Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ XUÂN
KHOA XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
========
TIỂU LUẬN
Tên đề tài : NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN
DU LỊCH ĐĂKLĂK THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Giaó viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Hoàng Lê Tạc Phạm Đình Duy
Lớp : ĐLDL3K7
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 1
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
LỜI CẢM ƠN
Khoá đã hoàn thành trong nột khoảng thời gian không phải là ngắn trong quá trình
thực hiện đề tài của bản thân đã có sự giúp đỡ của rất nhiều người mà tôi nêu dưới
đây chỉ là lời cảm ơn rất nhỏ bên cạnh những gì mà họ đã đóng góp.
Tôi xin bày tỏ biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Hoàng Lê Tạc, người đã tận tình hướng
dẫn và theo suốt quá trình bản thân thực hiện tiểu luận này.
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà trường, ban
chủ nhiệm khoa xã hội và nhân văn, ngành địa lý du lịch, các thầy cô trong trường
Đại học Phú Xuân - Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi để hoàn thành bài tiểu luận
này.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và tập thể lớp ĐLDL3K7 đã động viên
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm bài.
Tuy cố gắng hết sức, nhưng tiểu luận vẫn không tránh khỏi những thiết sót. Rất
mong nhận được sự đánh giá và đóng góp chân thành của quí thầy cô và các bạn.
Sinh viên thực hiện
Phạm Đình Duy
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 2
Huế, tháng 12/2011
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững tạo tiền đề cho quá trình
nghiên cứu.
- Khảo sát, đánh giá tài nguyên du lịch và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Dak Lak
trên quan điểm phát triển bền vững.
- Đề ra định hướng giải pháp phát triển du lịch tỉnh Dak Lak theo hướng bền vững.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề du lịch trên địa bàn tỉnh Dak Lak trong thời gian từ năm
2008 đến năm 2010. Phân tích tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch của tỉnh
Dak Lak trên quan điểm bền vững và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch theo
hướng bền vững.
Tiểu luận không nghiên cứu hết các nội dung liên quan đến đánh giá tài nguyên du
lịch cũng như không đi sâu vào các lĩnh vực chuyên ngành như kiến trúc, sinh
học, dân tộc học, môi trường, marketing.
5. Lịch sử nghiên cứu
5.1.Trên thế giới
Hơn 842 triệu người du lịch ra nước ngoài năm 2005, hơn 76,7 triệu việc làm được
tạo ra từ du lịch, doanh thu của du lịch chiếm 10,3 % GDP cả thế giới. Du lịch đang
là hiện tượng toàn cầu. Lợi nhuận khổng lồ thu được từ du lịch đã khiến cho nhiều
tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, môi trường bị ô nhiễm, và nền kinh tế -
xã hội của các lãnh thổ đón khách bị ảnh hưởng một cách tiêu cực. Một chiến lược
du lịch tôn trọng môi trường và quan tâm đến khả năng đáp ứng các nhu cầu trong
tương lai đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Từ khi cụm từ “phát triển bền vững” ra đời ở Đức vào năm 1980, nhiều nghiên
cứu khoa học đã được tiến hành nhằm phân tích những tác động của du lịch đến sự
phát triển bền vững, sự cần thiết phải bảo vệ tính toàn vẹn của môi trường sinh thái
trong khi khai thác du lịch. Chuyên gia du lịch người Thuỵ Sĩ Jos Krippendorf
(1975) và Jungk (1980) là những nhà khoa học đầu tiên trên thế giới cảnh báo về
những suy thoái do hoạt động du lịch gây ra và đưa ra khái niệm về du lịch rắn (hard
tourism) - loại hình du lịch ồ ạt, bằng xe hơi, gây ảnh hưởng nhiều nhất đối với môi
cũng ngày một nhiều hơn. Có thể điểm qua một số công trình như: Tổ chức lãnh thổ
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 5
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
du lịch Việt Nam, Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam 1995 - 2000, Quy hoạch
tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2010, Cơ sở Địa lý du lịch, Địa lý du lịch, Tổng
quan du lịch, nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn, ở những quy mô và phạm vi khác
nhau. Tất cả đều phục vụ cho du lịch và cũng cho thấy sự quan tâm sâu sắc đến môi
trường, đến khía cạnh bền vững trong du lịch Việt Nam.
