TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ - Pdf 24


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài:

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARISTOTLE
- NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ

NTH : PHAN THỊ HỒNG
STT : 61 – nhóm 7
LỚP : ĐÊM 5 – K21
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU

Từ buổi ban đầu của văn minh lịch sử nhân loại, con người đã khát khao
hiểu biết được vũ trụ và thế giới tự nhiên, luôn đặt ra những câu hỏi nhằm làm rõ
nguyên lý của các sự vật hiện tượng và cố gắng giải thích chúng. Khi con người
bắt đầu nghiên cứu về thế giới và con người với tư cách là một chỉnh thể, với
mong muốn tìm ra những quy luật chung nhất, chi phối sự vận động của chỉnh
thể đó nói chung và của xã hội loài người, và thể hiện nó một cách có hệ thống
dưới dạng duy lí, thì từ đó các tư tưởng triết học đầu tiên được hình thành.
Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, Aristotle là một trong số những triết
gia lớn nhất, ông đã để lại cho hậu thế một di sản triết học đồ sộ, mà những học
thuyết của Aristotle đã chi phối khoa học Âu châu trong suốt hơn 1000 năm dưới
thời trung đại.
Quá trình tìm hiểu tài liệu và viết đề tài về Aristotle đã đem lại cho người
viết những kiến thức bổ ích và thú vị. Cách sống, học tập và làm việc của
Aristotle thực sự là tấm gương cho những người muốn tìm hiểu, học hỏi nền tri
thức của nhân loại. Bằng những cố gắng tìm hiểu về các tác phẩm của ông, và
những khảo cứu của các tác giả về triết học Aristotle, người viết cố gắng trình
bày một cách ngắn gọn tư tưởng của Aristotle với những giá trị và hạn chế của nó
đối với xã hội thời bấy giờ.
Người viết đã dùng những tài liệu sau để làm tài liệu tham khảo như: Đại
cương về lịch sử triết học của TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên); Triết học và bức
tranh vật lý học về thế giới của TS Bùi Văn Mưa; Những Câu Chuyện Triết Học

một loại tri thức mà ông nghĩ có thể gọi một cách chính đáng là minh triết (hay
sự khôn ngoan). Tác phẩm này bắt đầu bằng phát biểu rằng: “Mọi người tự bản
Trang 3
chất đều muốn hiểu biết”. Theo ông tri thức có những cấp bậc khác nhau, và Siêu
hình học nghiên cứu về cấp trừu tượng cao nhất. Đây là tri thức trừu tượng vì nó
nói về cái phổ biến chứ không nói về cái riêng. Trong khi các khoa học khác đi
tìm câu trả lời cho câu hỏi:“Các nguyên lý và nguyên nhân đầu tiên của các sự
vật như thế nào và tại sao? ”thì Siêu hình học của Aristotle lại quan tâm đến vấn
đề “tồn tại nghĩa là gì? ”
Bắt đầu từ trường phái Elée quan niệm về tồn tại đã trở thành vấn đề trung
tâm của triết học cổ đại. Việc thừa nhận tồn tại trở nên đơn giản hơn nhiều so với
những cuộc tranh luận, thậm chí là luận chiến về bản chất của tồn tại. Aristotle đã
tiếp nối các bậc tiền nhân như: Parménide, Démocrite, Socrat và người thầy của
mình, Plato. Theo Aristotle vấn đề chính của Siêu hình học là nghiên cứu cái hiện
hữu cùng các “nguyên lý” và “nguyên nhân” của nó. Theo Aristotle “tồn tại”
luôn luôn có nghĩa là một cái gì đó. Vì vậy, mọi tồn tại đầu là một cá thể và có
một bản chất xác định. Mọi phạm trù mà Aristotle trình bày trong các tác phẩm
lôgic học, các phạm trù như: phẩm chất, tương quan, tư thế, địa điểm, v.v… đều
giả thiết có một chủ thể mà những thuộc tính này có thể gán vào. Chủ thể này
được Aristotle gọi là thực thể (ousia). Do đó, “tồn tại” có nghĩa là một thứ thực
thể cụ thể do kết quả của một quá trình hoạt động. Như thế Siêu hình học gắn liền
với cái hiện hữu (nghĩa là thực thể tồn tại) và các nguyên nhân của nó (nghĩa là
quá trình làm cho các thực thể trở nên tồn tại).
1.2.1. Thực thể là bản chất sơ đẳng của sự vật:
Mối quan tâm trọng yếu của Siêu hình học là nghiên cứu về thực thể, bản
chất cốt yếu của một vật. Thực thể là cái chúng ta biết là cơ bản một vật, từ đó
chúng ta có thể nói các điều khác về nó. Bất cứ khi nào chúng ta xác định cái gì
đó, thì chúng ta đi vào bản chất của nó trước khi có thể nói điều gì về nó. Đương
nhiên cùng một thực thể nhưng vẫn tồn tại những phẩm chất đặc thù riêng biệt
nhất định, và chúng cùng mang một đặc tính phổ quát nào đó giúp chúng ta nhận

