dược liệu chưa saponin có tác dụng thông tiểu như rau má, tỳ giải,
thiên môn, mạch môn,…
- Saponin có mặt trong một số vị thuốc bổ như nhân sâm, tam thất và một số
cây thuộc họ nhân sâm khác.
- Saponin làm tăng sự thấm của tế bào: sự có mặt của saponin sẽ làm cho các
hoạt chất khác dễ hòa tan và hấp thu.

hợp chất phenol là: flavonoid, xanthon, courmarin, quinon, các phenol đơn vòng, các
polyphenol (ligin, tanin, ).
Các hợp chất phenol dễ tan trong nước vì chúng thường hiện diện trong cây ở
dạng glycosid. Nhiều hợp chất phenol có màu sắc tự nhiên, nên có thể đựa vào đặc
điểm này để theo dõi chúng trong quá trình chiết tách, cô lập chúng ra khỏi cây cỏ.
Các hợp chất phenol thường bị hủy hoại do tác dụng của enzmye phenolase vốn luôn
có trong cây vì thế nên sử dụng alcol nóng để chiết tách do alcol giúp hạn chế tác
dụng của enzyme này.
Sinh tổng hợp các hợp chất đã được biết từ rất sớm, đi từ ba amino acid là
phenylamin, tyrosin, tryptophan. Quá trình này xảy ra ngang một chuỗi các phản ứng
phức tạp để cho phenylalanin, tyrosin, tryptophan và từ đó dẫn đến những hợp chất
phenol.
2.2. Khái niệm chung về Thin layer chromatography (TLC)
2.2.1. Tổng quát về TLC
Kỹ thuật sắc ký đã được sử dụng từ nhiều thế kỷ trước để tách các phẩm
nhuộm từ cây cỏ. Đến thập kỷ 1930 – 1940, phương pháp này được phát triển nhanh
chóng với nhiều kỹ thuật khác nhau. Có các loại sắc ký: sắc ký giấy (kỹ thuật sớm
nhất, hiện nay ít được sử dụng vì hiệu quả tách kém thua kỹ thuật sắc ký lớp mỏng),
sắc ký lớp mỏng, sắc ký trao đổi ion, sắc ký lọc gel, sắc ký ái lực, sắc ký lỏng hiệu
năng cao, điện di.
Sắc ký lớp mỏng còn gọi là sắc ký phẳng, dựa chủ yếu vào hiện tượng hấp thu
trong đó pha động là một dung môi hoặc hỗn hợp các dung môi, di chuyển ngang
qua một pha tĩnh là một chất hấp thu trơ, mỏng, đều, phủ lên một nền phẳng như tấm
Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
16

kiến, tấm nhôm hoặc tấm plastic. Do chất hấp thu được tráng thành một lớp mỏng
nên phương pháp này được gọi là sắc ký lớp mỏng.
 Bình sắc ký: một chậu, hũ, lọ,… bằng thủy tinh, hình dạng đa dạng, có nắp
đậy.

chuyển nhanh và các hợp chất rất phân cực di chuyển chậm.
2.2.1.1. So sánh TLC với kỹ thuật sắc ký khác
Sắc ký lớp mỏng có ưu điểm: sử dụng ít chất hấp thu, cần rất ít mẫu phân tích
(vi lượng), quá trình triển khai sắc ký nhanh nên trong một thời gian ngắn có thể biết
ngay kết quả mẫu cần phân tích có chứa bao nhiêu chất khác nhau.
So với phương pháp sắc ký lớp mỏng, phương pháp sắc ký cột cổ điển cho kết
quả kém hơn do phải sử dụng một lượng lớn chất hấp thu, chất mẫu và dung môi nên
quá trình thực hiện phải kéo dài, dẫn theo kết quả không tốt. Tiếp theo, kỹ thuật sắc
ký lớp mỏng mới là sắc ký cột chớp nhoáng (flash column chromatography) do có sử
dụng thêm áp suất nên rút ngắn được thời gian thao tác và khả năng tách riêng các
chất ra khỏi hỗn hợp ban đầu, đã cho kết quả gần đạt được so với sắc ký lớp mỏng,
tuy vật vẫn mất thời gian. Những năm gần đây kỹ thuật sắc ký lỏng cao áp cho kết
quả nhanh, tốt, cả về mặt định tính lẫn định lượng nhưng máy rất đắt tiền, không phải
phòng thí nghiệm nào cũng có khả năng trang bị.
Bảng 2.1: so sánh các đặc trưng của các kỹ thuật sắc ký
Sắc ký lớp
mỏng
Sắc ký cột
cổ điển
Sắc ký cột
chớp
nhoáng
Sắc ký khí Sắc ký
HPLC
Cơ chế sắc