Năm 1997, Tổng cục du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seiden (Đức) tổ
chức Hội thảo về Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam tại Huế, sau đó các hội
thảo khác về du lịch bền vững cũng được tổ chức như Hội thảo về du lịch sinh thái
với phát triển bền vững ở Việt Nam tại Hà Nội năm 1998, Hội thảo về Nâng cao
nhận thức và năng lực phát triển du lịch bền vững trong thời đại toàn cầu hoá tại Hà
Nội năm 2006 thu hút nhiều nghiên cứu, đóng góp của các nhà khoa học, các cán bộ
du lịch trong và ngoài nước tham gia.
Các hội thảo và các công trình nghiên cứu đều hướng đến sự phát triển bền vững
cho ngành du lịch Việt Nam, bằng nhiều cách khác nhau. Đó là dấu hiệu tốt cho định
hướng chiến lược phát triển du lịch của nước ta trong thời gian tới. Tuy nhiên, có thể
thấy rằng ngành du lịch Việt Nam đang còn non trẻ và những đóng góp của các nhà
khoa học về du lịch bền vững vẫn đang là bước khởi đầu và du lịch bền vững chưa
thực sự đi vào thực tiễn ở nhiều địa phương.
6. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1. Các quan điểm
6.1.1. Quan điểm hệ thống tổng hợp
Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống mở, gồm các thành phần tự nhiên, kinh
tế, xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chịu sự chi phối của nhiều quy luật
cơ bản.
Nghiên cứu du lịch không thể tách rời hệ thống kinh tế - xã hội của địa phương và cả
nước.
Quan điểm hệ thống giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể, khái quát của toàn bộ hệ
và tiêu dùng du lịch nhằm đạt đến sự cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi
trường. Luận văn quán triệt quan điểm này trong suốt quá trình đánh giá tiềm năng,
phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp.
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 7
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Thu thập, xử lí thông tin
Thu thập những tài liệu có liên quan ở các nguồn tin cậy, sắp xếp và xử lí tài liệu
một cách có hệ thống, phân tích từng nội dung đưa ra những kết luận đúng đắn nhất.
6.2.2. Phân tích, tổng hợp, so sánh
Thông tin, số liệu sau khi thu thập sẽ được so sánh, phân tích, tổng hợp cho phù
hợp với mục đích của từng phần. Quá trình tổng hợp sẽ có được cái nhìn bao quát về
du lịch Dak Lak. Qua phân tích, các thông tin được chắt lọc với độ tin cậy và mang
lại hiệu quả cao nhất.
6.2.3. Khai thác phần mềm hệ thống thông tin
Các thông tin, số liệu và dự báo trong tiểu luận được xử lý bởi phần mềm MS
Word, Excel, để thể hiện các phân tích, đánh giá, so sánh và xu hướng du lịch của
tỉnh Dak Lak.
6.2.4. Phương pháp thống kê
Sau khi thu thập thông tin, số liệu, tiến hành thống kê, sắp xếp chúng lại cho phù
hợp với cấu trúc của đề tài, trình tự thời gian và lập ra các bảng biểu về quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như ngành du lịch Dak Lak.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Dak Lak theo hướng bền vững.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Đăklăk theo hướng bền
vững.
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 8
1
. Nói cách khác,
phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 9
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần
kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện
nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường.
Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường
và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một
thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy
mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường.
Ở nước ta, trong báo cáo Chính trị lần thứ VIII (1996), Đảng ta đã đề cập đến việc
bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hợp lý như một cấu thành hữu cơ, không thể
tách rời của phát triển bền vững. Giai đoạn này, nội dung của phát triển bền vững chỉ
tập chung ở việc bảo vệ các nguồn tài nguyên trong môi trường tự nhiên.
Cùng với sự phát triển của đất nước và thế giới, nội dung của phát triển bền vững
được mở rộng trong lĩnh vực kinh tế , xã hội và mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế -
xã hội – môi trường với sự phát triển. Từ đó, vấn đề phát triển bền vững trở thành
quan điểm của Đảng lãnh đạo và được khẳng định tại Đại hội Đảng cộng sản toàn
quốc lần thứ IX, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm ( 2001 – 2010)
và trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm ( 2001- 2005) là “phát triển nhanh,
hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, côn bằng xã
hội và bảo vệ môi trường”.
1.1.2 Quan niệm chung về phát triển du lịch bền vững
Du lịch vốn là ngành kinh tế đa ngành, sự phát triển du lịch gắn liền với môi trường.
