Nâng cao hiệu quả dạy học sinh học tế bào bằng sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ĐOÀN THANH HÀ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC SINH HỌC
TẾ BÀO BẰNG SỬ DỤNG HỆ THỐNG
CÂU HỎI, BÀI TẬP Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học Bộ môn sinh học
Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Phúc Chỉnh

Thái Nguyên - 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kì công trình nào khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i

MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục i
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
PHẦN I - MỞ ĐẦU 1
PHẦN II – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới lên quan đến
đề tài 5
1.1.1. Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài 5
1.1.2. Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài 6
1.2. Khái niệm câu hỏi, bài tập trong dạy học 9
1.2.1. Khái niệm về câu hỏi 9
1.2.2. Khái niệm về bài tập 10
1.3. Dạy học sử dụng CHBT nhìn theo quan điểm của các lí thuyết dạy học
hiện đại 11
1.3.1. Dạy học sử dụng CHBT nhìn theo quan điểm của lí thuyết dạy học phát
hiện và giải quyết vấn đề 11
1.3.2. Dạy học sử dụng CHBT nhìn theo quan điểm của lí thuyết dạy
học kiến tạo 11

2.4. Một số ví dụ về việc xây dựng CHBT ở một số nội dung trong phần Sinh
học tế bào 40
2.5. Tóm tắt chương 2 57
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 58

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
3.1. Mục đích thực nghiệm 58
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm 58
3.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm 58
3.4. Kết quả thực nghiệm 60
3.5. Tóm tắt chương 3 65
PHẦN 3 - KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Đọc là
CH, BT
Câu hỏi, bài tập
GV, HS
Giáo viên, học sinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
PHẦN I - MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của xã hội
Chúng ta đang sống trong kỉ nguyên của tri thức, kĩ năng và công nghệ. Tri
thức, kĩ năng của con người được xem là yếu tố quyết định đến sự phát triển
của xã hội. Và giáo dục có trọng trách đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo ra
những con người có trí tuệ, kĩ năng, thông minh và sáng tạo. Những con người
này sẽ trực tiếp tham gia vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Muốn có
được điều này, nhà trường phổ thông phải trang bị đầy đủ cho học sinh hệ
thống kiến thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn và năng lực tư duy của
người Việt Nam, đồng thời phải rèn cho học sinh kĩ năng tư duy tích cực, sáng
tạo, kĩ năng phản ứng trước mọi tình huống.
 Xuất phát từ chủ trương đổi mới phương pháp dạy học
Trong một thời gian dài, chúng ta áp dụng phương pháp dạy học truyền
thống: thầy truyền đạt, trò tiếp nhận. Nếu cứ tiếp tục cách dạy và học thụ động,
giáo dục sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội. Sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu ở
thế kỉ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới về giáo dục, trong đó
có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học.
Một trong những giải pháp đề xuất của Chiến lược phát triển giáo dục
2001-2010 là: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc
truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ
động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự
học, tự thu thập thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp;
phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tích cực tự
chủ của học sinh.”[2]


thú học tập của học sinh mà còn dễ làm cho học sinh chán nản, bi quan.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
 Xuất phát từ đặc trưng của môn Sinh học và nội dung của phần “Sinh
học tế bào” (sinh học 10 – cơ bản)
Sinh học là một môn khoa học tự nhiên vô cùng lý thú và cũng rất gần gũi.
Khi học môn sinh học, các em học sinh có thể phát huy, khai thác trí tưởng
tượng, khả năng vận dụng những hiểu biết thực tế của mình để việc nhớ bài
được chắc và lâu bền hơn. Do vậy giáo viên dạy môn sinh học có nhiều cơ hội
phát triển cho học sinh khả năng nhận thức và tư duy bằng nhiều biện pháp và
phương pháp khác nhau.
Chương trình sinh học 10 đổi mới được đưa vào giảng dạy đại trà từ năm
học 2006 – 2007 chứa đựng nhiều nội dung kiến thức mới, yêu cầu sử dụng
nhiều phương pháp dạy học tích cực.
Phần “Sinh học tế bào” (sinh học 10 – cơ bản) là khối kiến thức gần như mở
đầu cho môn sinh học ở cấp trung học phổ thông (sau phần giới thiệu chung về
thế giới sống), và đối tượng là các em học sinh vừa mới trải qua cấp học trung
học cơ sở, nên việc rèn luyện, phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học
sinh thông qua sử dụng câu hỏi, bài tập mở là một việc làm cần thiết.
Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy học sinh học tế
bào bằng sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và tính hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi, bài
tập trong dạy học. Đồng thời xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập như là một
phương tiện để thực hiện các phương pháp dạy học không truyền thống góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học phần sinh học tế bào (sinh học 10 – cơ bản)
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp quan điểm của một số tác giả về việc sử dụng câu hỏi, bài tập.

