từ ngữ chỉ đất rừng và con người trong truyện đất rừng phương nam - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TỐNG THỊ LOAN

TỪ NGỮ CHỈ “ĐẤT RỪNG” VÀ “CON NGƢỜI”
TRONG TRUYỆN ĐẤT RỪNG PHƢƠNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60 22 01 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS TẠ VĂN THÔNG

THÁI NGUYÊN - 2013 THÁI NGUYÊN - 2013

i

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 11
1.1. Một số khái niệm về ngữ pháp và ngữ nghĩa 11
1.1.1. Ngữ pháp 11
1.1.1.1. Từ và ngữ (hay đoản ngữ) 11
1.1.1.2. Sự phân loại từ và ngữ trong tiếng Việt 18
1.1.2. Ngữ nghĩa 19
1.1.2.1. Nghĩa là gì? 19
1.1.2.2. Trường nghĩa là gì? 20
1.2. Ngôn ngữ và văn học 21
1.2.1. Ngôn ngữ - chất liệu sử dụng trong văn học 21
1.2.2. Ngôn ngữ vừa là phương tiện truyền tải, vừa là đích hướng tới của
văn học 23
1.3. Ngôn ngữ và văn hoá 24
1.3.1. Văn hoá là gì? 24
1.3.2. Ngôn ngữ vừa là một thành tố văn hoá, vừa là phương tiện để phản
ánh, lưu giữ và phát triển nhiều thành tố văn hoá khác 27
1.4. Vài nét về vùng đất phương Nam 29
1.5. Giới thiệu về nhà văn Đoàn Giỏi và truyện Đất rừng phương Nam 31

3.1.2. Thế giới thực vật 65
3.1.3. Thế giới “vô sinh” 66
3.1.4. Các địa điểm 68
3.2. Các từ ngữ chỉ “con người” với những quan hệ, dáng vẻ, cách cư xử
và phong tục tập quán…ở phương Nam 72
iii

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.3. Các từ ngữ chỉ “đất rừng” và “con người” với không khí những ngày
đầu kháng chiến chống Pháp ở phương Nam 82
3.4. Các từ ngữ chỉ “đất rừng” và “con người” với những bước đường trôi
nổi phiêu lưu của nhân vật “tôi”- An trên con đường đến với du kích quân
kháng chiến 94
3.5. Các từ ngữ chỉ “đất rừng” và “con người” với cái “tôi” nghệ thuật của
nhà văn Đoàn Giỏi 101
TIỂU KẾT 102
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC -1-
iv

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Một số từ ngữ xuất hiện với tần số cao trong tác phẩm 37
Bảng 2.2: Các từ chỉ “đất rừng” và “con người” xét về cấu tạo 41
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát danh ngữ chỉ “đất rừng” và “con người”
trong tác phẩm 43

người nói, qua việc định danh hay sự ghi nhận bằng phương tiện ngôn ngữ, đối
với các sự vật hiện tượng của hiện thực này.
1.2. Truyện Đất rừng phương Nam (xuất bản lần đầu năm 1957) của Đoàn
Giỏi là một tác phẩm rất nổi tiếng, đã được xem là một trong những tiểu thuyết
Việt Nam viết cho thiếu nhi hay nhất, được viết với một cốt truyện phiêu lưu
với nhiều tình tiết bất ngờ, oái oăm, bi tráng , nhưng nhiều chỗ lại rất trữ tình
nên thơ. Đất rừng phương Nam không chỉ thể hiện vẻ đẹp giàu có đến kì lạ của
thiên nhiên vùng cực Nam đất nước, cũng như cuộc sống của nhiều tầng lớp
người suốt hai triền sông Tiền và sông Hậu, vào đến rừng U Minh, với những
phong tục tập quán, cách sinh hoạt đặc sắc và cả những nét tính cách riêng của
con người vùng sông nước Nam Bộ, mà còn thu hút bạn đọc bởi tình người sâu
sắc trên từng trang tác phẩm. Tác phẩm đã được dựng thành phim (có tên là
Đất Phương Nam, năm 1997), với bài hát trong phim rất nổi tiếng của nhạc sĩ
Lư Nhất Vũ: Bài ca đất phương Nam
Trong số các nhân tố làm nên sự thành công của tác phẩm, không thể
không kể đến tài năng sử dụng tiếng Việt, trong đó có các từ ngữ thuộc các
trường nghĩa khác nhau, của nhà văn Đoàn Giỏi.
1.3. Ai đã một lần đọc Đất rừng phương Nam hay xem phim Đất Phương
Nam đều khó có thể quên cảnh rừng đước, sân chim, rắn, cá sấu, và cảnh sông
2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nước mênh mang , cùng những nhân vật như bé An, thằng Cò, chú Võ Tòng,
dì Tư Béo, Tư Mắm, ông Hai Đó là tất cả những gì thuộc “đất rừng” và “con
người” của vùng đất cực Nam này, vào một thời cách đây hơn nửa thế kỉ, là
hiện thực được phản ánh sinh động nhất trong truyện. Trong Đất rừng phương
Nam, các nhân vật và cảnh vật nói trên đã được kể bằng một ngôn từ nghệ
thuật rất khéo léo, gợi hình gợi cảm. Vậy các lớp từ ngữ thuộc trường “đất
rừng” và “con người” trong tác phẩm có những đặc điểm gì, những nét văn

- Cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1999) gồm 312 trang, được chia năm phần riêng có liên kết chặt chẽ với
nhau theo trục “từ vựng - ngữ nghĩa”. Phần mở đầu, phần thứ nhất và phần thứ
hai nghiên cứu các đơn vị từ vựng như những chỉnh thể hình thức (phần I) và ý
nghĩa (phần II) - cũng là sự nghiên cứu các đơn vị tách biệt của từ vựng; phần
thứ ba và thứ tư nghiên cứu toàn bộ từ vựng như hệ thống của những đơn vị
tách biệt trên; và phần thứ năm có tính chất là phần ứng dụng và thử nghiệm.
Trong cuốn giáo trình đồ sộ này, Đỗ Hữu Châu đã dành ra cả chương IX
thuộc phần thứ ba - hệ thống từ vựng hệ thống ý nghĩa để nói về các trường
nghĩa. Trong chương IX tác giả đã nêu khái niệm “trường nghĩa” và cách phân
loại các trường nghĩa căn cứ vào hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ học mà
F.de Saussure đã chỉ ra là quan hệ hình tuyến (quan hệ ngang) và quan hệ trực
tuyến (quan hệ dọc), theo đó chia trường nghĩa thành hai loại: trường nghĩa
ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến).
Trong trường nghĩa dọc có hai trường nghĩa nhỏ là trường biểu vật và trường
biểu niệm. Phối hợp trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc ta có trường
nghĩa liên tưởng.
- Cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học (Nguyễn Thiện Giáp - chủ biên, Đoàn
Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2010) cũng dành sự
chú ý cho trường từ vựng - ngữ nghĩa. Cụ thể: trong chương bốn: Từ vựng,
mục B: Ý nghĩa của từ và ngữ, VII - Trường nghĩa [tr.108-112], Nguyễn Thiện
Giáp đã trình bày một số cách hiểu về trường nghĩa:
Lí thuyết trường nghĩa ra đời vào mấy chục năm gần đây. Tư tưởng cơ
bản của lí thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống. Có nhiều cách
4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hiểu khác nhau về khái niệm trường nghĩa, nhưng có thể quy vào hai khuynh
hướng chủ yếu:

