Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN XUÂN TƢỜNG HOÀN THIỆN TỔ CHỨC BỘ MÁY BAN QUẢN LÝ
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Để hoàn thành tốt luận văn này, ngoài những cố gắng, nỗ lực của bản thân,
tôi đã nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của Ban lãnh đạo Trƣờng Đại học
Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Khoa Sau Đại học, BQL
(BQL) các khu công nghiệp (KCN) tỉnh Phú Thọ và các Sở, Ban. ngành của tỉnh
Phú Thọ. Nhân dịp hoàn thành luận văn này, tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc và chân thành tới sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin đƣợc trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và hƣớng dẫn tận tình của các
thầy cô Khoa Sau Đại học. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu
sắc tới Giáo sƣ - Tiến sỹ Nguyễn Văn Công, ngƣời đã tận tình chỉ bảo, trực tiếp
hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn BQL các KCN tỉnh Phú Thọ, Văn phòng Ủy ban
nhân dân tỉnh Phú Thọ, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Phú Thọ, Huyện ủy Thanh
Thủy và các Sở, Ban. ngành của tỉnh Phú Thọ đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện tốt nhất để tôi học tập và thực hiện luận văn này.
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã
nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, động viên của gia đình, đồng nghiệp, bạn
bè. Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và ghi nhận những tình cảm quý báu đó.
Một lần nữa, tôi xin đƣợc trân trọng cảm ơn và chúc sức khoẻ, hạnh phúc,
thành đạt tới tất cả mọi ngƣời! Tác giả Luận văn
Nguyễn Xuân Tƣờng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 35
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 35
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 37
2.4. Quá trình điều tra và thu thập dữ liệu 37
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 40
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY BAN QUẢN LÝ
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ 41
3.1. Tổng quan về tỉnh Phú Thọ và các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ 41
3.1.1. Tổng quan về tỉnh Phú Thọ 41
3.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ 46
3.2. Thực trạng tổ chức bộ máy Ban Quản lý các KCN tỉnh Phú Thọ 50
3.2.1. Đặc điểm các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ có ảnh hƣởng đến tổ chức
bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp 50
3.2.2. Thực trạng mô hình tổ chức bộ máy Ban quản lý các khu công nghiệp
tỉnh Phú Thọ hiện nay 52
3.2.2.1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của BQL 52
3.2.2.2. TC bộ máy BQL 56
3.2.2.3. Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban 58
3.3. Đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh
Phú Thọ tác động đến hiệu quả hoạt động của khu công nghiệp 64
3.3.1. Thành tựu đạt đƣợc 64
3.3.2. Tồn tại và nguyên nhân tồn tại 66
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 71
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC BỘ MÁY BAN QUẢN LÝ
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ 72
4.1. Mục tiêu và cơ sở hoàn thiện tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu công
BQL: Ban quản lý
KCN: Khu công nghiệp
KKT: Khu kinh tế
TC: Tổ chức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu của các KCN toàn quốc 18
Bảng 1.2: Số lƣợng dự án và nguồn vốn đầu tƣ vào các KCN 19
Bảng 3.1: Danh mục các KCN tỉnh Phú Thọ 48
Bảng 3.2: Vị trí các KCN tỉnh Phú Thọ 51
Hình 1.1: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Bình Dƣơng 27
Hình 1.2: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Thái Bình 30
Hình 1.3: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Hà Nam 31
Hình 3.1: Bản đồ qui hoạch phát triển giao thông tỉnh Phú Thọ 43
Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ năm 2015 46
Hình 3.3. Cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Thọ 47
Hình 3.4: Số lƣợng dự án và nguồn vốn FDI vào các KCN Phú Thọ 49
Hình 3.5: Cơ cấu doanh nghiệp đã đi vào hoạt động theo ngành 50
Hình 3.6: Bản đồ quy hoạch phát triển các KCN Phú Thọ đến 2020 51
Hình 3.7: Sơ đồ cơ cấu TC BQL các KCN tỉnh Phú Thọ 57
Hình 4.1: Sơ đồ hoàn thiện cơ cấu TC BQL các KCN tỉnh Phú Thọ 81
mới công nghệ. Thực hiện phân bố công nghiệp hợp lý trên toàn lãnh thổ để đảm
bảo phát triển cân đối, hiệu quả giữa các vùng ” [16].
