Hoàn thiện công tác dịch vụ khách hàng tại công ty bảo việt nhân thọ Phú Thọ - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH LƢU THỊ THU HẢI
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG
TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT NHÂN THỌ PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ



HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG
TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT NHÂN THỌ PHÚ THỌ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Thái Quốc
THÁI NGUYÊN, NĂM 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i

LỜI CAM ĐOAN

Thái Nguyên, năm 2013
Tác giả luận văn

Lƣu Thị Thu Hải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM
NHÂN THỌ VÀ DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ 4
1.1. Sự ra đời và phát triển của BHNT 6
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của BHNT trên thế giới 6
1.1.2. Sự ra đời và phát triển của BHNT ở Việt Nam 7
1.1.3. Vai trò của BHNT 10
1.2. Khái niệm và đặc điểm của BHNT 12
1.2.1. Khái niệm 12

3.2. Phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của công ty BVNT Phú Thọ 50
3.2.1. Phân tích, đánh giá hoạt động khai thác và phát hành hợp đồng 50
3.2.2. Phân tích đánh giá công tác quản lý hợp đồng và giải quyết
quyền lợi bảo hiểm 53
3.3. Tình hình triển khai công tác DVKH tại công ty 56
3.3.1. Dịch vụ chăm sóc khách hàng 56
3.3.2. Dịch vụ hỗ trợ khách hàng 60
3.3.3. Công tác giải quyết quyền lợi bảo hiểm 68
3.3.4. Dịch vụ khách hàng dành cho đại lý 72
Chƣơng 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỊCH
VỤ KHÁCH HÀNG TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT NHÂN THỌ PHÚ THỌ 75
4.1. Xu hướng phát triển hoạt động kinh doanh bảo việt nhân thọ và của
bảo việt nhân thọ Phú Thọ trong thời gian tới 75
4.1.1. Chiến lược và định hướng của BVNT 76

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
4.1.2. Chiến lược và định hướng của BVNT Phú Thọ 78
4.1.3. Khả năng cạnh tranh và giải pháp thực hiện chiến lược đối với
BVNT Phú Thọ 78
4.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác dịch vụ khách hàng tại công ty
BVNT Phú Thọ trong thời gian tới 80
4.2.1. Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng, đạo tạo và quản lý cán
bộ, tư vấn viên, thu ngân viên 80
4.2.2. Nâng cao chất lượng khai thác hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 83
4.2.3. Thực hiện tốt công tác giám định và trả tiền bảo hiểm. 84
4.2.4. Nâng cao chất lượng và bổ sung thêm các hình thức phục vụ
khách hàng 85
4.2.5. Bổ sung và hoàn thiện công tác DVKH dành cho đại lý 91

