ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
VŨ THỊ LỆ QUYÊN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT VÀ THUẾ
TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học:T.S NGUYỄN THỊ MINH THỌ
Thái Nguyên, năm 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn do tôi thực hiện. Các số liệu và chƣa
đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác. Các tài liệu tham khảo, trích
dẫn đều đƣợc ghi tên tác giả và tên tài liệu trích dẫn trong phần tài liệu tham
khảo.
Tác giả luận văn
Vũ Thị Lệ Quyên
Tác giả luận văn
Vũ Thị Lệ Quyên
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1. Mục tiêu chung 3
2.2. Mục tiêu cụ thể 3
3. Phạm vi nghiên cứu 4
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu: Các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên 4
3.2. Nội dung nghiên cứu: Tập trung chủ yếu vào hai luậ thuế chính là Luật
thuế GTGT và Luật thuế TNDN 4
3.3. Về mặt không gian 4
3.4. Về mặt thời gian 4
3.5. Bố cục nội dung của đề tài nghiên cứu 4
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5
1.1. Các khái niệm về thuế 5
1.2. Sự cần thiết của thu Ngân sách, thuế 6
1.3. Bản chất của thuế 7
1.3.1. Bản chất kinh tế 8
1.3.2. Tính cƣỡng chế của thuế 8
2.1.2.1. Dân số và lao động 28
2.1.2.2. Tình hình giáo dục và y tế 29
2.1.2.3. Hệ thống cơ cấu hạ tầng 30
2.1.2.4. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2015 31
2.1.3. Tình hình phát triển các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 33
2.1.4. Phát triển Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông nghiệp trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên 34
v
2.1.5. Tình hình cơ bản của Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 37
CHƢƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 42
3.1
. Tình hình nộp thuế của các Doanh nghiệp Nông nghiệp 42
3.2. Tình hình nộp thuế qua 3 năm 47
3.1.1. Phân tích tình hình nộp thuế Giá trị gia tăng (GTGT) 51
3.1.1.1. Kê khai thuế GTGT 51
3.1.1.2. Tình hình số thuế phải nộp của các DN 53
3.1.1.3 Tình hình số thuế còn phải nộp của các doanh nghiệp 55
3.1.1.4. Tình hình đề nghị hoàn thuế của các DN 56
3.1.1.5. Tình hình thuế đề nghị miễn giảm của các doanh nghiệp 57
3.1.2. Phân tích tình hình nộp thuế TNDN 57
3.1.2.1. Tình hình kê khai thuế TNDN 57
3.1.2.2. Tình hình số thuế phải nộp của các doanh nghiệp 58
3.1.2.3. Số thuế TNDN còn nợ đọng của các doanh nghiệp 59
3.2. Phân tích tình hình công tác quản lý thuế tại cơ quan thuế 61
3.2.1. Tình hình năng lực của cán bộ thuế 61
3.2.2. Tình hình ban hành hệ thống văn bản thuế của nhà nƣớc 62
3.2.3. Phân tích tình hình thanh tra - kiểm tra quyết toán thuế 64
Bảng 3.1. Tình hình nộp thuế của các doanh nghiệp nông nghiệp năm 2009 43
Biểu đồ 3.1: Tình hình nộp thuế trong các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2009 43
Bảng 3.2 Tình hình nộp thuế của các doanh nghiệp nông nghiệp năm 2010 45
Biểu đồ 3.2: Tình hình nộp thuế trong các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2010 46
Bảng 3.3 Tình hình nộp thuế của các doanh nghiệp nông nghiệp năm 2011 47
Biểu đồ 3.3: Tình hình nộp thuế trong các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2011 47
Bảng 3.4: Tình hình thu thuế qua 3 năm 2009-2001 49
Bảng 3.5: Tình hình nộp thuế GTGT qua 3 năm 2009- 2011 55
Biểu đồ 3.5: Tình hình nợ đọng thuế GTGT qua 03 năm ( 2009-2011) 55
Biểu iểu đồ 3.6 : Tình hình hoàn thuế GTGT qua 3 năm 2009 – 2011 57
Biểu đồ 3.7 : Tình hình nộp thuế TNDN qua 3 năm 2009-2011 59
Biểu đồ 3.8: Tình hình nợ động thuế qua các năm 2009 -2011 61
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kì một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể
hiện quyền lực của Nhà nƣớc và là nguồn tài chính chủ yếu và tin cậy để phục
vụ nhu cầu chi tiêu công cộng xã hội. Với tốc độ gia tăng và đa dạng hóa
nhanh chóng về phát triển kinh doanh cùng với xu thế nhất thể hóa các khu
vực và toàn cầu hóa nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi quốc gia
nói riêng và khu vực nói chung đã đặt các nhà hoạch định chính sách kinh tế,
tài chính trƣớc những thách thức lớn lao đòi hỏi phải cải cách toàn diện.