Qua 20 năm hình thành và phát triển, hệ thống các KCN và KKT ở Việt Nam
đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ. Tính đến cuối tháng 12/2011, các KCN, khu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
chế xuất đã thu hút đƣợc 4.681 dự án trong nƣớc còn hiệu lực với tổng vốn đầu tƣ
xấp xỉ 420 nghìn tỷ đồng và 4.113 dự án có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài còn hiệu lực với
tổng vốn đầu tƣ đăng ký đạt 59,6 tỷ USD. Tổng vốn đầu tƣ trong và ngoài nƣớc vào
KCN tƣơng đƣơng 80 tỷ USD; Tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của
các KCN đang vận hành khoảng 30.000 ha, trong đó đã cho thuê đƣợc 19.300 ha,
đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 65% [3].
Tại các địa phƣơng đã hoàn thành việc xây dựng KCN, khu chế xuất, kết cấu
hạ tầng trong và ngoài KCN, khu chế xuất đƣợc đầu tƣ đồng bộ và hiện đại đã góp
phần đáng kể hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần thay
đổi diện mạo của địa phƣơng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh thu hút đầu
tƣ vào KCN, khu chế xuất.
Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tƣớng Chính
phủ, đến năm 2015, dự kiến thành lập mới 115 KCN và mở rộng 276 KCN với tổng
diện tích gần 32.000 ha, sau một thời gian thực hiện quyết định, một số KCN đã
thành lập và một số KCN đã đƣợc bổ sung vào quy hoạch phát triển KCN đến năm
2020, số KCN quy hoạch thành lập đến năm 2020 là 209 KCN với tổng diện tích
64.310 ha.
Thực tế quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KKT Việt Nam trong gần 20
năm đã qua cho ta thấy những đóng góp quan trọng của KCN, KKT trong thu hút đầu
tƣ, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao
động các địa phƣơng trên cả nƣớc theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các KCN
và KKT đã thu hút đƣợc rất nhiều các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, các tập đoàn
các KCN còn hạn chế, một phần do công tác tổ chức (TC) quản lý KCN còn nhiều
bất cập. Phú Thọ là địa phƣơng không thật sự thuận lợi trong lĩnh vực thu hút đầu tƣ
(xa Thủ đô Hà Nội, hạ tầng giao thông, điện, nƣớc kém), mục tiêu thu hút đầu tƣ
trong những ngày đầu thành lập là lấp đầy, nên tính hiệu quả không cao, bộ máy
làm việc của BQL các KCN cũng đƣợc vận hành theo mục tiêu này nên thiếu sự
năng động. Hiện nay, cùng với sự phát triển nền kinh tế xã hội của tỉnh cả về chất
và lƣợng, mục tiêu thu hút đầu tƣ mang tính hiệu quả với những lĩnh vực có hàm
lƣợng chất xám cao ngày càng đƣợc chú trọng. Các chính sách, cơ chế quản lý của
Nhà nƣớc đƣợc hoàn thiện theo hƣớng chặt chẽ hơn và tăng cƣờng sự chủ động của
các địa phƣơng Vì vậy TC bộ máy làm việc của BQL các KCN không còn phù hợp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
nữa mà cần phải thay đổi cho hoàn thiện hơn để đáp ứng với tình hình hiện nay.
Việc hoàn thiện TC bộ máy của BQL các KCN để đáp ứng yêu cầu quản lý, phát
huy vai trò của các KCN trên địa bàn tỉnh có ý nghĩa rất quan trọng.
Từ những vấn đề trên cho thấy với TC bộ máy làm việc hiện nay của BQL các
KCN tỉnh Phú Thọ không thể đáp ứng đƣợc nhiệm vụ, mà cần phải có một bộ máy TC
đủ mạnh và phù hợp mới có thể đáp ứng đƣợc, đây chính là lý do để chọn đề tài: "Hoàn
thiện tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ".