- Xây dựng hệ thống các câu hỏi, bài tập phần Sinh học tế bào.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được trình
bày trong 3 chương:
Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Chƣơng 2. Xây dựng câu hỏi, bài tập mở và vận dụng vào giảng dạy một
số nội dung trong phần “Sinh học tế bào” (Sinh học 10 – cơ bản)
Chƣơng 3. Thực nghiệm sư phạm.

PHẦN II – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc và trên thế giới lên quan
đến đề tài
1.1.1. Những vấn đề nghiên cứu ở nƣớc ngoài liên quan đến đề tài
Nghiên cứu vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học không còn là vấn đề mới trên
thế giới. Ngay từ những năm trước công nguyên vấn đề này đã gắn liền với tên
tuổi của nhà triết học Socrát (470 - 390 TCN). Khổng Tử (551 - 479 TCN) cho
rằng khi dạy học là đưa người học vào tình huống mâu thuẫn, tức là đặt ra cho
họ những câu hỏi bẫy để kích thích cho người học.
Dạy học bằng sử dụng câu hỏi, bài tập được các nước trên thế giới quan
tâm từ rất sớm. Các nước phương Tây như Pháp, Mỹ đã có nhiều tài liệu về lí
luận dạy học theo hướng khuyến khích tăng cường sử dụng bài tập để rèn luyện
tính chủ động, sáng tạo của học sinh
Ở Liên xô (cũ), đã có nhiều tài liệu của các tác giả đề cập đến mục đích,

1.1.2. Những vấn đề nghiên cứu ở trong nƣớc liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học
cũng rất phổ biến trong các bộ môn như Toán học, Vật lý, Hóa học. Trong bộ
môn Sinh học, từ những năm 70 trở lại đây cũng có nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề này.
- Năm 1981, trong luận án phó tiến sỹ, tác giả Đinh Quang Báo đã
nghiên cứu đề tài “Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học”. Luận án
đã nghiên cứu xây dựng một cách có hệ thống những cơ sở lý thuyết về việc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
sử dụng câu hỏi bài tập trong dạy học sinh học. Đặc biệt, tác giả đã thành
công trong việc sử dụng biện pháp logic để vạch ra phương hướng sử dụng
biện pháp này để tổ chức các hoạt động tìm tòi trên cơ sở logic nội dung dạy –
học sinh học [2].
- Năm 1994, trong luận án phó tiến sỹ, tác giả Vũ Đức Lưu nghiên cứu
đề tài “Dạy học các quy luật di truyền ở PTTH bằng bài toán nhận thức”. Đây
là công trình nghiên cứu đầu tiên về dạy các quy luật di truyền bằng bài toán
nhận thức ở khâu nghiên cứu tài liệu mới. Tác giả đã đề xuất và phân tích khá
sâu sắc các nguyên tắc thiết kế, xác định các tiêu chuẩn cho phép mô hình hóa
bài toán tổng quát và phương pháp sử dụng bài toán nhận thức trong dạy học
các quy luật di truyền [8].
- Năm 1994, luận án phó tiến sỹ của tác giả Lê Đình Trung với đề tài
“Thiết kế và sử dụng bài toán nhận thức để nâng cao hiệu quả dạy học phần cơ
sở vật chất và cơ chế di truyền trong chương trình sinh học ở bậc PTTH”, đã
nghiên cứu về việc dạy phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền bằng bài toán
nhận thức kết hợp với các bài tập tự lực với SGK. Trong luận án này, tác giả đã
thành công khi đưa ra nguyên tắc, quy trình thiết kế hệ thống bài toán nhận
thức và phương pháp sử dụng chúng trong dạy học. Ngoài ra tác giả cũng đã