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang bƣớc nhanh sang giai đoạn mới:
Giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế (WTO), đẩy mạnh CNH – HĐH. Điều
này giúp cho kinh tế nƣớc ta có thể tự khẳng định mình trên đấu trƣờng khu
vực và thế giới bằng các lợi thế của mình, tuy nhiên nó cũng đặt ra cho
nói riêng. Theo mô hình nay thì Doanh nghiệp đƣợc lợi gì? và cơ quan thuế
thì phải triển khai nhƣ thế nào? Để phát huy đƣợc tác dụng của nó.
- Những nguyên nhân dẫn đến chƣa phát huy đƣợc tác dụng
Hệ thống thuế chƣa đƣợc kết hợp chặt chẽ làm cho cả cán bộ thuế và
Doanh nghiệp khó thực hiện.
- Giải pháp: giải quyết đƣợc hai vấn đề chính về phía daonh nghiệp
và về phía ngành thuế nhƣ sau:
* Giải pháp cho doanh nghiệp
Để thực hiện tốt chính sách thuế tổ chức nghiên cứu và nắm vững
Luật quản lý thuế, đồng hành cùng cơ quan thuế triển khai thực hiện tốt các
Luật thuế, đồng thời thực hiện có hiệu quả cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh
tự khai, tự nộp thuế.
3
Chấp hành nghiêm chỉnh đƣờng lối chính sách của Đảng, Pháp luật
của Nhà nƣớc, nhất là các quy định của luật thuế và luật quản lý thuế, quy
định của luật kế toán và chế độ quản lý, sử dụng hoá đơn chứng từ.
Phản ảnh kịp thời những khó khăn vƣớng mắc trong sản xuất kinh
doanh, nộp NSNN và thực hiện Pháp luật về thuế với Tỉnh uỷ, UBNN tỉnh
và các ngành chức năng để có biện pháp chỉ đạo kịp thời nhằm thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ đƣợc giao.
* Giải pháp cho ngành thuế
Ngành thuế đã xác định Doanh nghiệp là bạn đồng hành của cơ quan
hỗ trợ, giải quyết kịp thời những vƣớng mắc của ngƣời nộp thuế sau khi
chuyển sang mô hình các doanh nghiệp có quyền tự chủ về kê khai và nộp
thuế. Đây là mục tiêu trong tâm của ngành thuế nói chung và ngành thuế
Thái Nguyên nói riêng để phát huy đƣợc những ƣu việt của nó thì vẫn còn là
câu hỏi cho ngành thuế Thái Nguyên
Vì vậy tôi chọn đề tài: “Công tác quản lý thuế GTGT và thuế TNDN
đối với doanh nghiệp Nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” đề tài này
2009 - 2011 và 5 tháng đầu năm 2012.
3.5. Bố cục nội dung của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận. Luận văn gồm các phần chính sau:
- Chƣơng I : Tổng quan tài liệu về thuế và phƣơng pháp nghiên cứu
- Chƣơng II: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và Phân tích tình hình công
tác quản lý thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp tại doanh
nghiệp Nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Chƣơng III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác
quản lý thuế trong các doanh nghiệp Nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
5
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
1.1. Các khái niệm về thuế
Ở nƣớc ta hiện nay vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về thuế.
Theo từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học (1998), thuế là khoản tiền
hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu
nhập, nghề nghiệp, … buộc phải nộp cho Nhà nƣớc theo mức quy định.
Nếu xét trên giác độ phạm trù tài chính cũng có thể hiểu thuế là hình
thức động viên, phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân do các tổ chức kinh tế và ngƣời dân tạo ra để hình thành quỹ tiền
tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc.