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của đề tài là tìm ra các giải pháp phù hợp để
hoàn thiện TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu
quả hoạt động của các KCN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Từ mục tiêu cơ bản đó, các
mục tiêu nghiên cứu chính đƣợc xác định là:
- Làm rõ bản chất và vai trò của TC bộ máy BQL các KCN;
- Phân tích và đánh giá thực trạng TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ
nhằm khẳng định những thành công và hạn chế về TC bộ máy BQL các KCN của
tỉnh Phú Thọ;
nói chung và TC bộ máy BQL các KCN nói riêng;
- Phân tích và đánh giá một cách khách quan những tồn tại của bộ máy BQL
các KCN tỉnh Phú Thọ;
- Nghiên cứu ảnh hƣởng của các nhân tố chủ quan và khách quan tác động
tới TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ;
- Đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện giải pháp hoàn thiện TC bộ máy
BQL các KCN tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới nhằm đáp ứng kịp thời với sự phát triển
các KCN trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020.
5. Bố cục của bản luận văn
Ngoài phần danh mục bảng biểu, sơ đồ, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận
văn chia làm các phần và chƣơng sau:
- Phần mở đầu: Trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài, mục tiêu,
đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên
cứu, những đóng góp mới của đề tài, bố cục của luận văn.
- Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức bộ máy ban quản lý các
khu công nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
- Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu tổ chức bộ máy ban quản lý các khu
công nghiệp.
- Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu về tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu
công nghiệp tỉnh Phú Thọ.
- Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy Ban quản lý các khu công
nghiệp tỉnh Phú Thọ.
- Phần kết luận.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
với các phƣơng tiện quản lý đƣợc liên kết theo một số nguyên tắc, quy tắc nhất định
nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã định.
Cơ cấu TC bộ máy quản lý là một chỉnh thể hợp thành của các bộ phận khác
nhau, có mối quan hệ hữu cơ và phục thuộc lẫn nhau, đƣợc chuyên môn hoá có
nhiệm vụ và quyền hạn nhất định, đƣợc bố trí theo các khâu, các cấp đảm bảo chức
năng quản trị nhằm mục đích chung đã xác định của hệ thống. Cơ cấu TC bộ máy
quản lý là hình thức phân công lao động trong lĩnh vực quản lý. Nó có tác động đến
quá trình hoạt động của toàn bộ hệ thống. Nó một mặt phản ánh cơ cấu sản xuất,
mặt khác tác động tích cực trở lại việc phát triển sản xuất. Trong cơ cấu TC có các
cấp quản lý. Các cấp quản lý này phản ánh sự phân chia chức năng quản lý theo
chiều dọc (trực tuyến) thể hiện sự tập trung hoá trong quản lý; các bộ phận, phòng
ban thể hiện sự phân chia chức năng quản lý theo chiều ngang, biểu thị sự chuyên
môn hoá trong phân công lao động quản lý.
TC bộ máy quản lý phải quán triệt các nguyên tắc sau:
- Gắn với phương hướng, mục đích của hệ thống:
Phƣơng hƣớng, mục đích của hệ thống quy định cách thức TC bộ máy quản
lý của hệ thống, quy định các bộ phận hợp thành trong TC của hệ thống. Chính vì
thế TC bộ máy quản lý phải gắn với mục tiêu và phƣơng hƣớng hoạt động của hệ
thống. Có gắn với mục tiêu và phƣơng hƣớng thì bộ máy quản lý hoạt động mới
hiệu quả.
- Chuyên môn hoá và cân đối:
TC bộ máy quản lý phải xác định rõ phạm vi, chức năng và nhiệm vụ của các
bộ phận trong hệ thống và phải đảm bảo sự cân đối, loại trừ những chức năng,
nhiệm vụ chồng chéo, trùng lặp, thiếu ngƣời chịu trách nhiệm rõ ràng. Mặt khác số
lƣợng các cấp quản lý phải hợp lý để phù hợp với thực tế .
