công tác khai thác tại công ty Bảo việt Nhân Thọ Hà Nội - Pdf 22

Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, đời sống của con ngời ngày càng đợc
cải thiện, nhu cầu của con ngời ngày càng đa dạng và phong phú. Trong đó, nhu cầu
đảm bảo một cuộc sống ổn định và việc đảm bảo cho tơng lai ngày càng đợc mọi ng-
ời quan tâm. Bảo hiểm nhân thọ ra đời đã phần nào thảo mãn đợc những nhu cầu đó
của mọi ngời.
Hiện nay, theo đánh giá của một số chuyên gia trong ngành, thị trờng bảo hiểm
nhân thọ Việt Nam còn nhiều tiềm năng cha khai thác. Nhng với sự góp mặt của 4
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các công ty đều mong muốn tìm cho mình một
chỗ đứng vững chắc trên thị trờng, do đó các hoạt động cạnh tranh để khai thác và
chiếm lĩnh thị trờng diễn ra rất quyết liệt. Tính cạnh tranh mạnh mẽ thể hiện trên tất
cả các mặt nh : thu hút khách hàng, thu hút đại lý, sản phẩm, dịch vụ, địa bàn hoạt
động, quảnh cáo nhằm đạt đ ợc hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ việc khai thác bảo hiểm nhân
thọ thực hiện việc tiếp cận với mỗi khách hàng đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Đây đúng là khâu quyết định kết quả của hoạt động kinh doanh của công ty, do đó,
để có đợc kết quả kinh doanh nh mong muốn đòi hỏi công tác khai thác phải không
ngừng đợc cải tiến và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế của thị trờng. Trớc
thực trạng trên, công ty cũng đã đa ra rất nhiều chinh sách và biện pháp nhằm hoàn
thiện công tác này nhng do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên ngoàI những
thành quả đạt đợc công ty cũng không tránh khỏi những mặt còn tồn tại cần khắc
phục.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này, qua quá trình thực tập tại công ty
Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội, qua thực tế nghiên cứu, và những kiến thức đã đợc tích
luỹ đợc tại trờng ĐHKTQD em đã quyết định chọn đề tài Một số giải pháp nhằm
thúc đẩy công tác khai thác tại công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội làm đề tài cho
chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em, với mong muốn nâng cao kiến thức của bản
thân và có những ý kiến đóng góp về những tồn tại trong vấn đề trên tại công ty.
Đề tài của em bao gồm ba phần:
1
Phần I: Lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ.

đó là sự tơng hỗ giữa những ngời cùng hội, cùng phờng. Tuy nhiên, hoạt động
của Phờng buôn dần dần bị biến mất do sự cấm đoán của các vua chúa Châu Âu
và sự nên án của Nhà thờ thiên chúa giáo thời bấy giờ.
Bảo hiểm con ngời nh một bộ phận của hợp đồng bảo hiểm hàng hải.
Trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hảI, cũng đã tong đề cập đến vấn đề bảo
đảm cuộc sống con ngời. Đó là bảo hiểm tù binh và bảo hiểm nô lệ.
3
Bảo hiểm tù binh:
Từ thợng cổ đến thế kỷ 19, trên tất cả các biển nhất là Địa trung hải bị những
tàu cớp biển hùng cứ. Chúng khám xét nhứng tàu buôn, cớp phá hàng hoá và bắt
cóc tất cả những ngời trên tau lên bờ để bán những nô lệ.
Bảo hiểm đầu tiên về các tù binh đã đợc thực hiện vào khoảng năm 1300 với
tên gọi Tai hoạ-Bảo hiểm. Mục đích của bảo hiểm tù binh là bù đắp cho những
ngời đợc bảo hiểm khoảng tiền chuộc cần thiết để mua lại những tù nhân nằm
trong tay những ngời Thổ Nhĩ Kỳ và ngời Mô. Thực vậy, điều 9 của Đạo dụ về
hàng hải Luis14 đã quy định: Tất cả mọi chủ tàu phải bảo hiểm tự do cho những
tù binh và phải nêu rõ khoản tiền chuộc các tù nhân trên các hợp đồng bảo hiểm.
Theo nhà luật học ngời pháp Pô-chi-e, Đạo dụ này đã không cho phép bảo
hiểm trực tiếp con ngời, mà chỉ bảo hiểm sự tự do của họ, có nghĩa là bảo hiểm
cho khoản tiền chuộc. Do vậy, bảo hiểm tù binh không thật sự là bảo hiểm con ng-
ời.
Bảo hiểm nô lệ:
Nh chúng ta đã biết, trong lịch sử đen tối của bang đêm Trung cổ, những
quốc gia của ngời da trắng đã tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lợc bắt cóc tù
binh từ Phi châu vvề bản quốc và bán họ cho những nhà giàu có nh những món
hàng hoá, đợc trao đổi mua bán nh những đồ vật thông thờng khác. Thực vậy,
trong điều 44 của bộ luật đen của Pháp đã chỉ rõ: những nô lệ da đen là những đồ
vật. Những ngời nô lệ này, ngay từ đó cố nhiên có thể trở thành các vật để bảo
hiểm.
Đạo dụ hàng hải của Luis 14 quy định trong điều 11 : Những ai mua lại tù