Hấp thu /
phân chia
Hấp thu Hấp thu Phân chia Phân chia
Tính chất

Vài phút
đến vài giờ
Nhiều giờ Vài mươi
phút
Vài phút Vài phút
Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
18

Hiệu quả
tách chất
định tính
Rất tốt Cần sắc ký
vài lần
Cần sắc ký
vài lần
Rất tốt Rất tốt
Hiệu quả
tách chất
định lượng
Có thể Cần sắc ký
vài lần
Cần sắc ký
vài lần
Rất tốt Rất tốt
Khả năng
tách lượng
lớn mẫu
Có thể Rất tốt Rất tốt Có thể,
nhưng rất
khó

TLC (sắc ký lớp mỏng) là phương pháp định tính vì thế mỗi vết chấm trên bản
không nên chứa nhiều hơn 12 microgam (10 microgram là tối ưu) mẫu chất. Với một
mẫu, có thể chấm nhiều lần, nhưng giữ cho vết chấm đừng lan rộng ra trên bản, vết
phải có đường kính từ 2 – 5 mm; muốn thế, sau mỗi lần chấm, dùng miệng thổi hơi
nhẹ hoặc dùng máy sấy nhẹ để dung môi bay đi khỏi vết chấm, rồi mới chấm tiếp
theo vài lần nữa cho đến khi đủ lượng cần cho một vết chấm.
Sau khi chấm hoàn tất, dùng máy sấy nhẹ để dung môi bay đi khỏi vết chấm,
rồi nhúng bản vào dung dịch giải ly; điều này đặc biệt cần thiết nếu dung dịch pha
mẫu là nước hoặc loại dung môi có độ bay hơi kém.
Nếu cần khảo sát một lượt nhiều mẫu khác nhau, chuẩn bị các dung dịch mẫu
này, mỗi dung dịch mẫu chấm lên cùng một bản, vết này cách vết kia 1cm. Hai vết ở
ngoài bìa phải các bờ cạnh 1.5 cm (đối với có kích thước 20 x 20cm).
Với bản sắc ký lớp mỏng điều chế, dung dịch mẫu sẽ được chấm lên bản
thành một đường dài, đều, dọc theo mức xuất phát. Có thể áp dụng khoảng 10 mg
cho một bản có kích thước 20 x 20 cm và chiều dầy bản 5mm. Trên mức kết thúc
dung môi (cách bờ cạnh trên 0.5 – 1 cm), nên dùng một đầu viết chì vót nhọt vạch
một đường hằn xuống lớp hấp thu. Làm như thế, khi dung môi giải ly đi lên đến đầu
trên sẽ bị buộc phải ngừng lại, giúp cho mỗi bản sẽ có kết thúc giống như nhau.
Khi dung môi lên đến đầu trên của bản, không nên để bản ở lâu trong bình,
nên lấy bản ra khỏi bình giải ly, vì sự khuyếch tán và sự bay hơi dung môi có thể làm
các vết vừa tách được sẽ bị trải dài ra.
Ngoài ra, các nhà xản xuất có bán sẵn các thiết bị tự động để chấm mẫu lên
lớp mỏng. Các loại thiết bị này giúp chấm dung dịch mẫu lên lớp mỏng với lượng thể
tích xác định chính xác.

Đồ án tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo
20

2.2.2.2. Giải ly bản mỏng
Chuẩn bị bình có kích thước lớn hơn một chút so với kích thước của bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status