Tuy nhiên, xét về thực chất, thuế đƣợc đặc trƣng bởi các quan hệ tiền tệ
giữa Nhà nƣớc với các tổ chức và cá nhân trong xã hội, mối quan hệ này đƣợc
nảy sinh một cách khách quan và có tính chất xã hội đặc biệt tức là việc nộp
thuế có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc quy định
mức thu và thời hạn thu bằng Pháp luật đối với mọi thành viên trong xã hội.
Vì vậy, có thể nêu khái niệm tổng quát về thuế nhƣ sau:
Nhƣ vậy, vấn đề đƣợc đặt ra là thu từ đâu để phục vụ cho chi tiêu?
Bộ máy Nhà nƣớc gồm những ngƣời chuyên công tác quản lý điều
hành chứ không trực tiếp sản xuất trong khi thu nhập của xã hội do các tầng
lớp dân cƣ tạo ra. Lịch sử cho thấy có 3 hình thức động viên một phần thu
nhập của xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc, đó là: quyên
góp, vay của dân và dùng quyền lực buộc dân đóng góp. Quyên góp thì
7
dựa trên tinh thần tự nguyện, vay thì phải trả mà trả thì lại phải tìm nguồn
thu. Cho nên lịch sử cũng cho thấy hình thức thứ 3 là hữu hiệu và hiệu quả
nhất. Và hình thức buộc dân đóng góp chính là thuế.
Từ những nhận định trên cho thấy, thuế là một sản phẩm tất yếu của
sự phân công lao động xã hội. Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và
tồn tại của Nhà nƣớc, vì Nhà nƣớc và do Nhà nƣớc. Nhà nƣớc ra đời là một
tất yếu khách quan vì vậy thuế cũng là một tất yếu khách quan với chức
năng chủ yếu và đầu tiên là nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho Nhà nƣớc.
Nhà nƣớc và thuế là hai phạm trù luôn gắn liền với nhau. Sử dụng
thuế làm công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế là sự cần thiết
khách quan đối với mọi Nhà nƣớc. Nhƣng mức độ và nội dung sử dụng ở
các nƣớc thì không hoàn toàn giống nhau; mà nó tuỳ thuộc vào từng Nhà
nƣớc nhất định, với tình hình kinh tế- xã hội nhất định và định hƣớng phát
triển kinh tế cụ thể trong từng thời kỳ lịch sử.
Hiện nay, tuỳ góc độ mà có các khái niệm khác nhau về thuế, đứng
ở góc độ pháp luật thì: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các
thể nhân và pháp nhân, đƣợc Nhà nƣớc qui định thông qua hệ thống
pháp luật nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc”. Đồng thời
thuế là công cụ điều tiết kinh tế linh hoạt nhạy bén và hiệu quả. Tính hợp lý
của các hình thức và biện pháp thuế khiến cho thuế trở thành công cụ điều
tiết sắc bén, đa diện và thâm nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế.
1.3. Bản chất của thuế
mà bỏ qua yêu cầu đảm bảo sự tăng trƣởng kinh tế thì thƣờng gặp thất
bại, dễ dẫn đến hậu quả xấu về nhiều mặt.
1.3.2. Tính cưỡng chế của thuế
Đây là một phạm trù độc đáo và có nét riêng. Tính cƣỡng chế đƣợc
thể hiện thông qua các điều khoản pháp luật. Thuế không thể xây dựng
trên và dung hòa với tƣ tƣởng tự nguyện; khoản thuế thu đƣợc không thể
9
trông chờ vào thiện chí hay nhiệt tình của dân chúng đối với Nhà nƣớc.
Thuế thể hiện ý chí toàn dân chứ không riêng ai cả.
1.3.3. Tính không có đối giá trực tiếp
Nộp thuế cho Nhà nƣớc không giống chi tiền mua một sản phẩm
hay dịch vụ nào đó để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng riêng tƣ. Nộp thuế là một
nghĩa vụ không thể thoái thác và khối lƣợng các lợi ích mà ngƣời nộp
thuế nhận đƣợc từ Nhà nƣớc không liên quan gì đến khối lƣợng thuế đã
chi trả. Ngƣời nộp thuế không nhận lại đƣợc lợi ích tƣơng xứng với
khoản họ đóng góp. Khoản tiền từ thuế sẽ đƣợc Nhà nƣớc sử dụng vào
những mục tiêu chiến lƣợc và lâu dài, nó quay lại phục vụ cho ngƣời dân
nhƣng gián tiếp và rất khó nhận thấy.