Nh vậy, vì những lý do nhận thức, vì thiếu cơ sở khoa học, bảo hiểm con ng-
ời đã bị cấm đoán từ hai phía quyền lực : nhà nớc và nhà thờ cho đến tận những
năm cuối thế kỷ 18.
Sự xuất hiện công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế giới.
Vào thế kỷ 17, hai nhà toán học Pascal và Fermat đã tìm ra phơng pháp tính
xác suet. Dựa trên cơ sở phát kiến này, đến thế kỷ 18, nhà toán học Johan Dewit
ngời Hà Lan đã tìm ra cách tính niên kim trọn đời, và John Graun-một nhạc trởng
đã lập ra bảng tỷ lệ tử vong.
5
Trong những năm 50 của thế kỷ 18, T.Simpon đã dựa vào bảng thống kê tử
vong do E.Halley lập ra, để lập thành bảng tỷ lệ phí bảo hiểm nhân thọ. Tỷ lệ chết
của con ngời ngày càng tăng dần theo lứa tuổi, số tiền phí bảo hiểm của ngời tham
gia bảo hiểm nhân thọ phải trả cũng tăng dần theo từng năm, nh vậy mới phù hợp
với nguyên tắc công bằng, hợp lý. Nhng tỷ lệ chết của những ngời trên 50 tuổi
tăng lên rất nhanh, ngời tham gia bảo hiểm rất có thể không còn cách nào để tiếp
tục tham gia bảo hiểm nữa, vì khoản phí bảo hiểm phải đóng góp quá nặng.
Năm 1762, nhà toán học ngời Anh Dobson đã hoàn thiện kỹ thuật tính phí
bảo hiểm, ông đã điều chỉnh mức phí bảo hiểm tăng lên hàng năm trở thành mức
phí bảo hiểm hàng năm chi trả bằng nhau, tức là phí bảo hiểm bình quân, và ông
đã tính toán đợc phí bảo hiểm nhân thọ tử kỳ và phí bảo hiểm nhân thọ trọn đời.
Trớc khi chết Dobson đã đệ trình một dự án thành lập một công ty bảo hiểm nhân
thọ. Vào năm1762, công ty Equitable đợc thành lập, trở thành công ty bảo hiểm
nhân thọ đầu tiên trên thế giới bán các hợp đồng rộng rãi cho nhân dân.( trớc đó ở
Mỹ cũng có một công ty bảo hiểm nhân thọ đợc thành lập năm 1759, nhng công
ty này chỉ bán các hợp đồng cho các con chiên ở nhà thờ của tín đồ
Presbyterian).Bản hợp đồng đầu tiên của công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là
hợp đồng bảo hiểm trọn đời. Năm 1769, t vấn kỹ thuật của công ty Equitale là tiến
sĩ Richard Pirice đã xuất bản cuốn sách đầu tiên về tính phí bảo hiểm nhân thọ
hoàn chỉnh.
Năm 1774, vua Anh là Georges III đã chính thức cho phép hoạt động của bảo