Nói cách khác, du lịch có nguồn tài nguyên rất đặc biệt, đó là tài nguyên tự nhiên
nằm trong môi trường tự nhiên và tài nguyên nhân văn nằm trong môi trường xã
hội . Một mặt du lịch có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi
trường, mặt khác , sự phát triển du lịch một cách tự phát lại là nguyên nhân chính
- Nguyên tắc 1 : Sử dụng tài nguyên một cách bền vững, bao gồm cả tài nguyên thiên
nhiên, xã hội và văn hoá. Việc sử dụng tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc
phát triển du lịch lâu dài.
- Nguyên tắc 2: Gỉam tiêu thụ quá mức và xả thải , nhằm giảm chi phí khôi phục các
suy thoái môi trường, đồng thới cũng góp phần nâng cao chất lượng du lịch.
- Nguyên tắc 3 : Duy trì tính đa dạng. Duy trì và phát triển tính đa dạng của tự nhiên,
xã hội và văn hoá là rất quan trọng đối với du lịch bền vững, tạo ra sức bật cho
nghành du lịch.
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 11
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
- Nguyên tắc 4 : Lồng ghép du lịch vào trong qui hoạch phát triển địa phương và quốc
gia.
- Nguyên tắc 5 : Hỗ trợ nền kinh tế địa phương. Du lịch phải hỗ trợ các hoạt động
kinh tế địa phương, phải tính toán chi phí môi trường vừa để bảo vệ nền kinh tế bản
địa cũng như tránh gây hại cho môi trường.
- Nguyên tắc 6 : Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương. Điều này không chỉ
đem lại lợi ích cộng đồng, cho môi trường mà còn tăng cường đáp ứng nhu cầu, thị
hiếu của du khách .
- Nguyên tắc 7 : Sự tư vấn của các nhóm quyền lợi và công chúng. Tư vấn giữa công
nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức, các cơ quan là đảm bảo cho sự
hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột nảy sinh.
- Nguyên tắc 8 : Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch, nhằm thực thi các sáng kiến và
giải pháp du lịch bền vững, nhằm thực hiện chất lượng của các sản phẩm du lịch
- Nguyên tắc 9 : Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm. Phải cung cấp cho du khách
những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách
đến môi trường tự nhiên , xã hội, văn hoá khu du lịch, qua đó góp phần thoả mãn
nhu cầu của khách du lịch.
- Nguyên tắc 10 : Triển khai các nghiên cứu, hỗ trợ nhằm giải quyết các vấn đề, mang
lại lợi ích cho các khu du lịch, cho các nhà kinh doanh du lịch và cho du khách.
1.1.4 Một số chỉ tiêu cơ bản về phát triển du lịch bền vững
1.2.2 Ở Việt Nam
Cùng với xu hướng phát triển của thế giới, Việt Nam đã xây dựng các mục tiêu phát
triển trên quan điểm bền vững. Nhà nước ban hành các văn bản pháp lý quan trọng
và tham gia vào công ước quốc tế về phát triển bền vững cũng như du lịch bền vững
như Luật di sản ban hành 2001, luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật du lịch, và một
số công ước như Công ước bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên năm 1972, Công
ước bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể năm 2003…
Như các nước đang phát triển , du lịch mang lại nguồn thu lớn cho Việt Nam, nhưng
cũng đồng thời phát sinh nhiều vấn đề như ôi nhiễm môi trường , du nhập những văn
hoá lai căng, sự bất bình đẳng về thu nhập….Cho nên một trong những vấn đề quan
trọng đối với Việt Nam trong phát triển du lịch bền vững là luôn quan tâm đến đời
sống vật chất, tinh thần của người dân bản địa song song với việc bảo vệ môi trường,
hệ sinh thái tự nhiên.
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 13
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH ĐĂKLĂK
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
2.1 Khái quát về tỉnh Đăklăk
2.1.1 Vị Trí địa lý
Tỉnh Đắk Lắk nằm trên địa bàn Tây Nguyên, trong khoảng tọa độ địa lý từ
107
o
28'57"- 108
o
59'37" độ kinh Đông và từ 12
o
9'45" - 13
o
25'06" độ vĩ Bắc.
o
c, nơi có nhiệt độ
cao nhất là EaSup 40
o
c )
Tổng giờ nắng trong năm cao, khoảng 2.139 giờ lượng mưa trung bình đạt khoảng
1.600 – 1.800 mm/ năm.
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 15
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 82%.
Tuy nhiên, do đặc điểm địa lý và độ phân hoá địa hình làm cho khí hậu Daklak có sự
phân hoá theo từng vùng khác nhau.