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.2: Kết quả hoạt động khai thác mới của BVNT Phú Thọ giai
doạn (2008-2012) 51
Bảng 3.3 Tình hình chi quyền lợi bảo hiểm theo từng nghiệp vụ 53
Bảng 3.4. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của BVNT Phú Thọ giai
đoạn (2008 - 2012) 55
Bảng 3.5: Chi phí tặng lịch năm mới của BVNT Phú Thọ (2008-2012) 57
Bảng 3.6: Chi phí tổ chức hội nghị khách hàng của BVNT Phú Thọ
(2008-2012) 61
Bảng 3.7: Tỷ lệ giảm phí theo số tiền bảo hiểm gốc 63
Bảng 3.8: Bảng kết quả điều tra định kỳ đóng phí 64
Bảng 3.9: Tình hình sử dụng các dịch vụ hỗ trợ khách hàng 67
Bảng 3.10 : Tình hình giải quyết quyền lợi bảo hiểm giai đoạn 2008-2012 68
Bảng 3.11: Tình hình đáo hạn hợp đồng tại BVNT Phú Thọ giai đoạn
2008-2012 71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
năm 1999, Chính Phủ cho phép mở cửa thị trường BHNT đã xuất hiện thêm
các doanh nghiệp BHNT lớn, có vốn đầu tư nước ngoài. Sự xuất hiện này đã
tạo ra sự cạnh tranh toàn diện với tốc độ cao giữa các doanh nghiệp BHNT và
góp phần thúc đẩy thị trường BHNT của Việt Nam ngày càng phát triển. Dưới
sức ép cạnh tranh, các công ty BHNT không ngừng nỗ lực nâng cao khả năng
khai thác sản phẩm BHNT để thu hút khách hàng và mở rộng thị phần. Nhìn
chung những phương thức cạnh tranh lành mạnh của các công ty đều đem lại
lợi ích cho khách hàng, sẽ khuyến khích ngày càng nhiều người tham gia bảo
hiểm. Tuy nhiên, mặc dù các doanh nghiệp BHNT trong những năm qua đã có
nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh khả năng khai thác sản phẩm của mình,
nhưng nhìn chung số lượng, chất lượng sản phẩm (dịch vụ) bán được vẫn chưa
cao, đặc biệt là các sản phẩm bảo hiểm Nhân thọ trọn đời, số tiền bảo hiểm còn
hạn chế, công tác giải quyết quyền lợi bảo hiểm, phục vụ khách hàng còn
nhiều bất cập. Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác dịch
vụ khách hàng tại Công ty Bảo Việt Nhân thọ Phú Thọ” giúp có cái nhìn
tổng quan về thực trạng kinh doanh bảo hiểm nhân thọ trên thị trường Việt
Nam và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác dịch vụ khách hàng tại
công ty Bảo Việt nhân thọ Phú Thọ trong thời gian tới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm hoàn thiện dịch vụ khách hàng
trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ để nâng cao thị phần, doanh thu và lợi
nhuận cho Công ty Bảo Việt nhân thọ Phú Thọ trong thời gian tới.
* Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dịch vụ khách hàng trong kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ

chương nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Bảo hiểm nhân thọ và dịch vụ
khách hàng trong kinh doanh của Công ty bảo hiểm nhân thọ.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác dịch vụ khách hàng tại Công ty Bảo Việt
Nhân Thọ Phú Thọ.
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác dịch vụ khách hàng tại
Công ty Bảo Việt Nhân Thọ Phú Thọ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
VÀ DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Trong mọi thời kỳ phát triển của xã hội con người luôn được coi là lực
lượng sản xuất chủ yếu, là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội.
Song trong lao động sản xuất cũng như trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
những tai nạn, rủi ro luôn tiềm ẩn, đe dọa sức khoẻ, sinh mạng ảnh hưởng tới
cuộc sống của con người mà không ai có thể biết trước, đoán trước hoặc tránh
khỏi được hậu quả của nó tác động đến nhiều mặt của đời sống, xã hội. Vì
vậy, vấn đề mà bất kỳ xã hội nào cũng quan tâm là làm thế nào để khắc phục
hậu quả của rủi ro nhằm đảm bảo cuộc sống của con người. Thực tế, đã có
nhiều biện pháp áp dụng như phòng tránh, cứu trợ, tiết kiệm,… nhưng bảo
hiểm luôn được đánh giá là biện pháp hữu hiệu nhất.
Việc mất hoặc giảm thu nhập của những người trụ cột trong gia đình

