Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,Việt Nam đang
từng bước mở cửa nhiều thị trường trước đây vốn chỉ được coi là sân chơi của
các doanh nghiệp nhà nước.Hoà vào xu thế đó,chúng ta cũng đã sớm mở cửa
thị trường bảo hiểm nhân thọ.Từ năm 2000 trở lại đây với sự góp mặt liên tiếp
của các công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài vào Việt Nam thì
cạnh tranh trên thị trường BHNT trở nên gay gắt và phức tạp hơn bao giờ
hết.Vì vậy vấn đề tìm kiếm những khách hàng mới cũng như giữ được khách
hàng cũ của các công ty bảo hiểm nhân thọ là vô cùng cần thiết.
Bảo Việt nhân thọ Hà Nội –Là doanh nghiệp đầu tiên trên thị trường có
khách hàng đáo hạn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.Năm 2001 những doanh
nghiệp khác trên thị trường mới bắt đầu ổn định kinh doanh thì công ty đã có
những khách hàng nhận tiền đáo hạn. Đây có thể xem như một lợi thế của
công ty trong việc quảng bá hình ảnh, xây dựng lòng tin cho khách hàng.Tuy
nhiên tỉ lệ tái tục hợp đồng trong những năm qua là chưa cao.Nguyên nhân có
thể là do khách quan hay chủ quan nhưng công tác dịch vụ khách hàng có vai
trò rất quan trọng đối với việc tái tục hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này trong thời gian thực tập
tại phòng Dịch vụ khách hàng của BVNT Hà Nội em đã chọn đề tài: “Công
tác Dịch vụ khách hàng trong việc tái tục hợp đồng bảo hiểm tại công ty
Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội”
Do thời gian cũng như sự hiểu biết của bản thân còn hạn chế cả về lí
luận và thực tiễn nên bài viết không tránh khỏi thiết sót.Em rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của cô giáo hướng dẫn và các anh chị trong công ty
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
để bài viết của em được hoàn thiện.Em xin cam đoan bài viết này không sao
chép,copy của người khác,nếu có em xin chịu mọi trách nhiệm.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thiên Hương và các anh chị trong
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
32 bảng Anh.Khi ông chết năm đó người thừa kế của ông được hưởng 400
bảng Anh.Sau cách mạng ánh sáng năm 1688 ở Châu Âu chỉ có Vương Quốc
Anh công nhận tính pháp lí của BHNT.Nhờ vậy mà trong suốt 3 thập kỷ sau
Cách Mạng ánh sáng, ở Anh dịch vụ này đã phát triển rất mạnh mẽ.Mặc dù
vậy công ty BHNT ra đời đầu tiên không phải trên lãnh thổ Anh quốc mà là ở
Mỹ.Công ty này đến nay vẫn hoạt động. nhưng lúc đầu chỉ bán bảo hiểm cho
các con chiên ở nhà thờ của mình.Năm 1762, công ty bảo hiểm Equitable ở
nước Anh được thành lập và bán bảo hiểm cho mọi người dân.
Ngành công nghiệp bảo hiểm Hoa Kỳ được xây dựng trên mô hình bảo
hiểm Anh.Vào năm 1735, công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở
Charleston, thủ phủ bang South Carolina.Vào năm 1759; Hội nghị giáo hội
Trưởng lão Philadelphia đã quyết định bảo trợ cho tập đoàn bảo hiểm nhân
thọ đầu tiên của Hoa Kỳ.Tập đoàn này hoạt động vì lợi ích của các mục sư và
tín đồ.Ngày 22/5/1761, tập đoàn này đã kí kết được HĐBHNT đầu tiên với
công chúng Mỹ.
Mặc dù vậy, mãi đến 80 năm sau (tức là sau năm 1840) dịch vụ BHNT
mới thật sự cất cánh.Chìa khoá dẫn đến thành công chính là nhờ các công ty
bảo hiểm đã hạn chế được những sự chống đối từ các nhóm tôn giáo.