1.3.4. Thuế được dùng vào chi tiêu công cộng
Đặc tính này giảm nhẹ ý niệm cƣỡng bức của thuế. Ngày nay, quyền
lực công cộng đã thuộc về toàn thể dân chúng, bộ máy Nhà nƣớc do dân
chúng điều khiển nên việc nộp thuế và sử dụng tiền thu thuế cũng do dân
chúng quyết định. Ngoài một phần cung cấp cho quản lý hành chánh, đại bộ
phận thuế thu đƣợc chuyển giao lại cho ngƣời dân khi Nhà nƣớc chi ngân
sách cho văn hoá, thông tin, thể dục thể thao,giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội
cho các chƣơng trình nghiên cứu khoa học, chống ô nhiễm môi trƣờng,
chống tệ nạn xã hội…
1.3.5. Tính vĩnh viễn
Nộp thuế cho Nhà nƣớc không giống cho Nhà nƣớc vay nên không
1.4.1. Thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân sách Nhà nước
Thuế đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế hiện nay. Thuế
là công cụ chủ yếu để tập hợp và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc đân theo đƣờng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta. Thuế
11
đƣợc thu dựa trên cơ sở thu nhập xã hội nên nền kinh tế phát triển ổn định
thì nguồn thu cũng ổn định. Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống
thuế phải bao quát hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu
nhập, mọi tiêu dùng xã hội để đảm bảo thu đầy đủ và hợp lý.
Nhƣ vậy, để đảm bảo thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân
sách Nhà nƣớc thì cần có chính sách, hệ thống thuế phù hợp với khả năng
của nền kinh tế, với sức đóng góp của nhân dân và giúp thực hiện mục tiêu
kinh tế tăng trƣởng cao và ổn định.
Điểm giống nhau và khác nhau giữa thuế, phí và lệ phí
Thuế, phí và lệ phí giống nhau ở chỗ đều là khoản thu của ngân
sách Nhà nƣớc; đều là một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân đóng góp cho
Nhà nƣớc; đều chứa đựng tính quyền lực của Nhà nƣớc…
Ngoài ra, thuế và phí, lệ phí về mặt kinh tế còn khác nhau về mục
đích sử dụng số tiền thu đƣợc và tính hoàn trả cho ngƣời nộp: mọi khoản
thuế thu đƣợc đều tập trung vào ngân sách Nhà nƣớc nhằm đáp ứng nhu cầu
chi tiêu chung của Nhà nƣớc, nguồn thu cho mọi loại thuế không gắn với
một mục đích chi nhất định. Trong khi phí, lệ phí thƣờng gắn với một mục
tiêu chi cụ thể cho một hoạt động cụ thể của Nhà nƣớc. Mặt khác thuế
không mang tính hoàn trả trực tiếp và ngang giá nhƣ phí, lệ phí, chỉ khi
đƣợc hƣởng lợi ích hay dịch vụ công cộng mới phải nộp phí, lệ phí và khi
phát sinh nhu cầu thì mới thu.
Từ đó cho thấy, thuế là nguồn thu cơ bản của Nhà nƣớc, các khoản
thu khác nhƣ phí, lệ phí chỉ mang tính hỗ trợ và đƣợc xem là khoản thu
để giảm
điều kiện hoạt động giống nhau. Vì vậy, các tổ chức, cá nhân có điều
hoạt động, hoàn cảnh khác nhau thì sự bình đẳng, công bằng phải đƣợc xét
đoán dựa trên nhiều yếu tố chứ không chỉ dựa vào mức thuế suất hay phạm
13
vi đánh thuế. Cần phân biệt rõ giữa công bằng xã hội và bình quân chủ
nghĩa- mọi ngƣời nộp thuế nhƣ nhau mới là công bằng thì không đúng. Ví
dụ nhƣ đánh thuế cao lên ngƣời có thu nhập cao nhƣng đồng thời cần có
những qui định khác để khuyến khích họ đầu tƣ chất xám, đầu tƣ vốn, cải
tiến kĩ thuật- công nghệ để ngày càng nâng cao thu nhập thì đã là công bằng.