2.1.2.3 Thuỷ văn
Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều
bao gồm 3 hệ thống sông chính:
+ Hệ thống sông Srepok, chảy theo hướng Tây Bắc đổ vào sông Mê Kông .
+ Hệ thống sông Đồng Nai nằm ở phía Nam .
+ Hệ thống sông Ba, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh, đổ ra biển Đông
Trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ tự nhiên và nhân tạo có giá trị du lịch, cung cấp
nước sản xuất như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea Sô
Các sông chính: Xrê pôk có 2 nhánh Krông ana và Krông nô, sông Eakrông năng và
sông Ea Hleo…
2.1.2.4 Sinh vật
Diện tích rừng lớn nhất nước ta, có 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là
594.488,9 ha ( năm 2004), chiếm khoảng 50% toàn quốc có nhiều loài động thực
vật quý hiếm,( 300 000 loài cây, 90 loài thú, 197 loài chim), tập trung chủ yếu ở ea
suop
Khu bảo tồn thiên nhiên như: Yok đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin
Có 4 rừng đặc dụng: Chư Yang sin, Nam kar, Hồ Lăk, Ea sô.
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
của tỉnh.Tuy nhiên, trình độ lao động chưa tương xứng với tiềm năng.Đặc biệt, ở
Đăk Lăk còn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số như Êđê, Gia Rai,K ‘Ho,
Mường… với nhiều nết văn hoá đặc sắc.
2.2. Những điều kiện để phát triển hoạt động du lịch bền vững ở tỉnh Đăklăk
2.2.1 Tài nguyên du lịch tỉnh Đăk Lăk
2.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Với địa hình đa dạng và mang đặc điểm riêng về cấu tạo địa chất Đăklăk có tài
nguyên tự nhiên phong phú tạo thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 17
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
gắn với thiên nhiên. Nguồn tài nguyên tự nhiên bao gồm : khí hậu,địa
hình,sông,hồ,suối,thác nước, VQG…
a) Tài nguyên địa hình
Đại bộ phận diện tích của tỉnh nằm ở phía Tây Trường Sơn, có hướng thấp dần từ
Đông Nam sang Tây Bắc.Địa hình đa dạng : đồi núi xen kẽ bình nguyên và thung
lũng.Có thể chia thành các dạng địa hình chính sau :
+) Địa hình vùng núi
Nổi bật là dãy núi Chư Yang Sin là một tên của một dãy núi ở Đăk Lăk, ở đây có
dãy Chư Yang Sin cao 2442 m so với mực nước biển chính là đỉnh núi cao nhất ở
Đăk Lăk và cả hệ thống núi ở cực Nam Trung Bộ.
+) Địa hình cao nguyên
Chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh, địa hình bằng phẳng, đường Quốc lộ 14
gần như là đỉnh phân huỷ, cao ở gửa và thấp dần về hai phía, địa hình thấp dần từ
Đông Bắc về phía Tây Nam. Toàn tỉnh có 2 cao nguyên lớn : Cao nguyên Buôn Ma
Thuột và Cao nguyên M’Đrăk.
+) Địa hình bán bình nguyên EaSúp
Là vùng đất rộng lớn ở phía Tây của tỉnh, tiếp giáp với các cao nguyên. Bề mặt ở
đây bị bóc mòn, có địa hình khá bằng phẳng, đồi lượn sóng nhẹ, đọ cao trung bình
180 m, có vài dãy núi nhô lên như Yok Đôn, Chư M’Lanh… Phần lớn đất đai của
bán bình nguyên EaSúp làđát xám, tầng mỏng và đặc trưng thực vật là rừng khộp
Ana), thác Krông Ana( Krông Bông), thác Thuỷ Tiên (Krông Năng), thác Bảy
Nhánh ( Buôn Đôn), thác Dray Nur, thác Dray Nao, thác Suối Mơ… Các khu rừng
nguyên sinh : vườn quốc gia Yok Đôn, vườn quốc gia Chư Yang Sin, khu lâm viên
Ea Kao, khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar, khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô… rất
thuận lợi cho việc phát triển tuyến du lịch với nhiều sản phẩm du lịch đặc sắc.
d) Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của Đăk Lăk có 604.293 ha,trong đó rừng tự nhiên là
585.939 ha, rừng trồng là 18.354 ha, tỷ lệ độ che phủ 46%.Tổng trữ lượng rừng trên
50 triệu m,trong đó trữ lượng rừng thường xanh 36,3triệu m( rừng giàu và trung bình
24,4 triệu m, rừng nghèo 8,9 triệu m, rừng non 2,9 triệu m), trữ lượng rừng khộp
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 19
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
21,2 triệu m( rừng giàu và trung bình 4,7 triệu m, rừng nghèo 12,2 triệu m, rừng non
4,2 triệu m), rừng hỗn giao 1 triệu m, rừng trồng 0,3 triệu m.Tổng trữ lượng rừng tre
nứa 335,9 triệu cây.