(%)
Phí
bảo hiểm
/ngời
(USD)
Châu Mỹ 425.629 9,3 30,14 3,63 530,1
Châu ÂU 464.044 16,1 32,86 4,69 576,3
Châu á 476.769 -4 33,76 5,66 133,3
Châu Phi 19.585 8,2 1,39 3,42 24,1
Châu úc 26.329 9,5 1,86 5,75 900,7
Toàn thế
giới
1412.357 6,9 100 4,57 235,4
Nguồn: Công ty Vina Re
b. Tại Việt Nam.
ở nớc ta sự phát triển của bảo hiểm con ngời nói chung và bảo hiểm nhân thọ
nói riêng gắn liền với sự biến đổi của xã hội. Từ thời thuộc Pháp, các nghiệp vụ
bảo hiểm sinh mạng đã đợc thực hiện để bảo hiểm cho các quan lại, quan chức
chính phủ và tầng lớp thị dân. Các hợp đồng bảo hiểm trên đều do các công ty bảo
hiểm của Pháp trực tiếp thực hiện.
Trong những năm 1970-1971 ở Miền Nam Việt Nam cũng có công ty bảo
hiểm Hng Việt đã triển khai một số loại hình bảo hiểm nhân thọ, nhng công ty
này hoạt động trong thời gian rất ngắn nên hầu nh ngời dân cha biết đến loại hình
bảo hiểm này.
Năm 1990, qua việc đánh giá các điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam, Bộ
Tài Chính đã cho phép Bảo Việt triển khai bảo hiểm sinh mạng cá nhân một loại
hình ngắn hạn của bảo hiểm nhân thọ, cho đến 1995 đã có trên 500.000 ngời tham
gia bảo hiểm nhân thọ với tổng số phí trên 10 tỷ đồng. Qua việc nghiên cứu tác
7
dụng cũng nh sự cần thiết phải có một loại hình bảo hiểm mới-bảo hiểm nhân thọ

8
sử dụng lao động. Tuỳ theo đặc điểm ngành nghề kinh doanh, các chủ doanh
nghiệp thờng mua bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tập thể, cho ng ời làm công
và những ngời chủ chốt trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống
và tạo ra sự lôi cuốn, gắn bó ngay cả trong lúc doanh nghiệp gặp khó khăn,
tránh cho doanh nghiệp sự bất ổn về tài chính khi mất ngời làm công chủ chốt.
Những ngời làm công chủ chốt thờng là những kỹ s trởng, những tay thợ lành
nghề, những chuyên viên điều hành mạng internet, Nừu doanh nghiệp bị mất
họ thì khả năng thu lợi sẽ bị giảm và công việc điều hành gặp nhiều khó khăn.
Do vậy, mua bảo hiểm nhân thọ cho họ, có thể đảm bảo cho doanh nghiệp khỏi
sự thua thiệt tài chính vì những tai nạn rủi ro gây nên mà vẫn có đợc những chi
phí bù đắp thay thế.
Bảo hiểm nhân thọ cũng góp phần nâng cao sức khoẻ cho những ngời tham gia
bảo hiểm nhân thọ thông qua dịch vụ kiểm tra sức khoẻ của phòng chăm sóc
sức khoẻ khách hàng, dịch vụ này thờng đợc tiến hành định kỳ 1,2 năm/ lần tại
các trung tâm y tế do công ty bảo hiểm nhân thọ chỉ định hoặc tại phòng chăm
sóc sức khoẻ khách hàng tại công ty.
Mặt khác, khi ngời đợc bảo hiểm gặp rủi ro nh ốm đau, phẫu thuật, tai
nạn công ty bảo hiểm cũng trả một số tiền để họ phục hồi sức khoẻ một cách
nhanh chóng.
Bảo hiểm nhân thọ đôi khi còn có vai trò nh một vật thế chấp để vay vốn hoặc
bảo hiểm nhân thọ tín dụng thờng đợc bán cho các đối tợng đi vay để họ mua
xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác,
b. Đối với nền kinh tế.
Thông qua dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, một dịch vụ có đối tợng tham gia rất
đông đảo, các nhà bảo hiểm thu đợc phí để hình thành quỹ bảo hiểm, quỹ này
đợc sử dụng chủ yếu vào mục đích bồi thờng, chi trả và dự phòng. Khi nhàn
rỗi, nó sẽ là nguồn vốn đầu t hữu ích góp phần phát triển và tăng trởng kinh tế.
Vốn đầu t của các công ty bảo hiểm nhân thọ thờng rất lớn, vì hoạt động bảo
hiểm nhân thọ mang tính dài hạn, do đó nguồn vốn bảo hiểm nhân thọ cung