Đặc biệt, người ta cũng coi là trường nghĩa cả những kết cấu ngữ nghĩa
của các từ đa nghĩa. Giữa các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa thường có
một yếu tố ngữ nghĩa chung, tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa. Toàn bộ các
nghĩa khác nhau của một từ tạo ra một trường nghĩa nhỏ nhất
2.2. Những nghiên cứu về Đoàn Giỏi và Đất rừng phƣơng Nam
Qua sự tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay chưa có một công trình nghiên
cứu chuyên sâu, hệ thống, toàn diện về Đoàn Giỏi và truyện Đất rừng phương
Nam cả về mặt lí luận văn học, lẫn trên bình diện ngôn ngữ học. Hiện chỉ có
một số bài lẻ tẻ đăng trên các trang Web và trong một vài cuốn sách. Theo kết
quả sưu tập được đến thời điểm này, có những tài liệu liên quan đến Đoàn Giỏi
và Đất rừng phương Nam như sau:
- Về tác giả Đoàn Giỏi:
1. Đỗ Thành Nam (2010), Nhà văn của núi cả, cây ngàn - Tư liệu văn hóa
- CAND.com.vn, http://vnca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=55484,
ngày 09/11/2010. Bài viết giới thiệu một vài nét về cuộc đời, sự nghiệp của
nhà văn Đoàn Giỏi; Những lời phát biểu của nhà văn Anh Đức, của nhà báo
Hàm Châu đã đánh giá cao về tài năng viết văn của Đoàn Giỏi và tác phẩm của
ông trong sự khâm phục và mến mộ của độc giả.
2. Đoàn Giỏi, tác giả và tác phẩm (8/4/2012),
http://www.fahasasg.com.vn/authors/tacgia_tacpham/noidung/doangioi.
htm.Bàsi .
Bài viết đã khẳng định Đoàn Giỏi là con đẻ và là kết tinh của văn hóa
phương Nam, là người đã hiến trọn vốn tinh thần và cảm hứng sáng tạo của
mình cho những người dân phương Nam. Dù bất cứ ở đâu, đồng nghiệp, bạn
bè, độc giả thương mến và ai đã từng tiếp xúc với ông đều có chung cảm giác:
nhớ nhà văn Đoàn Giỏi.
3. Trong tập tiểu luận - phê bình Tiếng vọng những mùa qua (NXB Trẻ,
2004), [email protected] , tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân nhận định
6



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Về tác phẩm Đất rừng phƣơng Nam:
1. Lê Hồng Thiện, Nhà văn Đoàn Giỏi viết “Đất rừng phương Nam”
nhanh như thế nào?, http://tin tức .xalo.vn/00…, www.sggp.org.vn
Bài viết khẳng định tài năng của Đoàn Giỏi: Ông chỉ viết Đất rừng
phương Nam trong khoảng thời gian chưa đầy một tháng với số lượng hơn 100
trang. Dù viết vội mà truyện vẫn hay, có lẽ là do hình ảnh quê hương đã ngấm
vào máu, vào từng câu chữ của ông cùng tình yêu quê hương luôn thường trực
trong lòng tác giả.
2. Đất rừng phương Nam (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
http://vi.wikipedia.org/ 8/4/2012.
Bài viết đã giới thiệu Đất rừng phương Nam là tiểu thuyết của nhà văn
Đoàn Giỏi viết về cuộc đời phiêu bạt của một cậu bé tên An. Bối cảnh của tiểu
thuyết là các tỉnh miền Tây Nam Bộ - Việt Nam vào những năm 1945, sau khi
thực dân Pháp quay trở lại xâm chiếm Nam Bộ. Bài viết gồm 4 phần: Tóm tắt
nội dung; Chương; Điện ảnh; Tham khảo
3. Giới thiệu sách hay, mục Đất rừng phương Nam của Đoàn
Giỏi(07/01/2007). http:// forum.quancoconline.com.
Bài viết có đôi lời giới thiệu về quyển sách Đất rừng phương Nam, đánh
giá đây là một quyển sách tuyệt vời, rất hấp dẫn đối với độc giả cả trong và
ngoài nước.
4. Câu trả lời hay nhất do người đọc bình chọn, http://
vn.answers.yahoo.com. Http:// hoinhavanvietnam.vn/news.asp cat=…
Bài viết đã khẳng định Đất rừng phương Nam chính là tác phẩm nổi bật
nhất trong quá trình sáng tác của nhà văn Đoàn Giỏi. Trong bài viết có sự giới
thiệu khái quát về giá trị của tác phẩm; điện ảnh; thành tựu nghệ thuật; và
ngoài lề.
5. Cuốn Từ điển văn học - bộ mới (Đỗ Đức Hiểu chủ biên, Nguyễn Huệ