- Năm 2009, Ngô Thị Hạnh đã nghiên cứu đề tài “Xây dựng và sử dụng
câu hỏi, bài tập dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng, chương
Sinh sản theo hướng hình thành khái niệm hệ thống sống cấp cơ thể”. Đề tài đã
hệ thống hóa cơ sở lý luận về câu hỏi, bài tập sử dụng trong dạy học theo
hướng tiếp cận hệ thống. Đã xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập để tổ chức dạy
học Sinh học 11 hình thành khái niệm hệ sống cấp cơ thể, đi sâu vào 2 chương:
Chuyển hóa vật chất và năng lượng, Sinh sản [6].
- Năm 2012, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Hằng Nga với đề tài “Xây
dựng và sử dụng câu hỏi trong dạy học chương 2, 3 phần năm – sinh học 12
THPT nhằm góp phần phát triển kĩ năng tự học ở học sinh”, đã đưa ra được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
quy trình xây dựng và sử dụng câu hỏi để tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát
huy tính tích cực cho HS, đồng thời xây dựng được hệ thống các câu hỏi vận
dụng vào 3 khâu của quá trình dạy học[9].
Ngoài ra còn có nhiều tác giả khác cũng đề cập đến việc nghiên cứu, sử
dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học.
Nhìn chung, ở trên thế giới và trong nước, vấn đề đặt câu hỏi trong dạy
học không còn xa lạ. Và sự phong phú của các công trình cũng đã phần nào nói
lên điều đó. Tuy nhiên việc thiết kế, sử dụng câu hỏi, bài tập mở đối với các nội
dung phần sinh học tế bào (Sinh học 10 cơ bản) ít được đề cập đến và cần có
thêm nhiều nghiên cứu cụ thể hơn.
1.2. Khái niệm câu hỏi, bài tập trong dạy học
1.2.1. Khái niệm về câu hỏi
Câu hỏi trong dạy học là linh hồn của tiết học. Câu hỏi trong dạy học
chính là vấn đề giáo viên đặt ra trên cơ sở logic bài dạy, yêu cầu học sinh thực
hiện dựa trên nền tảng kiến thức sẵn có nhằm hoàn thành mục tiêu bài học.
Câu hỏi trong dạy học có vai trò cực kỳ quan trọng: tạo môi trường giao

trung gian quan trọng quyết định chủ thể nhận thức lĩnh hội được hiểu biết về
một sự vật hiện tượng nào đó”.
1.2.2. Khái niệm về bài tập
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: Bài tập là bài ra cho học
sinh làm dể tập vận dụng những điều đã học. Cũng trong từ điển này thì bài
toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học [15].
Bài tập là một tập hợp các kiến thức xác định bao gồm những vấn đề đã
biết và chưa biết, nhưng luôn mâu thuẫn với nhau dẫn tới việc phải biến đổi
chúng để tìm lời giải. Bài tập được thiết kế từ tài liệu sách giáo khoa mà HS
phải vận dụng những điều đã học để tìm lời giải nhằm hình thành kiến thức
mới; bài tập cũng được sử dụng trong khâu củng cố hoàn thiện kiến thức hay
kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức của HS về những kiến thức đã học.
Nhà toán học kiêm giáo dục học nổi tiếng người Mỹ G.Polya (1887 -
1985) có viết: “Một phát minh khoa học lớn giải quyết được một vấn đề lớn,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
nhưng trong lời giải bất kỳ bài tập nào cũng có một chút phát minh. Bài tập mà
bạn đang giải có thể là bình thường nhưng nó khơi động được lòng ham hiểu
biết của bạn và thúc đẩy bạn phải sáng tạo và nếu bạn tự giải bài tập đó bằng
sức mình thì bạn sẽ cảm thấy căng thẳng về trí tuệ dẫn đến phát minh và sẽ
hưởng thụ niềm vui của thắng lợi”.
Bài toán là một hệ thông tin xác định, bao gồm những điều kiện và những
yêu cầu mà thoạt đầu chủ thể nhận thức thấy không phù hợp (mâu thuẫn) với
nhau, dẫn tới nhu cầu phải khắc phục bằng cách biến đổi chúng [13].
Trong lí luận dạy học hiện đại, nếu dạy - học bằng việc giải bài toán nhận
thức, thì bài toán đó không chỉ được xem như là mục đích mà còn như là một
phương tiện để tổ chức quá trình dạy – học theo hướng tích cực. Đây là một
trong những cơ sở lý luận cơ bản để định hướng việc thiết kế bài tập, bài toán