riêng số lợng đại lý chuyên nghiệp đến cuối năm 2001 trên toàn thị trờng bảo
hiểm nhân thọ Việt Nam có đến hơn 40.000 ngời ( trong đó Bảo Việt có
khoảng 12.000 ngời). Nghề đại lý bảo hiểm nhân thọ đã thực sự trở thành một
10
nghề có tính chuyên nghiệp cao, đợc xã hội thừa nhận và là nghề có thu nhập
khá cao hiện nay. Vì đối tợng và phạm vi rộng, thời gian dài, cho nên phát
triển dịch vụ này sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động.
Chính vì có nhiều tác dụng nh vậy mà bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát
triển và trở nên quan trọng không thể thiếu đợc đối với mỗi cá nhân, tổ chức và
mỗi nền kinh tế.
ii. Những vấn đề cơ bản của bảo hiểm nhân thọ.
1. Đặc trng của bảo hiểm nhân thọ.
a. Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro.
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa bảo hiểm nhân thọ
với bảo hiểm phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi ngời mua bảo hiểm nhân thọ sẽ định kỳ
nộp một khoản tiền nhỏ ( gọi là phí bảo hiểm ) cho ngời bảo hiểm, ngợc lại ngời
bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn ( gọi là số tiền bảo hiểm ) cho ngời
nhận quyền lợi bảo hiểm nh đã thoả thuận từ trớc khi có các sự kiện bảo hiểm xảy
ra. Số tiền bảo hiểm đợc trả khi ngời đợc bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định
và đợc ấn định trong hợp đồng. Hoặc số tiền này đợc trả cho thân nhân và gia đình
ngời đợc bảo hiểm khi ngời này không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết
kiệm đợc một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm. Số tiền này giúp
những ngời còn sống trang trảI những khoản chi phí cần thiết nh : thuốc men, mai
táng, chi phí giáo dục con cái Chính vì vậy, bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính
tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro . Tính chất tiết kiệm ở đây thể hiện ngay trong từng
cá nhân, từng gia đình một cách thờng xuyên, có kế hoạch, có kỷ luật. Nội dung
tiết kiệm khi mua bảo hiểm nhân thọ khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ,
ngời bảo hiểm đảm bảo trả cho ngời tham gia bảo hiểm hay ngời thân của họ một
số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm đợc một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là
khi ngời đợc bảo hiểm không may gặp rủi ro, trong thời hạn đã đợc ấn định trong

- Hoặc, không xảy ra của chính sự cố tử vong. Ngời bảo hiểm sẽ trả tiền bảo
hiểm cho ngời đợc bảo hiểm khi anh ta còn sống đến hết hạn hợp đồng . Đó là
hợp đồng bảo hiểm trong trờng hợp sống.
- Hoặc, đồng thời bảo hiểm cho cả hai sự kiện : tử vong và không tử vong.
Đó là các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp cho phép ngời đợc bảo hiểm có
thể để lại cho gia đình và ngời thân một khoản tiền nếu anh ta không may bị
12
chết và cho phép anh ta lập ra một khoản trợ cấp nếu còn sống đến hết hạn hợp
đồng.
d. Các loại hợp đồng trong bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng và phức tạp.
Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thể hiện
ngauy ở các sản phẩm của nó. Mỗi sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng có nhiều
loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có các
hợp đồng 5 năm, 10 năm, Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau, lại có sự
khác nhau về số tiền bảo hiểm, phơng thức đóng phí, độ tuổi của ngời tham gia
Ngay cả trong một bản hợp đồng mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp.
Khác với các bản hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, trong mỗi hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ có thể có 4 bên tham gia : ngời bảo hiểm,ngời đợc bảo hiểm, ngời tham
gia bảo hiểm và ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm. Chính vì vậy, mà mối quan hệ
giữa những ngờig có liên quan nhiều khi rất phức tạp, chẳng hạn, nh chúng ta đã
biết, đối với các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ chống lại các hậu quả của một
biến cố bất lợi, ngwif ta biết khá rõ ai là ngời thụ hởng bảo hiểm. Chẳng hạn, nạn
nhân trực tiếp hay gián tiếp của sự cố. Nhng đối với một vài hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ, điều này hoàn toàn không nh vậy. Trong các bảo hiểm trong trờng hợp
tử vong, ngời thụ hởng bảo hiểm không phải là nạn nhân của biến cố. Ngời đợc
bảo hiểm chết, song ngời thụ hởng bảo hiểm là những ngời có mối quan hệ thân
thuộc với ngời đợc bảo hiểm, ví dụ nh : vợ chồng, con cái, của ng ời tham gia
bảo hiểm. Điều này làm hạn chế sự tự do của ngời đợc bảo hiểm , ngời đợc bảo
hiểm không phải lúc nào cũng có thể tự do thay đổi ngời thụ hởng quyền lợi bảo
hiểm. Ngoài ra, cha kể đến tính chất của hợp đồng bảo hiểm này, đôi khi dẫn đến