Bình đẳng, công bằng xã hội không chỉ là đạo lý, lý thuyết mà phải
đƣợc biểu hiện bằng Luật pháp, chế độ, qui định rõ ràng của Nhà nƣớc để
buộc mọi ngƣời phải tuân theo, điển hình là thuế. Công bằng còn thể hiện ở
việc Nhà nƣớc có những biện pháp chống thất thu hiệu quả; chế độ miễn,
giảm thuế hợp lý; kiểm tra xử lý nghiêm minh những vụ vi phạm; khắc phục
tình trạng cửa quyền, móc ngoặc, tham ô… của cán bộ thuế;
1.5. Một số nội dung cơ bản của luật thuế GTGT, thuế TNDN
1.5.1. Hệ thống thuế ở Việt Nam hiện nay
Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc mở của và đổi mới nền
kinh tế, hệ thống thuế Việt Nam đã đƣợc nghiên cứu và đến năm 1990-
một hệ thống thuế đƣợc hình thành bao gồm chính sách thuế và hệ thống
quản lý thuế. Giai đoạn này đã có đƣợc một hệ thống thuế tƣơng đối hoàn
chỉnh. Đến nay, hệ thống pháp luật về thuế đã đƣợc hoàn thiện hơn, gồm
các luật thuế chủ yếu nhƣ: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế
giá trị gia tăng; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp; Luật thuế thu nhập cá nhân; Luật thuế tài nguyên; Luật Quản lý
Thuế; Luật thuế Bảo vệ môi trƣờng; Luật thuế sử dụng đất phi Nông nghiệp;
Pháp lệnh thu phí và lệ phí.
Phân theo góc độ người nộp thuế thì có thể chia thuế làm 2 loại:
Thuế trực thu và thuế gián thu:
thấp hoặc không có thu nhập thông qua các công tác an sinh xã hội.
15
Thuế Tiêu thụ đặc biệt có tác dụng là nguồn thu quan trọng của ngân
sách; là công cụ để Nhà nƣớc hƣớng dẫn sản xuất, tiêu dùng của xã hội theo
hƣớng có hiệu quả; hạn chế, tiết kiệm đối với những hàng hóa xa xỉ…
Thuế bảo vệ môi trường các khoản thu phí bảo vệ môi trƣờng đã tạo
thêm nguồn thu, góp một phần chi đầu tƣ giải quyết các vấn đề về môi
trƣờng, đồng thời góp phần thay đổi nhận thức và hành vi của tổ chức, cá
nhân trong việc giữ gìn môi trƣờng, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi
trƣờng trong cộng đồng. Việc quy định ƣu đãi thuế đối với lĩnh vực môi
trƣờng đã làm cho các doanh nghiệp có ý thức hơn trong việc tìm các biện
pháp nhằm hạn chế tác động bất lợi do hoạt động sản xuất của mình gây ra
cho môi trƣờng; quan tâm áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến để giảm
bớt xả thải chất độc hại ra môi trƣờng. Thúc đẩy doanh nghiệp nghiên cứu
ứng dụng công nghệ sạch vào sản xuất, nghiên cứu sử dụng nguyên liệu thay
thế nguyên liệu hoá thạch để sản xuất các sản phẩm thân thiện môi trƣờng,
thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm môi trƣờng.
Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã khắc phục đƣợc những hạn chế
của chính sách thuế nhà, đất hiện hành về đối tƣợng chịu thuế, căn cứ tính
thuế, chính sách miễn, giảm thuế trên cơ sở kế thừa bổ sung mới các quy
định không còn phù hợp của Luật Thuế nhà, đất; hoàn thiện và xây dựng hệ
thống thuế đồng bộ. Đồng thời tăng cƣờng sự quản lý của Nhà nƣớc đối với
đất đai, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả,
góp phần hạn chế đầu cơ về đất.
Thuế Tài nguyên có tác dụng góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài
nguyên theo hƣớng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả; góp phần bảo vệ môi
trƣờng và bảo vệ tài nguyên quốc gia; dùng nguồn thu này để thực hiện các
biệp pháp bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên.
1.5.2. Thuế giá trị gia tăng