Trong thế kỷ XIX, người ta đã lập ra rất nhiều hội đoàn có trách nhiệm
bảo hiểm nhân mạng và sức khoẻ cho hội viên.Bên cạnh đó cũng có một số
hội kín chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm lệ phí thấp cho những ai là hội viên của
họ.Ngày nay các hội kín này vẫn cứ tiếp tục bảo hiểm cho các hội viên; điều
này diễn ra tương tự như ở hầu hết các tổ chức của người lao động.Có nhiều
chủ sử dụng lao động còn lo luôn một lúc nhiều HĐBHNT và sức khoẻ cho
nhân viên.Các hợp đồng này không chỉ đơn thuần BHNT mà còn đảm bảo
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
20 năm.Nhưng công ty mới chỉ ở giai đoạn đầu triển khai nên kết quả chưa rõ
nét.
Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà
miền Nam Việt Nam đã tuyên bố đình chỉ các hoạt động của các công ty bảo
hiểm miền Nam Việt Nam, trong đó có công ty BHNT Hưng Việt và tuyên bố
thanh lí giải thể các tổ chức bảo hiểm tư nhân.
Năm 1976, Bộ trưởng bộ kinh tế tài chính chính phủ lâm thời cộng hoà
miền Nam Việt Nam ra quyết định số 21/QĐ-BKT thành lập công ty bảo
hiểm, tái bảo hiểm Việt Nam (viết tắt là BAVINA), thuộc tổng nha tài chính
Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền nam Việt Nam.
Năm 1977, Bộ trưởng Bộ tài chính ra quyết định số 61/TCQĐ/TCCB về
việc sát nhập BAVINA thành chi nhánh của Bảo Việt tại TPHCM.Như vậy kể
từ đây, Bảo Việt chính thức có mạng lưới hoạt động tại các tỉnh miền Nam.
Chính sách mở cửa vào năm 1987 đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm
Việt Nam được học hỏi và tiếp cận với những kĩ thuật bảo hiểm mới trên thế
giới.Từ kinh nghiệm các nước, Bảo Việt lúc đó vẫn là công ty bảo hiểm duy
nhất ở Việt Nam đã thấy được tiềm năng to lớn của BHNT ở nước ta.Vì vậy,
Bảo Việt bắt đầu nghiên cứu triển khai BHNT ở Việt Nam với đề án: “BHNT
và điều kiện triển khai ở Việt Nam” nhưng lúc đó chưa có đủ điều kiện vì :
thu nhập dân cư còn thấp, kinh tế còn kém phát triển, tỉ lệ lạm phát còn
cao,thị trường tài chính chưa phát triển, chưa có môi trường đầu tư và các
công ty bảo hiểm chưa được phép hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, chưa có
văn bản pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa công ty bảo hiểm và khách
hàng, đội ngũ cán bộ bảo hiểm lúc đó còn chưa được trang bị những kiến thức
về nghiệp vụ BHNT.Do đó Bảo Việt chỉ triển khai bảo hiểm sinh mạng có
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thời hạn 1 năm (BHNT tử kì có thời hạn 1 năm). Đây là loại hình BHNT đơn
giản nhất và có nhiều đặc điểm tương đông bảo hiểm con người phi nhân thọ.
/năm.Từ chỗ chỉ có Bảo Việt là doanh nghiệp duy nhất kinh doanh BHNT thì
đến nay toàn thị trường đã có 8 công ty BHNT hoạt động, với doanh thu phí
bảo hiểm gốc cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ qua các năm.
Quy mô thị trường bảo hiểm ngày càng được mở rộng, thể hiện tổng
doanh thu phí toàn thị trường tăng nhanh qua các năm, năm 1999 doanh thu
phí bảo hiểm mới chỉ đạt 485 tỷ thì năm 2001 đạt gần 2786 tỷ đồng, chiếm tỷ
trọng 0,56% /GDP.Tốc độ tăng trưởng BHNT giai đoạn 1996-2001 đạt
165% /năm.Có thể thấy rõ điều này qua bảng dưới đây:
Bảng 1:Doanh thu phí bảo hiểm gốc của các DNBHNT trên thị trường
Việt Nam (giai đoạn 2001-2006)
TT Tên DNBH 2001 2002 2003 2004 2005 2006
1 Bảo việt 1507 2157 2606 3043 3063 3099
2 Dai-ichi 40 79 140 211 286 369
3 Prudential 828 1635 2557 3103 3354 3529
4 Manulife 302 548 780 888 898 896
5 AIA 106 224 356 463 522 518
6 ACE l ife - - - - 3 52
7 Prevoir - - - - - 16
8 Toàn thị
trường
2785 4645 6441 7710 8130 8481
Nguồn:Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam.