Rừng Đăk Lăk có nhiều loại gỗ , cây dược liệu trong đó có một số loại gỗ quý như
Cẩm Lai, Lim,Trắc,Sến ,Tàu ,Cà Te, Giáng Hương, Thuỷ Tùng… ngoài ra còn nhiều
loại lâm thổ sản khác ; nhiều loại động vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ của nước
ta và sách đỏ của thế giới phân bố chủ yếu ở vườn quốc gia York Đôn , Chư Yang
Sin ,các khu bảo tồn Nam Kar, Ea Sô… Rừng Đăk Lăk nằm ở thượng lưu các sông
suối lớn nên đóng vai trò rất quan trọng về phòng hộ và bảo vệ nguồn sinh thuỷ
không những cho tỉnh mà cho cả khu vực.
2.2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Dân tộc Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống và lao động, nhưng ở Đăk
Lăk đã có hơn 44 dân tộc anh em trên địa bàn tỉnh tạo nên nét đặc trưng riêng cho
nền văn hóa lâu đời của Đăk Lăk. Người Êđê và người Mnông là hai dân tộc đại
diện cho vùng đất Tây Nguyên với một bề dày lịch sử và văn hóa. Bên cạnh đó
Đắk Lắk còn có kho tàng sử thi phong phú nhất Việt Nam với 292 pho, đã sưu tầm
77 pho (gồm 12 sử thi Êđê và 65 sử thi M’nông). Nổi tiếng nhất là Bài ca chàng
Đam San (Klei khan Y Đam San) của dân tộc Êđê. Đắk Lắk là một trong những
2.2.2 Sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Đăk Lăk
Nhìn chung , du lịch ở Đăk Lăk chỉ mới phát triển trong vài năm gần đây. Sự phát
triển của các loại hình du lịch đã mang lại một số tác động tích cực sau :
+ Góp phần tăng thu nhập du lịch và tăng thu nhập của dân cư địa phương vùng lân
cận nơi có các tài nguyên tự nhiên.
+ Làm tăng thời gian lưu trú của du khách.
+ Tăng khoản thu nhập cho công tác bảo tồn.
+ Giaỉ quyết được vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động.
+ Góp phần không nhỏ trong công tác, xúc tiến quảng bá du lịch Đăk Lăk với du
khách trong và ngoài nước.
Do du lịch là một ngành kinhtế còn khá mới mẻ ở Đăk Lăk nên những kết quả đạt
được trong hoạt động kinh doanh du lịch còn hạn chế.Những cố gắng ban đầu của
ngành du lịch địa phương trong việc phát triển loại hình du lịch này mới chỉ dừng lại
ở những việc tạo nên những tiền đề cơ bản như : khảo sát , đánh giá tiềm năng và giá
trị các tài nguyên du lịch, đầu tư CSHT… góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển du lịch bền vững sau này.Đánh giá một cách khách quan, quá trình triển
khai còn qua chậm chạp, chưa có sự phối hợp đồng bộ với các ngành và cơ quan hữu
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 21
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
quan khác.Mặt khác, do tác động các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến tiến độ lập quy hoạch và định hướng phát triển các loại hình
du lịch ở Đăk Lăk. Chính vì vậy, tiềm năng du lịch to lớn nhưng chưa được khai
thác có hiệu quả, có nhiều vấn đề đặt ra. Đó là những khó khăn thách thứcmà ngành
du lịch Đăk Lăk phải giải quyết để đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong giai
đoạn tới.
2.3 Thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Đăk Lăk
2.3.1 Thực trạng về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
2.3.1.1 Cơ sở hạ tầng
- Cơ sở hạ tầng : chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch , một số dự án có
tầm chiến lược trong phát triển triển khai chậm do chưa có khả năng cân đối vốn,
Minh, Đà Nẵng và ngược lại bằng máy bay cỡ trung A320.
Cụm cảng Hàng không Buôn Ma Thuột đang tiếp tục được đầu tư xây dựng hệ
thống sân bãi và cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông trong tương lai.