rộng hơn, quỹ bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ phí bảo hiểm do những
người tham gia đóng góp, số tiền chi trả căn cứ vào sự thoả thuận và cam kết
trong hợp đồng giữa bên bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm. Hình thức bảo
hiểm là tự nguyện. Còn đối với bảo hiểm xã hội, phí bảo hiểm được xác định
căn cứ vào tiền lương của người lao động do Nhà nước quy định. Ngoài ra sự
khác nhau còn thể hiện ở cơ sở pháp lý của sự cam kết, cơ quan tổ chức thực
hiện,…vv.
Tuy nhiên, sự khác nhau giữa hai hệ thống bảo hiểm này không tạo ra sự
đối lập, mâu thuẫn mà trái lại chúng bổ sung cho nhau. Các sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ có thể thay thế Bảo hiểm xã hội trong những trường hợp, những khu
vực của nền kinh tế, những nơi mà Bảo hiểm xã hội chưa được thực hiện hoặc
có nhưng không đủ bù đắp thu nhập của người lao động bị giảm sút. Mặc dù
người lao động làm công ăn lương được hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội, nhưng
đôi khi có những rủi ro, những nhu cầu nằm ngoài phạm vi Bảo hiểm xã hội
hoặc các khoản trợ cấp của Bảo hiểm xã hội không đáp ứng được những nhu
cầu khắc phục hậu quả của rủi ro. Phần chênh lệch và thiếu hụt về mặt tài
chính sẽ được Bảo hiểm nhân thọ bù đắp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
1.1. Sự ra đời và phát triển của BHNT
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của BHNT trên thế giới
BHNT là loại hình bảo hiểm ra đời sớm nhất trên thế giới. BHNT xuất
hiện đầu tiên ở đế quốc La Mã cổ đại. Tại đây người ta lập nên các hội mai
táng để lo chi phí tang ma cho các thành viên, ngoài ra hội cũng hỗ trợ tài
chính cho thân nhân người chết.
Tuy nhiên HĐBH nhân thọ đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1583 do

lịch sử của đất nước.
Ngày 17/12/1964 bằng quyết định số 179/CP của Hội đồng chính phủ,
theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, công ty bảo hiểm Việt Nam tên giao
dịch là Bảo Việt được thành lập và chính thức đi vào khai trương hoạt động
ngày 15/1/1965 với vốn điều lệ là 10 triệu VND (tương đương 2 triệu USD
thời điểm đó) dưới sự quản lí trực tiếp của Bộ tài chính. Trong thời gian này
bảo Việt chỉ mới triển khai mảng bảo hiểm phi nhân thọ, mà chưa triển khai
BHNT. Tuy nhiên, Bảo Việt cũng đã chú trọng đến việc mở rộng và đa dạng
hoá các nghiệp vụ bảo hiểm đặc biệt là nghiệp vụ bảo hiểm con người làm tiền
đề cho việc triển khai BHNT về sau.
Ở miền Nam, vào những năm 1970 đã có một công ty BHNT ra đời có tên
là công ty BHNT Hưng Việt. Công ty bảo hiểm này triển khai được một số sản
phẩm bảo hiểm như BHNT trọn đời, bảo hiểm tử kì thời hạn 5 năm, 10 năm,
20 năm. Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà
miền Nam Việt Nam đã tuyên bố đình chỉ các hoạt động của các công ty bảo
hiểm miền Nam Việt Nam, trong đó có công ty BHNT Hưng Việt và tuyên bố
thanh lí giải thể các tổ chức bảo hiểm tư nhân.
Năm 1976, Bộ trưởng bộ kinh tế tài chính chính phủ lâm thời cộng hoà
miền Nam Việt Nam ra quyết định số 21/QĐ-BKT thành lập công ty bảo
hiểm, tái bảo hiểm Việt Nam (viết tắt là BAVINA), thuộc Tổng nha tài chính
Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền nam Việt Nam.
Năm 1977, Bộ trưởng Bộ tài chính ra quyết định số 61/TCQĐ/TCCB về
việc sát nhập BAVINA thành chi nhánh của Bảo Việt tại TPHCM. Như vậy kể
từ đây, Bảo Việt chính thức có mạng lưới hoạt động tại các tỉnh miền Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Có thể nói, Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 là một bước ngoặt có tính
cách mạng đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam. Nghị định này đã thể hiện
chủ trương phát triển một ngành đa thành phần của Nhà nước ta. Tuy nhiên xét
về thực chất kể từ 6/1999 khi có sự ra đời của các công ty bảo hiểm 100%
vốn nước ngoài như Công ty BHNT Chinfon Manulife (nay là Manulife), công
ty BHNT Prudential, BHNT quốc tế Mỹ AIA, Bảo Minh-CMG (nay là Dai-
ichi life)… BHNT mới chấm dứt giai đoạn độc quyền của Bảo Việt nhân thọ
và bắt đầu đi vào phát triển có sự cạnh tranh.
Cho dù mới hình thành và phát triển trong một thời gian ngắn (từ năm
2000) nhưng thị trường BHNT đã và đang tỏ rõ là một thị trường rất tiềm
năng. Thị trường BHNT đã có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô như
tăng số lượng các công ty, tăng doanh thu phí bảo hiểm, STBH và số lượng
HĐBH, bình quân phí thu hàng năm của thị trường tăng từ 30% đến 40%
/năm. Từ chỗ chỉ có Bảo Việt là doanh nghiệp duy nhất kinh doanh BHNT thì
đến nay toàn thị trường đã có 11 công ty BHNT hoạt động, với doanh thu phí
bảo hiểm gốc cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ qua các năm.
Theo đánh giá của các chuyên gia thị trường BHNT Việt Nam là 1 thị
trường đầy hứa hẹn. Nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng, dân số Việt Nam
hiện nay trên 88 triệu dân, trong đó số dân ở độ tuổi dưới 30 chiếm 60%. Theo
thống kê doanh thu phí BHNT hiện nay chỉ chiếm khoảng 2.5% tổng GDP của
Việt Nam và Bộ Tài Chính hi vọng con số này sẽ ngày càng tăng lên trong
những năm tới. Ở các nước trong khu vực doanh thu phí BHNT đạt khoảng 5-
6% tổng GDP.
Những kết quả tăng trưởng đầy ấn tượng của dịch vụ BHNT cùng với thói
quen tiết kiệm của người dân Việt Nam đã góp phần tạo nên sự hấp dẫn cho
các công ty BHNT nước ngoài. Việc có mặt nhiều công ty kinh doanh bảo