- Linh hoạt và thích nghi với môi trường:
Tính hệ thống đƣợc thể hiện ở: tính tập hợp (cơ cấu TC do nhiều yếu tố khác
nhau nhƣ nhân lực ,vật lực, thông tin hợp thành); tính liên hệ (trong TC các yếu
tố luôn tác động qua lại, bổ xung cho nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Yếu tố
này chịu sự chi phối của các yếu tố khác và ngƣợc lại. Đôi khi sự tác động có thể
dẫn đến xung đột, tuy nhiên sự xung đột đó lại là cơ sở để tạo ra một cái mới thích
hợp hơn, đảm bảo TC hoạt động có hiệu quả).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
- Bảo đảm tính mục đích:
Mọi TC đều có một mục đích nhất định, rõ ràng. Tuỳ từng TC khác nhau mà
mục đích cũng khác nhau nhƣng trong mọi TC thì mục đích hoạt động luôn đƣợc
xác định một cách rõ ràng.
- Tính thích ứng và chỉnh thể:
Nguyên tắc này đòi hỏi TC phải thích ứng với môi trƣờng, bao gồm cả môi
trƣờng bên trong và bên ngoài. Đồng thời, TC phải bảo đảm tính chỉnh thể, nghĩa là
các yếu tố TC kết hợp với nhau một cách hữu cơ, phát huy hiệu quả của một chỉnh
thể, đó không phải là dàn trải hoặc cộng lại một cách giản đơn.
Để đảm bảo đƣợc nguyên tắc trên, cơ cấu TC cần phải: Tăng cƣờng đƣợc
mối liên hệ dọc và ngang, mỗi bộ phận trong TC vừa phải phục tùng sự lãnh đạo
thống nhất vừa phải có tính linh hoạt, chủ động, tích cực để đạt đƣợc hiệu quả của
chỉnh thể. Sự phục tùng thể hiện sự chấp hành nội quy, quy định từ trên đƣa xuống
tạo nên một chỉnh thể thống nhất. Tuy nhiên sự phục tùng trên cơ sở sự linh hoạt
bởi lẽ không phải lúc nào mọi sự vật cũng nhƣ nhau mà luôn biến động, vì thế trong
quá trình áp dụng các bộ phận cần có sự linh hoạt để đạt hiệu quả cao hơn .
Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu TC phải bảo đảm những yêu cầu sau:
+ Tính mục tiêu: Một cấu TC đƣợc coi là có kết quả nếu thực sự trở thành
công cụ hữu hiệu để thực hiện các mục tiêu của TC .
+ Tính tối ƣu: Trong cơ cấu TC có đầy đủ các phân hệ, bộ phận và con ngƣời
trƣởng, tập trung, thống nhất, làm cho TC nhanh nhạy linh hoạt với sự thay đổi của
môi trƣờng và có chi phí quản lý thấp. Mặt khác theo cơ cấu này những ngƣời chịu
sự lãnh đạo rất dễ thực hiện mệnh lệnh vì có sự thống nhất trong mệnh lệnh phát ra.
Tuy nhiên cơ cấu theo trực tuyến lại hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có trình
độ nghiệp vụ cao về từng mặt quản lý và đòi hỏi ngƣời lãnh đạo phải có kiến thức
toàn diện để chỉ đạo tất cả các bộ phận quản lý chuyên môn nhƣng trong thực tế thì
khả năng của con ngƣời có hạn nên những quyết định đƣa ra mang tính rủi ro cao.
Do đó cơ cấu này thƣờng đƣợc áp dụng cho các đơn vị có quy mô nhỏ và việc quản
lý không quá phức tạp .