- Xe buýt
Hiện nay có tuyến xe buýt dến tất cả các điểm thuộc thành phố Buôn Ma Thuột
và từ thành phố Buôn Ma Thuột đi đến trung tâm hầu hết các huyện trong tỉnh
góp phần đáng kể vào việc đáp ứng nhu cầu đi lại và hạn chế tai nạn giao thông.
Nhưng một thực trạng hiện hữu là các tuyến xe buýt đều không đi đến điểm tham
quan du lịch, mà cách khu du lịch một đoạn đường khá xa từ 5km-7km như khu du
lịch Draysap, hồ Lăk, thác Krông Kmar chỉ có khu du lịch cầu treo Buôn Đôn có
tuyến xe buýt từ thành phố Buôn Ma Thuột- Khu du lịch Buôn Đôn nên lượng
khách ở đây rất đông vào những ngày cuối tuần. Vì lý do đó mà xe buýt vẫn chưa là
phương tiện thông dụng cho các khách du lịch bản địa lựa chọn khi đi du lịch trong
tỉnh.
b.Hệ thống cấp điện :
Đăklăk là tỉnh có tiềm năng lớn để phát triển thuỷ điện. Trên địa bàn tỉnh có các
đầm hồ lớn như hồ Lăk ( Huyện Lăk), sông Sêrêpôk có trữ lượng thuỷ điện khoảng
2.636 triệu KW. Hiện tại có 23 công trình thuỷ điện lớn nhỏ đã được đầu tư xây
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 23
Tiểu luận: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Đăklăk du lịch theo hướng bền vững
dựng với tổng công suất lắp máy 14.280KW đang hoạt động. Tạo điều kiện thuận
lợi cho du lịch phát triển.
c.Hệ thống cấp thoát nước :
Hiện nay, đã cơ bản hoàn thành hệ thống cấp thoát nước và xử lý nước thải ở thành
phố Buôn Ma Thuột và một số khu vực đảm bảo vệ sinh môi trường như cấp nước
sạch cho các huyện khác.
d.Hệ thống thông tin liên lạc :
Hệ thống thông tin liên lạc của Đăklăk được trang bị công nghệ mới, hiện đại, đáp
ứng nhu cầu liên lạc trong nước và quốc tế cho khách du lịch. Hiện nay, trên địa bàn
tỉnh có Bưu điện Đăklăk, các nhà cung cấp dịch vụ: Viettel, Mobifone, Vinaphone,
Bốn Triệu, nhà hàng Trúc Đào … sẽ đem lại những ấn tượng khó quên cho du
khách.
c. Hệ thống các cửa hàng lưu niệm : ở Đăklăk các mặt hàng lưu niệm được bày
bán tại các điểm du lịch, khách sạn… mang đặc trưng của Đăklăk như : Vải thổ
cẩm, rượu cần, nhẫn đuôi voi…Ngoài ra cón có các mặt hàng được sản xuất các tỉnh
thành khác của Việt Nam tạo nên sự đa dạng, phong phú hấp dẫn du khách. Tuy
nhiên các quầy hàng nằm rải rác gây nhiều trở ngại cho việc mua sắm của du khách.
d. Hệ thống các cơ sở vui chơi giải trí : Các cơ sở vui chơi giải trí rất ít. Hiện nay
Đăklăk chỉ khai thác công viên nước Đăklăk. Các vũ trường đêm, các quầy bar đặc
trưng phục vụ du khách chưa có. Du lịch Đăklăk đang đặt mục tiêu tăng thời gian
lưu trú bình quân của du khách. Để làm được điều này, cần phải phát triển dịch vụ
vui chơi giải trí.
2.3.2 Thực trạng về khách du lịch
Trong những năm gần đây số lượng khách đến với Đăklăk không ngừng tăng lên. Đó
là tín hiệu đáng mừng cho du lịch tỉnh Đăklăk. Với nguồn tài nguyên phong phú, đa
dạng nên Đăklăk đã khai thác hầu hết các tour du lịch tham quan, nghiên cứu, dã
ngoại… nên số lượng khách tham quan luôn chiếm tỉ lệ cao.
Theo nguồn Sở VHTT –DL Đăklăk, trong năm 2010, ngành Du lịch Đắk Lắk đã
đón 280.000 lượt khách, tăng 9,95% so với năm 2009; trong đó khách quốc tế đạt
Sinh viên thực hiện : Phạm Đình DuyTrang 25