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ghi chú: (-) thể hiện các số liệu chưa có của các công ty BHNT mới
được thành lập
Theo đánh giá của các chuyên gia thị trường BHNT Việt Nam là 1 thị
trường đầy hứa hẹn.Nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng ở tốc độ cao GDP
của Việt Nam hiện nay đang tăng trưởng với tốc độ trên 8% /năm, dân số Việt
hiểm.Khi không may gặp rủi ro dẫn đến tử vong thay vì bỏ tiền ra để lo các
chi phí mai táng gia đình anh ta sẽ được nhận tiền từ công ty bảo hiểm để
trang trải các chi phí.
BHNT còn giúp cho những người tham gia có thể tích luỹ cho những kế
hoạch tài chính tương lai như để dành tiền cho con ăn học, cho con một số
vốn để vào đời hoặc có thể tiết kiệm tiền để mua xe, mua nhà, vui hưởng cuộc
sống an nhàn khi tuổi già.
Không chỉ có vậy BHNT còn góp phần ổn định tài chính và sản xuất
kinh doanh cho các doanh nghiệp, tạo dựng mối quan hệ gần gũi gắn bó giữa
doanh nghiệp và người làm công ngay cả những lúc doanh nghiệp gặp khó
khăn.Khi doanh nghiệp bỏ tiền ra mua BHNT cho các nhân viên của mình thì
nhân viên họ sẽ cảm thấy họ được quan tâm, được tôn trọng.Từ đó ý thức làm
việc của họ được tăng lên, có thể vì thế mà năng suất lao động của doanh
nghiệp ngày càng cao, lợi nhuận cũng ngày càng tăng.Lợi nhuận mà họ đem
lại có thể lớn hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra mua bảo hiểm cho nhân
viên.Chính vì vậy hiện nay có một số doanh nghiệp rất quan tâm đến việc
mua BHNT cho nhân viên của mình. Đặc biệt là những công việc mà độ rủi
ro cao như khai thác than, làm việc ở hầm mỏ…thì các doanh nghiệp thường
mua bảo hiểm nhóm cho nhân viên. Đối với một số nhân viên văn phòng có
trình độ cao doanh nghiệp mua BHNT cho nhân viên như là một cách để giữ
chân họ ở lại làm việc lâu dài cho doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bên cạnh việc mang lại những lợi ích cho mỗi cá nhân gia đình và doanh
nghiệp thì BHNT còn mang lại nhiều lợi ích khác cho xã hội.
BHNT là một kênh huy động vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư để
đầu tư cho những dự án trung dài hạn nhằm góp phần phát triển đất nước.Khi
nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng cao sẽ xuất hiện nhu cầu
tiết kiện hoặc đầu tư số tiền tạm thời nhàn rỗi.BHNT đã huy động được
tật hay già yếu.Khi rủi ro xảy ra thường gây nên những tổn thất về tài chính
đối với người thân và gia đình.Nhiều người trên thế giới đã xem BHNT là
một giải pháp thực tiễn có thể đáp ứng những nhu cầu tài chính của họ.Vậy
BHNT là gì?
BHNT là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia, mà trong
đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền
lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện bảo hiểm xảy ra, còn
người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ đúng hạn.Nói cách khác, BHNT
là loại hình bảo hiểm bảo đảm cho các rủi ro liên quan đến tính mạng, sức
khoẻ và tuổi thọ con người.