+ Cơ cấu chức năng:
TC theo mô hình cơ cấu chức năng là TC mà trong đó, từng chức năng quản
lý đƣợc tách riêng do một bộ phận, một cơ quan đảm nhận. Cơ cấu này có đặc điểm
là những nhân viên chức năng phải là ngƣời am hiểu chuyên môn và thành thạo
nghiệp vụ trong phạm vi quản lý của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Ƣu điểm của cơ cấu chức năng là thực hiện chuyên môn hoá các chức năng
quản lý, thu hút đƣợc các chuyên gia có kiến thức sâu về nghiệp vụ chuyên môn vào
công tác quản lý, tránh đƣợc sự bố trí chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ
phận. Thúc đẩy sự chuyên môn hoá kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao chất lƣợng và
kỹ năng giải quyết vấn đề, các quyết định đƣa ra có độ rủi ro thấp hơn so với cơ cấu
trực tuyến. Tuy nhiên cơ cấu theo chức năng làm cho cấp dƣới phải phục tùng nhiều
đầu mối chỉ đạo khác nhau của cùng một cơ quan quản lý cấp trên do đó làm suy
yếu chế độ một thủ trƣởng, các nhà quản lý trở thành các chuyên gia trong lĩnh vực
hẹp và có xu hƣớng tập trung vào mục tiêu cục bộ của phòng ban của họ hơn là các
mục tiêu phối hợp chung của TC. Một điều đáng lo ngại của cấu trúc này là cấu trúc
phòng ban nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa các phòng ban. Vì vậy cấu trúc theo
phòng ban chức năng có xu hƣớng phát sinh xung đột nội bộ cao hơn và sự phối
sự phối hợp nhiều hơn cấu trúc theo phòng ban chức năng hay các cấu trúc theo khu
vực đơn thuần. Cấu trúc ma trận cũng có xu hƣớng tạo ra các xung đột, chính trị của
TC và sự căng thẳng. Sức ép là một trong những triệu chứng của cấu trúc ma trận
đƣợc quản lý kém bởi vì ngƣời lao động phải đối mặt với hai ngƣời quản lý với nhu
cầu và kỳ vọng có khả năng khác nhau.
+ Cơ cấu theo nhóm:
Cấu trúc trên cơ sở nhóm có một số đặc điểm đặc trƣng so với các hình thức
TC khác. Thứ nhất, nó sử dụng các nhóm làm việc tự định hƣớng là các cá nhân với
vai trò nhƣ các khối cơ bản của TC. Thứ hai, các nhóm thƣờng đƣợc TC theo các
quy trình làm việc. Đặc điểm thứ ba của cấu trúc TC theo cơ sở nhóm là TC có hệ
thống cấp bậc rất gọn nhẹ, thông thƣờng có không quá hai hoặc ba cấp quản lý.
Cuối cùng hình thức TC này có rất ít hình thức hóa. Hầu hết tất cả các quyết định
hàng ngày đƣợc đƣa ra bởi các thành viên của nhóm mà không phải là ai đó ở trên
theo cấp bậc của TC. Các nhóm đƣợc giao tƣơng đối ít các nguyên tắc/ quy định về
cách TC công việc của họ. Thay vào đó, nhóm điều hành thƣờng giao cho các nhóm
các mục tiêu đầu ra. Các nhóm sau đó đƣợc khuyến khích sử dụng các nguồn lực sẵn
có và sáng kiến của riêng họ để đạt đƣợc những mục tiêu này. Cấu trúc trên cơ sở
nhóm thƣờng thấy trong các hoạt động sản xuất của các cấu trúc khu vực lớn hơn.
TC trên cơ sở nhóm đƣợc coi là một hình thức TC ngày càng phổ biến bởi vì
nó thƣờng dễ thích ứng và linh hoạt hơn. Các nhóm trao quyền cho nhân viên và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
giảm sự phụ thuộc vào cấp bậc quản lý, do đó giảm chi phí. Với sự tự chủ lớn hơn,
cấu trúc này cũng cho phép ra quyết định nhanh chóng và kịp thời hơn.
Tuy nhiên, cấu trúc nhóm có nhƣợc điểm là có thể phải tốn chi phí để duy trì
nhóm do nhu cầu đào tạo liên tục các kỹ năng giữa các cá nhân với nhau. Nhóm làm
việc có khả năng mất nhiều thời gian để phối hợp hơn TC theo cấp bậc thông thƣờng
trong suốt các giai đoạn ban đầu khi hình thành nhóm. Ngƣời lao động có thể phải chịu
vị mình. Nhìn chung, các TC lớn hơn đƣợc phân quyền và hình thức hóa cao hơn
với sự chuyên môn hóa cao hơn và cơ cấu phối hợp hoạt động phức tạp hơn. Công
nghệ của nhóm làm việc bao gồm đủ loại công việc và khả năng phân tích vấn đề -
ảnh hƣởng tới quyết định áp dụng một bộ máy TC. Hình thức TC thích hợp nhất
cũng phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài gồm sự năng động, tính phức tạp, sự đa
dạng và thái độ không thân thiện.