an nhàn khi tuổi già.
Không chỉ có vậy BHNT còn góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh
doanh cho các doanh nghiệp, tạo dựng mối quan hệ gần gũi gắn bó giữa doanh
nghiệp và người làm công ngay cả những lúc doanh nghiệp gặp khó khăn. Khi
doanh nghiệp bỏ tiền ra mua BHNT cho các nhân viên của mình thì nhân viên
họ sẽ cảm thấy họ được quan tâm, được tôn trọng. Từ đó ý thức làm việc của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
họ được tăng lên, có thể vì thế mà năng suất lao động của doanh nghiệp ngày
càng cao, lợi nhuận cũng ngày càng tăng. Lợi nhuận mà họ đem lại có thể lớn
hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra mua bảo hiểm cho nhân viên. Chính vì vậy
hiện nay có một số doanh nghiệp rất quan tâm đến việc mua BHNT cho nhân
viên của mình. Đặc biệt là những công việc mà độ rủi ro cao như khai thác
than, làm việc ở hầm mỏ…thì các doanh nghiệp thường mua bảo hiểm nhóm
cho nhân viên. Đối với một số nhân viên văn phòng có trình độ cao doanh
nghiệp mua BHNT cho nhân viên như là một cách để giữ chân họ ở lại làm
việc lâu dài cho doanh nghiệp.
Bên cạnh việc mang lại những lợi ích cho mỗi cá nhân gia đình và doanh
nghiệp thì BHNT còn mang lại nhiều lợi ích khác cho xã hội.
BHNT là một kênh huy động vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư để
đầu tư cho những dự án trung dài hạn nhằm góp phần phát triển đất nước. Khi
nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng cao sẽ xuất hiện nhu cầu
tiết kiện hoặc đầu tư số tiền tạm thời nhàn rỗi. BHNT đã huy động được những
đồng tiền nhàn rỗi, nhỏ lẻ trong dân cư thành một quỹ tài chính tập trung khá
lớn. Quỹ này chủ yếu để chi trả cho người được bảo hiểm. Bên cạnh đó các
công ty BHNT còn phải lập các quỹ dự phòng nghiệp vụ như: Dự phòng toán