Các sự kiện được chi trả trong BHNT bao gồm:
* Hết hạn hợp đồng: khi hết thời hạn bảo hiểm người bảo hiểm sẽ trả cho
người tham gia một số tiền nhất định đã cam kêt và lãi chia thêm (nếu có)
* Thương tật
* Tử vong
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.3.2 Đặc điểm
1.1.3.2.1 BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro
Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT và bảo hiểm phi nhân
thọ.Mỗi người mua BHNT sẽ định kì (có thể là từng tháng, từng quý,6 tháng
hoặc một năm) nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm)cho công ty bảo
hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một khoản tiền lớn (gọi
là STBH) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thoả thuận từ trước
(khi kí kết HĐBH)khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra.STBH được chi trả khi
người được BH đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp
đồng.Hoặc số tiền này được chi trả cho thân nhân và gia đình người được bảo
hiểm khi người này không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm
được khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm.Số tiền này giúp những
ro, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia thì BHNT đáp ứng
được rất nhiều mục đích khác nhau.Mỗi mục đích thể hiện khá rõ trong từng
loại hợp đồng.Chẳng hạn HĐBH hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của khách hàng
bằng những khoản trợ cấp hàng tháng, từ đó mang đến sự an nhàn cho tuổi
già, đảm bảo một khoản lương hưu ổn định cho tất cả mọi người kể cả những
người không có bảo hiểm xã hội.Ngoài ra,HĐBH hưu trí cũng là một cách thể
hiện lòng hiếu thảo đối với những người thân yêu hay sự quan tâm chăm sóc
của các công ty đối với nhân viên của mình.Các HĐBH như An gia thịnh
vượng hay An khang thịnh vượng lại giúp khách hàng thực hiện được những
dự định lớn trong tương lai như mua ô tô, mua nhà, giữ gìn tài sản,…Còn
HĐBH tử vong lại giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền
bảo hiểm khi họ qua đời.Số tiền này đáp ứng được rất nhiều nguyện vọng của
người quá cố như phụng dưỡng cha mẹ, chăm lo cho tương lai của con cái,…
HĐBHNT đôi khi còn là tài sản thế chấp để vay vốn cho mục đích khởi
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp kinh doanh, mua sắm tài sản….Chính vì đáp ứng được nhu cầu đa
dạng của khách hàng mà BHNT ngày càng được quan tâm hơn và thị trường
BHNT ngày càng được mở rộng.
1.1.3.2.3 Các loại hợp đồng trong BHNT rất đa dạng và phức tạp
Tính đa dạng và phức tạp trong các HĐBHNT được thể hiện ngay ở các
sản phẩm của nó.Mỗi loại sản phẩm BHNT có nhiều loại hợp đồng khác
nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các thời hạn 5 năm, 10 năm.Mỗi hợp
đồng có các thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau về STBH, phương thức
đóng phí, độ tuổi của người tham gia…Ngay cả trong 1 bản hợp đồng, mối
quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp.Khác với các bản HĐBH phi nhân
thọ, trong mỗi HĐBHNT có thể có 4 bên tham gia: Người bảo hiểm, người
được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo
hiểm.
được hưởng quyền lợi bảo hiểm thứ nhất và người tiếp theo sau để đề phòng
trường hợp khi người được hưởng quyền lợi bảo hiểm đầu tiên bị chết trước
người được bảo hiểm.
Cũng vì có nhiều mối quan hệ khác nhau như vậy nên HĐBHNT phức
tạp hơn rất nhiều so với HĐBH phi nhân thọ.
1.1.3.2.4 Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá
trình định phí khá phức tạp.
Theo tác giả Jean-Claude Harrari “Sản phẩm BHNT không gì hơn chính
là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công chúng”.Trong
tiến trình này người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm
như: chi phí khai thác, chi phí quản lí hợp đồng.
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuy nhiên những chi phí đó mới chỉ một phần để cấu tạo nên giá cả sản
phẩm BHNT, một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào:
• Độ tuổi của người được bảo hiểm
• Tuổi thọ bình quân của con người
• STBH
• Thời hạn tham gia
• Phương thức thanh toán
• Lãi đầu tư
• Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền
……..