Trang 5
phạm trù của Aristotle đã được nhận xét như sau: “mặc dù còn mang tính trực
quan, cảm tính, số lượng các phạm trù còn hạn chế nhưng đó là những phạm trù
phản ánh những hình thức cơ bản, phỏ biến của tồn tại và có ý nghĩa to lớn trong
việc nghiên cứu những hình thức của tư duy, công cụ của nhận thức. Vì vậy
không thể phủ nhận các phạm trù của Aristotle là sự thống nhất giữa nhận thức
luận, bản thể luận và ngôn ngữ”.
Trong Lôgic học của mình, Aristotle quan niệm rằng để chuyển những suy
tư của chúng ta về sự tồn tại và hoạt động của sự vật thì ngôn từ chính là phương
tiện truyền tải quan trọng nhất. Do đó, ngôn ngữ chính là công cụ để phát biểu
những tư duy khoa học. Vì thế lôgic học là sự phân tích về ngôn ngữ, về tiến
trình suy luận và về cách thức mà ngôn ngữ và suy luận liên quan đến thực tại.
Do rất quan tâm đến sự chặt chẽ của hệ thống lý luận và ‘thích thú với cắt nghĩa
chứng minh’, Aristotle đã khai triển về cách suy luận diễn dịch và hình thành nên
học thuyết Tam đoạn luận.
Mặc dù hệ thống lôgic học của Aristotle chưa thực sự hoàn hảo. Thế
nhưng, chúng ta có thể nói không có một lôgic nào hơn lôgic của ông ở thời cổ
đại. Đây chính là cống hiến to lớn của Aristotle cho sự phát triển của tư duy nhân
loại.
1.4. Vật lý học:
Một trong những vấn đề quan trọng của Triết học phải được xem xét và
giải quyết là vấn đề vận động. Quan niệm vận động được Aristotle đề cập cả
trong Siêu hình học và Vật lý học. Trong Siêu hình học Aristotle đã chia thành 4
dạng vận động cơ bản là: 1) Tăng và giảm; 2) Biến đổi về chất; 3) Xuất hiện và
diệt vong; 4) Chuyển dịch vị trí.
Trong 4 dạng vận động này thì dạng vận động chuyển dịch vị trí trong
không gian được xem là quan trọng nhất vì nó là điều kiện của 3 dạng còn lại.
Tăng hay giảm chỉ là sự dời đổi vị trí không gian. Còn nguyên nhân dẫn
đến sự biến đổi về chất trong vật thể là do kết cấu của vật thể đang biến đổi mà
điều kiện của biến đổi kết cấu là vận động trong không gian. Sự xuất hiện và diệt

này thì linh hồn giữ vai trò chủ đạo “linh hồn là công thức quyết định bản chất
Trang 7
của sự vật”. Theo Aristotle cả hai linh hồn và thể xác không thể tồn tại thiếu
nhau, nhưng chúng không phải đồng nhất là một. Ông nói: “Chúng ta có thể hoàn
toàn bác bỏ câu hỏi: Linh hồn và thể xác có phải là một hay không? Câu hỏi này
cũng vô nghĩa như câu hỏi sáp và hình thù trao cho sáp có phải là một hay
không?”.
Aristotle phân biệt các loại hồn để diễn tả ba cách tổ chức khác nhau của
một cơ thể. Ông gọi là Thảo hồn (linh hồn thực vật), Giác hồn (linh hồn động
vật) và Linh hồn (linh hồn lý tính). Chúng biểu hiện các khả năng hoạt động khác
nhau của một cơ thể: loại thứ nhất chỉ là chức năng sống đơn thuần. Loại thứ hai
là sống bằng cảm giác, nó có khả năng cảm ứng đối với môi trường xung quanh
thông qua các biểu tượng cảm tính, qua nhu cầu và vận động. Loại thứ ba là linh
hồn lý tính, loại này có khả năng nhận thức, làm chủ được các quá trình tư duy
của nó, là dạng linh hồn cao nhất và chỉ có duy nhất ở con người.
1.6. Học thuyết chính trị - xã hội:
Cũng như trong đạo đức học, Aristotle lại một lần nữa nhấn mạnh yếu tố
mục đích. Nhà nước cũng như con người được Aristotle gắn với nhau rất chặt
chẽ. Ông khẳng định: “ai không thể sống trong xã hội, hay không có nhu cầu vì
tự mình đầy đủ cho mình, người ấy là một con vật hay là một vị thần”. Nếu gia
đình tồn tại trước hết là để duy trì sự sống, thì nhà nước là để duy trì sự sống cho
các gia đình và làng xóm. Do nhu cầu lâu dài, gia đình và làng xóm không đáp
ứng được nhu cầu cho chính mình. Vì thế nhà nước không phải là hiện thân của
sự thống trị mà sứ mệnh của nhà nước là đảm bảo hạnh phúc và công lý cho mọi
người, trừ nô lệ.