Người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham
gia bảo hiểm (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định
khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm chết hoặc
sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm
đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm cho các rủi ro
có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người.
Theo luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam (2002) thì Bảo hiểm nhân thọ
là hình thức bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.
Định nghĩa bảo hiểm trên phương diện kỹ thuật “ Bảo hiểm nhân thọ là
nghiệp vụ bao hàm những cam kết, mà sự thi hành những cam kết này phụ thuộc
vào tuổi thọ của con người” (Hồ Xuân Hương, Võ Thị Pha (1999, tr.167).
Các sự kiện được chi trả trong BHNT bao gồm:
* Hết hạn hợp đồng: khi hết thời hạn bảo hiểm người bảo hiểm sẽ trả
cho người tham gia một số tiền nhất định đã cam kết và lãi chia thêm (nếu có)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
* Thương tật
* Tử vong
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của Bảo hiểm nhân thọ
- Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính bảo vệ tài chính:
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa Bảo hiểm nhân
thọ và Bảo hiểm phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp
một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty Bảo hiểm, ngược lại
công ty Bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm)
cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm đã thoả thuận từ trước khi có các sự
kiện bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm (STBH) được trả khi người được bảo

cho gia đình một STBH khi họ chết để trang trải chi phí ma chay, nợ nần,
phụng dưỡng bố mẹ già, chi phí cho con cái học hành,…vv. HĐBH nhân thọ
đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng
thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình
hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác. Chính vì vậy loại hình bảo hiểm
này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm.
- Thời hạn bảo hiểm nhân thọ thường rất dài, quan hệ giữa các bên trong
mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ lại rất đa dạng và phức tạp:
Thời hạn trong BHNT thường kéo dài từ 9 năm trở lên. Mỗi sản phẩm
BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có
các hợp đồng 9 năm, 10 năm, 12 năm. Mỗi hợp đồng lại có sự khác nhau về
STBH, phương thức đóng phí, độ tuổi của NĐBH, NTGBH. Mối quan hệ giữa
các bên trong hợp đồng cũng khá phức tạp. Khác với bảo hiểm phi nhân thọ,
bảo hiểm nhân thọ có thể có 4 người liên quan: Người bảo hiểm, người được
bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm.
Người bảo hiểm: Chính là các công ty BHNT. Sau khi đã cam kết nhận
bảo hiểm, trách nhiệm nghĩa vụ chủ yếu của công ty là chi trả STBH khi có các
sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với người được bảo hiểm.
Công ty bảo hiểm không được thay đổi các điều khoản trong hợp đồng và
cũng không được khiếu nại đòi phí bảo hiểm khi người tham gia chưa đóng phí
bảo hiểm.
Người được bảo hiểm: Là người mà sinh mạng và cuộc sống của họ được
bảo hiểm theo các điều kiện của hợp đồng.Người được bảo hiểm có thể là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
người đã trưởng thành, có đủ năng lực pháp lí để tự kí hợp đồng cho chính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm như: chi phí
khai thác, chi phí quản lý hợp đồng…vv nhưng những chi phí đó mới chỉ là
một phần để cấu tạo nên giá cả sản phẩm BHNT, một phần chủ yếu khác lại
phụ thuộc vào:
 Độ tuổi của người được bảo hiểm;
 Tuổi thọ bình quân của con người;
 Số tiền bảo hiểm;
 Thời hạn tham gia;
 Phương thức thanh toán;
 Lãi suất đầu tư;
 Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền…
Khi định giá phí BHNT một số yếu tố nêu trên phải giả định như tỷ lệ
chết, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát…vv khiến quá trình
định phí rất phức tạp đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm,
phân tích dòng tiền tệ, phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản
phẩm trên thị trường nói chung.
- Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã
hội nhất định:
Ở các nước có nền kinh tế phát triển BHNT đã ra đời và phát triển hàng
trăm năm nay. Ngược lại một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển
khai được BHNT, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó. Để lý
giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT
ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế - xã hội phát triển.
Những điều kiện về kinh tế như:
 Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP);
 Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân 1 đầu người dân;
 Mức thu nhập của dân cư;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status