Điều đó khác với việc định giá cả một chiếc ô tô hay một ngôi nhà.Chiếc
ô tô là sản phẩm của một dây chuyền sản xuất, để sản xuất ra nó, người ta
phải chi ra rất nhiều khoản chi phí nguyên, nhiên liêu, chi phí lao động sống,
khấu hao tài sản cố định,…Những khoản chi phí này là những chi phí thực tế
phát sinh và thực chất chúng là những khoản chi phí “đầu vào” được hạch
toán một cách chi tiết, đầy đủ và chính xác để phục vụ cho quá trình định
nhưng điều kiện kinh tế chưa cho phép chúng ta triển khai.Chỉ sau công cuộc
đổi mới kinh tế được 10 năm Bộ tài chính mới cho phép Bảo Việt triển khai
BHNT lần đầu tiên ở nước ta.
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài điều kiện kinh tế xã hội thì môi trường pháp lí cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT.Thông thường ở các nước
luật KDBH, các văn bản , quy định có tính pháp quy phải ra đời trước khi
ngành bảo hiểm phát triển.Luật bảo hiểm và các văn bản pháp quy có liên
quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề như: tài chính, đầu tư , hợp đồng, thuế,
… Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động
KDBH.Chẳng hạn ở một số nước phát triển như : Anh, Pháp, Đức,…Nhà
nước thường tạo điều kiện cho BHNT phát triển bằng cách có chính sách ưu
đãi về thuế.Mục đích là nhằm tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự
mình lập nên quỹ hưu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ nhà
nước.Mặt khác còn đẩy mạnh được quá trình tập trung vốn trong các công ty
bảo hiểm để từ đó có vốn đầu tư dài hạn cho phát triển kinh tế.Cũng vì những
mục đích trên mà các nước ở châu Á như: Ấn Độ, Hồng Kông,…không đánh
thuế doanh thu đối với các nghiệp vụ BHNT.Sự ưu đãi này là đòn bẩy tích
cực để BHNT phát triển.
1.1.4 Các loại hình BHNT
BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau.Người bảo hiểm đã
thực hiện đa dạng hoá các sản phẩm BHNT thực chất là đa dạng hoá các loại
hợp đồng nhằm đáp ứng và thoả mãn mọi nhu cầu của người tham gia bảo
hiểm.Trong thực tế có 3 loại hình BHNT cơ bản:
-Bảo hiểm trong trường hợp tử vong
-Bảo hiểm trong trường hợp sống
-BHNT hỗn hợp
Ngoài ra người được bảo hiểm còn áp dụng các điều khoản bổ sung cho
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục: Loại này có thể được tái tục vào ngày kết
thúc hợp đồng và không yêu cầu có thêm bằng chứng nào về sức khoẻ của
người được bảo hiểm, nhưng có sự giới hạn về độ tuổi.Tại lúc tái tục, phí bảo
hiểm tăng lên vì độ tuổi của người được bảo hiểm lúc này tăng lên.
-Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi: Đây là loại hình bảo hiểm tử kỳ cố
định nhưng cho phép người được bảo hiểm có sự lựa chọn chuyển đổi một
phần hay toàn bộ hợp đồng thành một HĐBHNT trọn đời hay BHNT hỗn hợp
tại một thời điểm nào đó khi hợp đồng đang còn hiệu lực.Phí bảo hiểm được
tính dựa trên HĐBHNT trọn đời hay hỗn hợp mới theo độ tuổi của người có
hợp đồng.
-Bảo hiểm tử kỳ giảm dần: Đây là loại hình bảo hiểm mà có một bộ phận
của STBH giảm hàng năm theo một mức quy định.Bộ phận này giảm tới 0
vào cuối kì hạn hợp đồng. Đặc điểm của loại hình này là:
• Phí bảo hiểm giữ ở mức cố định
• Phí thấp hơn bảo hiểm tử kỳ cố định
Giai đoạn nộp phí ngắn hơn toàn bộ thời hạn hợp đồng để tránh việc
thanh toán vào cuối thời hạn hợp đồng khi mà STBH còn rất nhỏ.