- Khảo sát, thống kê và phân loại các từ ngữ chỉ “đất rừng” và “con
người” trong Đất rừng phương Nam.
- Miêu tả những đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ
“đất rừng” và “con người” trong Đất rừng phương Nam.
9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Chỉ ra hiện thực được phản ánh và cái nhìn của tác giả, một số nét văn
hóa đất phương Nam, qua việc sử dụng lớp từ ngữ chỉ “đất rừng” và “con
người” trong Đất rừng phương Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tác phẩm Đất rừng phương Nam
của Đoàn Giỏi, xuất bản năm 2010 (tái bản), gồm 20 chương, 332 trang, khổ
13 x 19 cm, Nxb Thời đại, Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu chỉ là các từ ngữ chỉ sự vật (các danh từ
và danh ngữ) thuộc trường nghĩa “đất rừng” và “con người” trong tác phẩm
Đất rừng phương Nam, chỉ về mặt hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa. Các từ ngữ
thuộc loại khác và các mặt khác của từ ngữ trong tác phẩm sẽ không được xem
xét, chẳng hạn đó là: các từ ngữ chỉ động tác, tính chất hoặc các từ ngữ thuộc
các trường nghĩa khác hoặc mặt ngữ dụng của các từ ngữ này
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp này được sử dụng để
tìm hiểu các quy luật xuất hiện của các từ ngữ chỉ sự vật thuộc “đất rừng” và
“con người” trong Đất rừng phương Nam, theo những mục đích miêu tả, phân
tích và đánh giá khác nhau.
- Phương pháp miêu tả : được sử dụng với các thủ pháp phân tích và
tổng hợp, nhằm chỉ ra những đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của lớp từ ngữ

gồm các chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn
Chƣơng 2: Đặc điểm của các từ ngữ chỉ “đất rừng” và “con người”
trong Đất rừng phương Nam
Chƣơng 3: Các từ ngữ chỉ “đất rừng” và “con người” với hình tượng
nghệ thuật trong Đất rừng phương Nam

11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

1.1. Một số khái niệm về ngữ pháp và ngữ nghĩa
1.1.1. Ngữ pháp
1.1.1.1. Từ và ngữ (hay đoản ngữ)
Từ là một trong số các đơn vị cơ bản nhất của ngôn ngữ. Nó ở vào vị trí
trung tâm của hệ thống ngôn ngữ, là cơ sở để con người tiến hành hoạt động
nhận thức và tạo ra mọi sản phẩm ngôn ngữ (cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản)
phục vụ cho nhu cầu giao tiếp. Với vai trò quan trọng ấy mà từ đã, đang và có
thể sẽ vẫn là đối tượng lâu dài, trung tâm của ngôn ngữ học được quan tâm
nghiên cứu. Tuy nhiên có một thực tế là trong nghiên cứu ngôn ngữ, định
nghĩa về từ luôn là một trong những vấn đề phức tạp. Hiện nay đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề định nghĩa từ, đã có tới trên 300 định
nghĩa về từ. Với mỗi mục đích nghiên cứu khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu lại
nhấn mạnh tới một phương diện của từ.
Như đã đề cập, từ tiếng Việt tồn tại nhiều tranh luận. Có thể nêu ra một
vài định nghĩa tiêu biểu về từ tiếng Việt như sau:

“Từ tiếng Việt là một đơn vị cơ bản trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt,
có hình thức ngữ âm cố định (bền vững hoặc một khối viết liền) và mang một ý
nghĩa nhất định”
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về từ của cuốn Cơ sở
ngôn ngữ học và tiếng Việt:
“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn
chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời
nói để tạo câu.
Từ có thể có một âm tiết hoặc hai, ba âm tiết trở lên”. [23, tr.141]
Như vậy, đơn vị cấu tạo nên từ của tiếng Việt là “tiếng” ( hay còn gọi
là các “từ tố, thành tố, yếu tố ”). Và để cấu tạo nên từ tiếng Việt có thể bằng
nhiều cách: bằng cách dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo một
lối nào đó.
13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt: Có ba phương thức
+ Từ hoá hình vị là phương thức tác động vào bản thân một hình vị, làm
cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ
mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó. Hay nói cách khác, dùng một
hình vị tạo thành một từ thực chất là cấp cho hình vị cái tư cách đầy đủ của
một từ.
Từ các hình vị: nhà, xe, đi, đẹp, chạy, ăn, ngủ…qua quá trình “từ hoá”
chúng trở thành các từ: nhà, xe, đi, đẹp, chạy, ăn, ngủ.
+ Ghép là phương thức tác động vào 2 hoặc hơn 2 hình vị có nghĩa, kết
hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý
nghĩa như một từ).
Ví dụ: Từ các hình vị: xe, đạp, áo, quần… quá trình ghép ta có các từ:
xe đạp, áo quần…

thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ. [9, tr.148].
Như vậy, trong hệ thống các tổ hợp tự do, đoản ngữ chiếm một vị trí
riêng biệt. Nó sẽ đối lập với liên hợp và mệnh đề về mặt quan hệ kết hợp như
trên vừa nói, ngoài ra còn đối lập cả ở một số phương điện khác nữa.
+ Xét về mối tương quan giữa đặc trưng của toàn tổ hợp với đặc trưng
của thành tố thì đoản ngữ cùng liên hợp đứng về một phía coi đặc trưng của
toàn tổ hợp không khác với đặc trưng của thành tố chính của chúng, đối lập
hẳn với mệnh đề coi đặc trưng của toàn tổ hợp hoàn toàn khác với đặc trưng
của từng thành tố chính của nó.
+ Xét về phương diện thành tố chính tham gia vào tổ hợp, đoản ngữ và
mệnh đề lại đứng về một phía, cùng đối lập với liên hợp. Liên hợp là loại tổ
chức chưa dứt khoát, vì số lượng thành tố chính không xác định. Còn đoản ngữ
và mệnh đề thì trái lại, đều là loại tổ hợp có tổ chức dứt khoát, với số lượng
thành tố chính đã được quy định: đoản ngữ bao giờ cũng chỉ có một thành tố
chính, mệnh đề bao giờ cũng phải có hai thành tố trung tâm.
Vì vậy, theo Nguyễn Tài Cẩn xác định: đoản ngữ là một loại tổ hợp tự
do có ba đặc điểm:
- Gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quây
quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt
ý nghĩa.
15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ví dụ 1: tỉnh lớn
Ví dụ 2: tỉnh lớn này
Ví dụ 3: tất cả mấy tỉnh lớn này
- Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chi tiết rất
khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quan hệ chính phụ.
- Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một

người, động vật, thực vật, sự vật, hiện tượng, ).
Danh từ chia thành hai loại: danh từ chung và danh từ riêng.
Danh từ chung bao gồm:
- Danh từ vật thể: chỉ người, động vật, thực vật,
- Danh từ chất thể: chỉ vật xét ở chất thể của chúng
- Danh từ tượng thể: chỉ các khái niệm chỉ vật tưởng tượng
- Danh từ tập thể: chỉ tập hợp các vật thường là đồng nhất được hình
dung thành một khối như: đàn, bầy, lũ, bọn
Như vậy, danh từ chính là kết quả của quá trình định danh (cách gọi
tên) các sự vật, hiện tượng thuộc các phạm trù khác nhau. Mỗi dân tộc với
điểm nhìn khác nhau thì cách gọi tên (định danh) cũng khác nhau và đó chính
là nét đặc trưng văn hoá riêng biệt của mỗi nước.Và qua cách gọi tên các sự
vật, hiện tượng ít nhiều cũng thể hiện được quan niệm, cách nhìn, thói quen và
tình cảm của mình trong đó. Đó chính là một trong những biểu hiện cụ thể của
mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá.
Danh ngữ là gì?
Danh ngữ là đoản ngữ (hay ngữ) có danh từ làm trung tâm.
Ở tiếng Việt, khi dùng danh từ để giữ một chức vụ này hay một chức vụ
khác trong câu, thường người ta còn hay đặt thêm một số thành tố phụ bên
cạnh nó để tạo thành đoản ngữ. Loại đoản ngữ có danh từ làm trung tâm như
thế gọi là danh ngữ.
Về cấu tạo, danh ngữ bao gồm hai phần chính:
+ Bộ phận trung tâm (do danh từ đảm nhiệm) chiếm vị trí nằm giữa
lòng đoản ngữ
+ Các thành tố phụ (định tố) chia làm hai bộ phận: phần đầu của đoản
ngữ (trước trung tâm) và phần sau của đoản ngữ (sau trung tâm).
17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trích đoạn Ngôn ngữ chất liệu sử dụng trong văn học Ngôn ngữ và văn hoá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status