nhất định.
ở các nớc kinh tế phát triển, bảo hiểm nhân thọ đã ra đời và phát triển hàng
trăm năm nay. Ngợc lại, có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn cha triển
khai đợc bảo hiểm nhân thọ, mặc dù ngời ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó.
Để lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu để bảo
hiểm nhân thọ ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế xã hội phải phát triển.
- Những điều kiện về kinh tế nh :
+ Tốc độ tăng trởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP),
+ Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân một đầu ngời,
+ Mức thu nhập của dân c,
14
+ Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền,
+ Tỷ giá hối đoái,
- Những điều kiện xã hội bao gồm :
+ Điều kiện về dân số,
+ Tuổi thọ bình quân của ngời dân,
+ Trình độ học vấn,
+ Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh,
Ngoài đIều kiện kinh tế xã hội, thì môi trờng pháp lý cũng ảnh hởng không
nhỏ đến sự ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ.Thông thờng ở các nớc, luật
kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời trớc khi
ngành bảo hiểm phát triển. Luật bảo hiểm và các văn bản có liên quan sẽ đề cập
cụ thể đến các vấn đề nh : tài chính, đầu t, hợp đồng, thuế, Đây là những vấn đề
mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Chẳng
hạn, ở một số nớc phát triển nh : Anh, Pháp, Đức nhà n ớc thờng tạo đIều kiện
thuận lợi cho bảo hiểm nhân thọ bằng cách có chính sách thuế u đãi. Mục đích là
nhằm tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên quỹ hu trí, từ đó
cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ ngân sách nhà nớc. Mặt khác, còn đẩy mạnh đ-
ợc quá trình tập trung vốn trong các công ty bảo hiểm nhân thọ để từ đó có vốn
dài hạn đầu t cho nền kinh tế. Cũng vì những mục đích trên, mà một số nớc ở

4. Quyền lợi bảo hiểm Chi trả số tiền bảo hiểm
trong trờng hợp:
- Chết
- Thơng tật toàn bộ
vĩnh viễn
- Hết hạn hợp đồng
Chi trả bồi thờng tổn
thất trong giới hạn bảo
hiểm khi có tổn thất xảy
ra.
5. Tính chất - Vừa mang tính rủi ro
vừa mang tính tiết kiệm.
- Tất cả mọi ngời tham
gia đều đợc nhận số tiền
bảo hiểm
- Chỉ mang tính rủi ro
- Chỉ có một số ít ngời
đợc nhận số tiền bảo
hiểm khi gặp rủi ro
thuộc trách nhiệm bảo
hiểm.

2. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản.
Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng đợc rất nhiều mục đích khác nhau. Đối với những
ngời tham gia mua mục đích chính của họ hoặc là để bảo vệ con cái và những ngời ăn
theo tránh khỏi những khó khăn khi cái chết đến bất ngờ đối với họ hoặc tiết kiệm để
đáp ứng các nhu cầu về tài chính trong tơng lai, nâng cao mức sống khi về già, đảm
bảo học tập cho con cái Do vậy, ng ời bảo hiểm đã thực hiện đa dạng hoá các sản
phẩm bảo hiểm nhân thọ, thực chất là đa dạng hoá các loại hợp đồng nhằm đáp ứng
và thoả mãn mọi nhu cầu của ngời tham gia bảo hiểm. Trong thực tế có 3 loại hình

Đây là loại đơn giản và có mức phí rẻ nhất của bảo hiểm tử kỳ. Phí bảo hiểm và
số tiền bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng. Ngời bảo
hiểm cam kết trả số tiền bảo hiểm đã ấn định trên hợp đồng nếu ngời đợc bảo hiểm
chết trớc ngày đáo hạn hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực nếu sau ngày gia
17
hạn hợp đồng không nộp phí bảo hiểm. Loại này chủ yếu nhằm thanh toán cho các
khoản nợ tồn đọng trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm bị tử vong.
- Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục:
Đối với hợp đồng này, ngời ký kết có thể yêu cầu tái tục vào ngày hết hạn hợp
đồng, phí bảo hiểm nộp thêm không nhiều, chi phí tái tục không đáng kể. Tuổi của
ngời đợc bảo hiểm để đợc tái tục là có giới hạn, hợp đồng chỉ đợc tái tục với một số
lần nhất định. Chẳng hạn, ngời đợc bảo hiểm sẽ không thể tái tục nếu tuổi anh ta vợt
quá 65 tuổi.
- Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi:
Đây là loại bảo hiểm tử kỳ cố định nhng ngời đợc bảo hiểm có sự lựa chọn
chuyển đổi một phần hay toàn bộ hợp đồng thành một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
trọn đời hay bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp tại một thời điểm nào đó khi hợp đồng đang
còn hiệu lực. Phí bảo hiểm đợc tính dựa trên một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn
hợp hay trọn đời mới theo độ tuổi của ngời có hợp đồng.
Loại hợp đồng này đợc sử dụng nh một sự bảo chứng cho một khoản tiền vay.
Việc lựa chọn chuyển đổi đợc thêm vào ở đây đa ra khả năng cho tơng lai, trong việc
sử dụng hợp đồng để thực hiện các yếu tố tiết kiệm.
- Bảo hiểm tử kỳ giảm dần:
Đây là loại hình bảo hiểm mà có số tiền bảo hiểm giảm xuống hàng năm theo
một mức quy định, vào cuối kỳ hạn của hợp đồng số tiền bảo hiểm phụ sẽ bằng
không.
Phí bảo hiểm trong hợp đồng này luôn giữ ở mức cố định, giai đoạn nộp phí đợc
áp dụng ngắn hơn thời hạn của hợp đồng, mức phí bảo hiểm của hợp đồng này có thể
thấp hơn mức phí bảo hiểm tử kỳ cố định.
Ví dụ: Hợp đồng có thời hạn 20 năm, số tiền bảo hiểm chính là 40.000.000