Theo ông, trong một số trường hợp có thể tổ chức thành ba loại chính
quyền khác nhau: do một, một ít hay nhiều người cai trị. Các hình thức chính
quyền chân chính gồm có: chế độ quân chủ (một), quí tộc (một ít) và tổ chức nhà
nước (nhiều). Các hình thức suy đồi gồm: chế độ chuyên quyền (một), đầu sỏ

Trang 9
1) Phẩm hạnh trí tuệ: là sự khôn ngoan triết học và hiểu biết, chúng phát
sinh và tăng trưởng nhờ dạy dỗ và học tập. Người có phẩm hạnh trí tuệ là người
có tri thức kinh nghiệm, định hướng và làm chủ được trong đời sống của mình.
2) Phẩm hạnh luân lý: Mọi phẩm hạnh luân lý phải được học và thực
hành, chúng trở thành đức hạnh qua hành động. Các phẩm hạnh luân lý cốt yếu
là: can đảm, tiết độ, công bằng, khôn ngoan, cao thượng, hào phóng, bằng hữu và
tự trọng.
Với những quan niệm này chứng tỏ Aristotle đã nhận thấy sự ảnh hưởng
của ngoại cảnh tác động đến việc hình thành đạo đức và nhân cách của con
người. Mặc dù vậy, khi đứng trên lập trường giai cấp Aristotle đã không coi nô lệ
là người và ông khẳng định đạo đức của họ không giống với đạo đức của chủ nô.
Đây chính là điểm bất hợp lý trong quan niệm đạo đức của Aristotle.
1.8. Thẩm mỹ học và những tư tưởng kinh tế học của
Aristotle:
Vượt qua những bậc thầy tiền bối của mình về mặt nghiên cứu thế giới
nghệ thuật, ông đã bước qua ngưỡng cửa của thế giới đầy nhạy cảm này và khai
sinh ra một bộ môn khoa học mới, đó là Mỹ học (Aesthetics).
Cơ sở lý luận của Mỹ học Aristotle là quan niệm về sự thống nhất giữa vật
chất và hình dạng. Nghệ thuật không phải là ý niệm mà là toàn bộ hoạt động vật
chất và sản phẩm tạo ra trong quá trình hoạt động đó của con người. Do vậy
nhiệm vụ của nghệ thuật là phản ánh hiện thực thông qua sự mô phỏng, bắt
chước. Ông khẳng định nghệ thuật mô phỏng thiên nhiên và truyền đạt thông tin
về thiên nhiên: “Nghệ thuật trong một số trường hợp hoàn thành những cái mà
giới tự nhiên không thể làm được, trong một số trường hợp khác mô phỏng nó”.
Thế nhưng, mỗi dạng nghệ thuật có cách mô phỏng, bắt chước riêng.
Trang 10
Chương 2: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG
CỦA ARISTOTLE
2.1. Giá trị:

tiên đã tổng kết, khái quát lịch sử tri thức nhân loại và đưa triết học phát triền lên
tầm cao mới nhờ việc phê phán học thuyết về “con số" của Pitago, học thuyết về
“ý niệm" của Platon. Có lẽ là như vậy, lịch sử triết học đã ra đời từ đó. Nét đặc
biệt của thời đại Aristotle chính là giai đoạn tổng kết và tích luỹ tri thức mà
người cổ đại đã đạt được là giai đoạn mà sự vận động và tiến bộ xã hội diễn ra rất
nhanh, trên nền tảng ấy triết học phát triển và đã đem lại một cách nhìn mới về
thế giới trong một chỉnh thể thống nhất.
- Aristotle trong các tác phẩm về giáo dục, chính trị học và đạo đức học
đã đưa ra những quan điểm hết sức sâu sắc về vai trò, mục đích của giáo dục, về
hệ thống giáo dục và sư phạm học Theo Aristotle, do bản chất của mình, con
người vốn đã có những năng khiếu đặc biệt, nhưng chỉ có thể bằng giáo dục thì
con người mới học được cách làm người, mới trở thành con người thực thụ, con
người hoàn thiện. Chính thông qua giáo dục mà nền văn hoá của nhân loại được
tạo dựng. Điều mà ông nói về vai trò của giáo dục trong xã hội, về một hệ thống
giáo dục thường xuyên và một nền giáo dục cho hòa bình, về sư phạm học đã
khiến cho những người có trách nhiệm đối với nền giáo dục hiện thời phải suy
ngẫm.
- Những tư tưởng triết học của Aristotle phác thảo ra đã định hướng cho
sự thống trị tư tưởng phương Tây. Đáng kể nhất là hệ thống bách khoa toàn thư
của Aristotle mà hầu hết hoạt động khoa học của phương Tây cho tới thế kỷ
XVII đựơc thực hiện dựa trên nền những tác phẩm của ông từ thế kỷ IV trước
Công nguyên, và ngay cả khi khoa học đã vượt xa ông, người ta vẫn tiếp tục
theo định hướng ấy và tiếp tục sử dụng công cụ nhận thức của ông.
Trang 12
2.2. Hạn chế:
- Bên cạnh những tri thức khoa học đúng đắn mà Aristotle đem đến cho
loài người ông cũng không thể tránh khỏi những sai lầm do hạn chế của thời đại.
Một số tư tưởng của ông phản lại những tiêu chuẩn đạo đức ngày nay. Ví dụ, ông
tin vào sự kém cỏi tự nhiên của người phụ nữ hay ông ủng hộ chế độ nô lệ. Theo
Aristotle, có hai loại nô lệ: những kẻ sinh ra đã là nô lệ và những kẻ bị buộc làm

nhận thuyết chân không, quan điểm vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ, những sai
lầm này đã ảnh hưởng tới nền khoa học tự nhiên mấy trăm năm sau khi ông mất.
- Chúng ta cũng có thể bất đồng ý kiến với Aristotle về tam đoạn luận, khi
Aristotle cho rằng tam đoạn luận là một lối suy luận thông thường và chính xác
trong khi ngày nay chúng ta có khuynh hướng coi rằng tam đoạn luận cũng là
một mánh lới để thuyết phục kẻ khác. Ông tưởng rằng tư tưởng con người đi từ
các nguyên đề để tìm ra kết luận trong khi trên thực tế có rất nhiều trường hợp
con người đi tìm kết luận trước rồi mới cố đặt ra những nguyên đề để chứng
minh kết luận của mình.
- Công trình nghiên cứu của Aristotle về đạo đức học bị ảnh hưởng quá
nhiều của luận lý học. Kết quả là đã tạo ra một công trình quá khô khan không
đủ sức ảnh hưởng và thúc đẩy con người tự cải thiện. Lý tưởng của Aristotle quá
đặt trọng vào một cuộc sống bình thản, quá ôn hòa, một đời sống chỉ phù hợp với
giai cấp thượng lưu.
Trang 14
KẾT LUẬN

Tìm hiểu về triết gia Aristotle và nền học thuật của ông khi biết rằng ở thời
đại của ông tri thức sơ khai còn hạn hẹp và tư duy trừu tượng còn chưa phát triển,
thế nhưng đã khiến chúng ta phải thán phục, ngưỡng mộ sự nổi bậc về các nghiên
cứu khoa học sáng tạo và thực tiễn của Aristotle .

3. Nguyễn Tiến Dũng, Lịch Sử Triết Học Phương Tây, Nxb Tổng Hợp
Tp.HCM, 2006.
4. Đỗ Minh Hợp - Nguyễn Thanh - Nguyễn Anh Tuấn, Đại cương Lịch sử
Triết học Phương Tây, Nxb Tổng Hợp Tp.HCM, 2006.
5. SAMUEL ENOCH STUMPF, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy (dịch), Lịch
Sử Triết Học và Các Luận Đề, Nxb Lao Động, 2006.
6. TED HONDERICH (chủ biên), Hành trình cùng Triết Học, Nxb Văn Hoá
Thông Tin - Hà Nội, 2006.
7. SAMUEL ENOCH STUMPF & DONALD C. ABEL, Lưu Văn Hy (dịch),
Nhập Môn Triết Học Phương Tây, Nxb Tổng Hợp Tp.HCM, 2006.
8. BRYAN AGEE, Huỳnh Phan Anh-Mai Sơn (dịch), Câu Chuyện Triết
Học, Nxb Thống Kê - Hà Nội, 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status