Mặc dù quy mô, công nghệ và môi trƣờng ảnh hƣởng tới cơ cấu TC tối ƣu,
các yếu tố này không nhất thiết quyết định cấu trúc của TC. Đúng hơn, những ngƣời
đứng đầu TC đƣa ra và áp dụng chiến thuật để xác định và ảnh hƣởng trở lại các
điều kiện môi trƣờng của họ. Các chiến thuật này, chứ không phải là các yếu tố
ngẫu nhiên khác, trực tiếp làm nên cơ cấu của TC.
1.1.2. Khu công nghiệp và Ban quản lý các khu công nghiệp
1.1.2.1. Khu công nghiệp và vai trò của các khu công nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ quản lý xã hội và tâm lý từ sử dụng
lao KCN đã đƣợc hình thành và phát triển ở các nƣớc tƣ bản vào những năm cuối thế
kỷ XIX. KCN đầu tiên đƣợc thành lập năm 1896 ở Manchester (Anh) và vùng công
nghiệp Clearing Chicago (Mỹ). Năm 1940, Ý thành lập KCN tại Napoli. Đến thập kỷ
1950 - 1960 ở Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1.000 KCN sau đó tăng lên 2.400
KCN vào năm 1970. Pháp có 230 vùng công nghiệp (năm 1930) và Canada có 21
vùng công nghiệp (năm 1965). Với Châu Á, KCN đầu tiên đƣợc thành lập ở
Singapore vào năm 1951, Malaixia năm 1954, Ấn Độ năm 1955. Hiện nay ở khu vực
Châu Á có khoảng 1.000 KCN đang hoạt động. Ở Việt Nam, KCN đầu tiên đƣợc
thành lập 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh đó là Khu chế xuất Tân Thuận.
Quá trình phát triển KCN, khu chế xuất xuất hiện ngày càng nhiều dƣới các
hình thức khác nhau. Các TC quốc tế, các quốc gia trên thế giới đƣa ra nhiều khái
niệm nhƣ “ Khu mậu dịch tự do”, “ Đặc KKT” Ở Liên Xô cũ nhiều xí nghiệp liên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, khu thƣơng mại, văn phòng, nhà ở …
Về thực chất mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt nhƣ KCN Batam
(Indonesia ), công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nƣớc Tây Âu,
KKT mở Chu Lai, Dung Quất ở Việt Nam.
Thứ hai: KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập trung các doanh
nghiệp công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cƣ sinh sống. Mô
hình này đƣợc xây dựng ở một số nƣớc Malaisia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan,
Trung Quốc, Việt Nam.
Nhƣ vậy, KCN đều là một khu vực có ranh giới địa lý xác định, có những
thuận lợi về tự nhiên xây dựng kết cấu hạ tầng, về xã hội và nhân văn để thu hút, tập
trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, các dịch vụ có liên quan hoạt động
theo một cơ chế, chính sách và cơ cấu nhất định nhằm đạt hiệu quả cho từng doanh
nghiệp và cả cơ cấu doanh nghiệp trong KCN.
Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam khuyến khích mọi thành phần kinh
tế đầu tƣ vào KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, - gọi chung là KCN.
Theo Luật Đầu tƣ của Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2005 và theo Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ
quy định về KCN, khu chế xuất, KKT thì định nghĩa về các KCN, khu chế xuất,
KKT nhƣ sau:
KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho
sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của
Chính phủ.
Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ
cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác
định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy
định của Chính phủ.
KCN, khu chế xuất đƣợc gọi chung là KCN, trừ trƣờng hợp quy định cụ thể.