Đây là loại hình bảo hiểm mà việc thanh toán trợ cấp chỉ đợc thực hiện khi ngời
đợc bảo hiểm chết, nhng ngời thụ hởng đợc chỉ định trong hợp đồng phải còn sống.
Nói cách khác, nghĩa vụ của nhà bảo hiểm tuỳ thuộc vào điều kiện : tử vong của ngời
đợc bảo hiểm và sự còn sống của ngời thụ hởng đợc chỉ định trong hợp đồng.
a 2. Bảo hiểm nhân thọ trọn đời.
19
Đâu đó, ngời ta còn có tên gọi cho bảo hiểm này là bảo hiểm trờng sinh.
Trong loại bảo hiểm này, ngời bảo hiểm cam kết thanh toán một số tiền đợc ấn định
trên hợp đồng khi ngời đợc bảo hiểm tử vong vào bất kỳ thời điểm nào kể từ ngày ký
kết hợp đồng.
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời không đơn thuần chống lại một rủi ro tử vong mà nó
tạo nên một khoản tiết kiệm cho ngời thụ hởng bảo hiểm, bởi lẽ chắc chắn nhà bảo
hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm. ở đây yếu tố bấp bênh chỉ là thời điểm mà nhà bảo hiểm
sẽ trả số tiền bảo hiểm. Ngoài ra, có một số trờng hợp loại hình bảo hiểm này còn
đảm bảo chi trả cho ngời đợc bảo hiểm ngay cả khi họ sống đến 100 tuổi.
Hiện nay, loại hình bảo hiểm nhân thọ trọn đời thờng có các loại hợp đồng sau:
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời có tham gia chia lợi nhuận:
Loại hợp đồng này cũng tơng tự nh loại trên, nhng khi thanh toán số tiền bảo
hiểm cho ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm, họ đợc chia một phần lợi nhuận nh đã
thoả thuận trong hợp đồng.
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời phi lợi nhuận:
Loại này có mức phí và số tiền bảo hiểm cố định suốt cuộc đời. Vì vậy, khi
thanh toán số tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng không có khoản lợi nhuận đợc chia.
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời đóng phí liên tục:
Loại này yêu cầu ngời đợc bảo hiểm phải đóng phí liên tục cho đến khi chết. Vì
đóng phí liên tục nên số phí phải đóng hàng năm sẽ thấp hơn so với các loại hợp đồng
khác và mức phí này là bằng nhau giữa các năm. Với mức phí phải đóng bằng nhau
giữa các năm thì thời kỳ đầu, ngời bảo hiểm thu đợc số phí lớn hơn mức cần thiết để
chi trả cho những ngời không may bị chết sớm. Sau một khoảng thời gian, xác suất tử
vong của ngời tham gia ngày càng cao hơn, số tiền chi trả tất yếu sẽ tăng thêm. Nh

- Mục đích:
+ Đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hu hay tuổi cao sức yếu.
+ Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cái khi về già.
+ Bảo trợ mức sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.
Nh vậy, với một khoản chi phí phải nộp khi ký hợp đồng mà ngời tham gia lựa
chọn, ngời bảo hiểm sẽ thanh toán một khoản trợ cấp định kỳ hàng tháng cho ngời đ-
ợc bảo hiểm. Nếu khoản trợ cấp này thanh toán định kỳ cho đến hết đời, ngời ta gọi là
bảo hiểm niên kim nhân thọ trọn đời. Nếu chỉ đợc thanh toán trong một thời gian
nhất định, ngời ta gọi là bảo hiểm niên kim nhân thọ tạm thời.
Các khoản trợ cấp định kỳ chỉ bắt đầu đợc thanh toán vào một ngày ấn định và
chỉ đợc trả khi ngời đợc bảo hiểm còn sống. Tuy nhiên, có một số công ty bảo hiểm
21
còn áp dụng các điều khoản bổ sung để hoàn phí bảo hiểm cho ngời thụ hởng quyền
lợi bảo hiểm khi ngời đợc bảo hiểm bị tử vong, thế nhng trờng hợp này rất ít thấy.
Loại hình bảo hiểm này rất phù hợp với những ngời khi về hu hoặc những ngời
không đợc hởng trợ cấp hu trí từ bảo hiểm xã hội đến độ tuổi tơng ứng với tuổi về hu
đăng ký tham gia, để đợc hởng những khoản trợ cấp hàng tháng. Vì vậy, tên gọi bảo
hiểm tiền trợ cấp hu trí, bảo hiểm tiền hu, niên kim nhân thọ đ ợc các công ty
bảo hiểm vận dụng linh hoạt.
c. Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp:
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cả trong trờng hợp ngời đợc
bảo hiểm tử vong hay còn sống. Yếu tố tiết kiệm và rủi ro đan xen nhau vì thế nó đợc
áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nớc trên thế giới.
- Đặc điểm :
+ Số tiền bảo hiểm đợc trả khi hết hạn hợp đồng hoặc ngời đợc bảo hiểm bị tử
vong trong thời hạn bảo hiểm.
+ Thời hạn bảo hiểm xác định ( thờng là 5, 10, 15 năm, ).
+ Phí bảo hiểm thờng đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạn bảo
hiểm.
+ Có thể đợc chia lãi thông qua đầu t phí bảo hiểm và cũng có thể đợc hoàn phí