-Bảo hiểm tử kỳ tăng dần: Loại này được phát hành nhằm giúp người
tham gia bảo hiểm có thể ngăn chặn được yếu tố lạm phát của đồng tiền.Có
nghĩa là STBH thực trong hợp đồng bị giảm do đồng tiền sụt giá trong một
khoảng thời gian.
-Bảo hiểm thu nhập gia đình: Loại hình bảo hiểm này nhằm đảm bảo thu
nhập cho một gia đình khi không may người trụ cột trong gia đình bị
chết.Quyền lợi bảo hiểm mà gia đình nhận được sau cái chết của người trụ cột
có thể là:
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-BHNT trọn đời phi lợi nhuận:Loại này có mức phí và STBH cố định
suốt cuộc đời.Vì vậy, khi thanh toán STBH cho người thụ hưởng không có
khoản lợi nhuận được chia.
-BHNT trọn đời có tham gia chia lợi nhuận: Loại hợp đồng này cũng
giống như loại hình BHNT trọn đời phi lợi nhuận nhưng khi thanh toán STBH
cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm, họ được chia một phần lợi nhuận
như đã thoả thuận trong hợp đồng.
-BHNT trọn đời đóng phí liên tục: Loại này yêu cầu người được bảo
hiểm phải đóng phí liên tục cho tới khi chết.Vì đóng phí liên tục nên số phí
phải đóng hàng năm sẽ thấp hơn so với các loại hợp đồng khác và mức phí
này là bằng nhau giữa các năm.
-BHNT trọn đời phí đóng một lần: Đây là loại hình bảo hiểm mà người
được bảo hiểm chỉ đóng phí một lần khi kí kết hợp đồng, còn người được bảo
hiểm phải đảm bảo chi trả bất cứ lúc nào khi cái chết của người được bảo
hiểm xuất hiện.
-BHNT trọn đời quy định số lần đóng phí bảo hiểm: loại này không đòi
hỏi người được bảo hiểm phải đóng phí liên tục hay một lần, mà quy định số
năm đóng phí bảo hiểm.Tổng số phí đóng mỗi lần phụ thuộc vào số lần đóng
phí.Nếu người được bảo hiểm chết trước khi hết hạn đóng phí thì quyền lợi
bảo hiểm sẽ được thanh toán cho người thụ hưởng bảo hiểm và không phải trả
thêm các khoản phí còn chưa trả hết.
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.4.2 Bảo hiểm trong trường hợp tử vong (còn gọi là bảo hiểm sinh
kỳ)
Thực chất của loại bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi trả
những khoản tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong
suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm.Nếu người được bảo hiểm chết trước
ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kì một khoản tiền nào.
Khi triển khai các loại hình BHNT, nhà bảo hiểm còn nghiên cứu, đưa
ra các điều khoản bổ sung để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân.Các
điều khoản bổ sung thường hay được áp dụng bao gồm:
-Điều khoản bổ sung bảo hiểm nằm viện và phẫu thuật:Có nghĩa là nhà
bảo hiểm cam kết trả các chi phí nằm viện và phẫu thuật cho người được bảo
hiểm khi họ bị ốm đau thương tích.Tuy nhiên nếu người được bảo hiểm tự
gây thương tích, tự tử. mang thai và sinh nở thì không được hưởng quyền lợi
bảo hiểm.Mục đích của điều khoản này nhằm trợ giúp người tham gia giảm
nhẹ gánh nặng chi phí trong điều trị phẫu thuật, đặc biệt là trong các trường
hợp ốm đau thương tích bất ngờ.
-Điều khoản bổ sung bảo hiểm tai nạn: Nhằm trợ giúp thanh toán chi phí
trong điều trị thương tật, từ đó bù đắp sự mất mát hoặc giảm thu nhập do bị
chết hoặc thương tật của người được bảo hiểm. Điều khoản bảo hiểm này có
đặc điểm là bảo hiểm khá toàn diện các hậu quả tai nạn như: Người được bảo
hiểm bị tàn phế, thương tật toàn bộ, thương tích tạm thời và bị tai nạn sau đó
Nguyễn Thị Thu Thuỷ Bảo hiểm 46b
25