ợc bảo hiểm không may gặp phải các chứng bệnh hiểm nghèo nh : đau tim, ung th,
suy gan, suy thận, suy hô hấp, Mục đích tham gia bảo hiểm ở đây nhằm có đ ợc
những khoản tài chính nhất định để trợ giúp thanh toán các khoản chi phí y tế lớn và
góp phần giải quyết lo liệu các nhu cầu sinh hoạt ngay trong thời gian điều trị.
Ngoài ra, trong một số hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, các nhà bảo hiểm còn đa
vào các điều khoản bổ sung khác nh : hoàn phí bảo hiểm, miễn thanh toán phí khi bị
tai nạn, thơng tật, nhằm tăng tính hấp dẫn của các hợp đồng chính để thu hút ng ời
tham gia.
Mặc dù có mức phí cao hơn, nhng các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có các điều
khoản bổ sung đã đáp ứng đợc nhu cầu đa dạng của ngời tham gia bảo hiểm.
3. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
- Khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ :
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một hợp đồng mà thông qua đó một bên là ngời
đợc bảo hiểm ( có thể là ngời ký kết) tự cam kết đóng một khoản tiền (phí bảo hiểm )
đầy đủ và đúng kỳ hạn cho một bên khác là công ty bảo hiểm nhân thọ, đồng thời
23
công ty bảo hiểm cam kết sẽ có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm khi có những sự
kiện định trớc xảy ra.
- Các bên có liên quan tropng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có các bên sau
đây:
+ Ngời bảo hiểm chính là các công ty bảo hiểm nhân thọ. Sau khi đã cam kết
nhận bảo hiểm, trách nhiệm và nghĩa vụ chủ yếu của công ty là chi trả số tiền bảo
hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với ngời đợc bảo hiểm.Sự kiện bảo hiểm
trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thờng bao gồm:
Tử vong
Hết hạn hợp đồng
Sống đến độ tuổi nhất định
Bên nhận bảo hiểm không đợc phép huỷ bỏ hay thay đổi các điều khoản trong
hợp đồng và cũng không đợc khiếu nại đòi phí bảo hiểm.
+ Ngời đợc bảo hiểm là nguwowifmaf sinh mạng và cuộc sống của họ đợc bảo

Căn cứ vào tuổi trong giấy khai sinh, chứng minh th, hộ chiếu hay sổ hộ khẩu.
Căn cứ vào ngày sinh trong các loại giấy tờ này để tính độ tuổi đợc nhận bảo hiểm.
Hiện nay, các công ty thờng áp dụng cách tính tuổi theo ngày sinh nhật vừa qua
với ngày phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Nếu gọi t là khoảng thời gian từ ngày sinh
nhật vừa qua đến ngày hợp đồng phát sinh hiệu lực.
t <6 tháng : Tuổi = Năm của sinh nhật vừa qua Năm sinh.
t >= tháng : Tuổi = Năm của sinh nhật tới Năm sinh.
- Giá trị giải ớc :
Giá trị bảo giải ớc là số tiền mà ngời tham gia bảo hiểm đợc nhận lại theo các
quy định trong các điều khoản của hợp đồng khi ngời tham gia bảo hiểm yêu cầu huỹ
bỏ hợp đồng trớc khi đáo hạn hợp đồng hoặc khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực.
Đối với hợp đồng đóng phí một lần có giá trị giải ớc ngay khi hợp đồng bắt đầu
có hiệu lực.
Đối với hợp đồng đóng phí định kỳ ( tháng, quý, 6 tháng, ) có giá trị giải ớc
khi hợp đồng đã có hiệu lực từ hai năm trở lên.
- Số tiền bảo hiểm giảm:
Khi hợp đồng có hiệu lực trong một thời gian nào đó ( có thể là một năm hay hai
năm trở lên), ngời tham gia bảo hiểm có thể duy trì hợp đồng bảo hiểm miễn phí với
số tiền bảo hiểm giảm đi. Số tiền bảo hiểm giảm do ngời tham gia không đóng phí
25

Trích đoạn Tổ chức công tác khai thác tại Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội Vài nét về tình hình phát triển thị trờng bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Phân tích tổng hợp công tác khai thác của công ty giai đoạn 1996-2001 Tơng quan so sánh trên thị trờng bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Tăng cờng công tác quản lý, mở rộng và đào tạo bồi dỡng đội ngũ đại lý, cộng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status