nắm được vào tình huống mới.
- Giáo viên khéo léo sử dụng các câu hỏi đặt học sinh vào địa vị người
phát hiện, khám phá lại những tri thức, tổ chức môi trường để học sinh tìm tòi
và phát hiện kiến thức.
- Mỗi CHBT là một tình huống toán học kích thích hoạt động khám phá
của học sinh và cho phép học sinh tiếp cận vấn đề theo cách mà các em chọn.
1.4. Vai trò và ý nghĩa của CHBT trong việc phát huy tính tích cực, phát
triển năng lực kiến tạo và khám phá kiến thức cho học sinh
Trong dạy học, việc sử dụng CH, BT để rèn luyện, phát huy tính tích cực
của học sinh có ý nghĩa rất lớn và phù hợp với xu hướng phát triển của phương
pháp dạy học hiện nay.
CH, BT nhận thức là một “chương trình hành động” được vạch ra nhằm
định hướng kiến thức cho học sinh tự giải quyết. Căn cứ vào những yêu cầu của
bài học, GV đưa ra những CH, BT phù hợp cho học sinh suy nghĩ, tư duy. Qua
việc giải quyết CH, BT đó học sinh hoàn thiện được bài học, chương trình học
của mình một cách chủ động, tự lực.
CH, BT có tác dụng tích cực hóa người học, tạo ra tình huống khác nhau
buộc học sinh phải luôn luôn ở trạng thái tư duy, muốn giải quyết vấn đề học

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
sinh phải biết thu thập kiến thức, thông tin, xử lí thông tin và vận dụng kiến
thức để giải quyết
Câu hỏi và bài tập dùng để “mã hoá” nội dung SGK, khi đó câu hỏi và
bài tập là nguồn tri thức mới.
Câu hỏi và bài tập có tác dụng kích thích định hướng nhận thức tri thức
mới, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập của HS, khắc phục
lối dạy học truyền thụ một chiều.
Câu hỏi và bài tập giúp HS tự lĩnh hội được kiến thức một cách có

Trong bước này giáo viên cần linh hoạt có thể nêu thêm các câu hỏi hạ
thấp hoặc nâng cao "độ mở" cho phù hợp với tiến trình khám phá của
học sinh.
Bước 3. Xác lập các kiến thức vừa tìm tòi đồng thời nêu tình huống mới.
Trong bước này giáo viên kiểm nghiệm các dự đoán xác nhận các kiến
thức vừa tìm được và thể chế hoá cho học sinh. Nếu quá trình tìm tòi dẫn
đến những sai lầm thì giáo viên rút kinh nghiệm cho học sinh.
Nếu có bài toán mới nảy sinh thì giáo viên tiếp tục nêu câu hỏi để học
sinh khám phá
1.6. Thực trạng của việc dạy học sử dụng câu hỏi, bài tập ở nƣớc ta hiện nay
Việc dạy học ở nước ta hiện nay đang trên đà thoát ra khỏi phương pháp
dạy học truyền thống. Nhìn chung GV đang cố gắng áp dụng các phương pháp
dạy học mới, đưa HS lên vị trí trung tâm trong quá trình dạy học. Các phương
pháp, kĩ thuật dạy học mới này đều nhằm mục đích phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh, kích thích học sinh suy nghĩ, tìm tòi, phân tích để
từ đó tự chủ trong việc chiễm lĩnh kiến thức. Trong quá trình tổ chức dạy học,
người GV đã biết sử dụng câu hỏi, bài tập để kích thích học sinh suy nghĩ, tìm
tòi, đưa ra câu trả lời, từ đó HS tự phát hiện kiến thức và lĩnh hội kiến thức một
cách chủ động. Tuy nhiên, nhìn chung, các câu hỏi, bài tập đưa ra còn vụn vặt,
chưa có tính hệ thống, quá dễ hoặc quá khó, độ mở không thích hợp. Nhiều GV

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
chưa biết cách khai thác tối đa thế mạnh của việc sử dụng câu hỏi, bài tập trong
dạy học. Các câu hỏi, bài tập đưa ra đa số vẫn đơn giản, chủ yếu yêu cầu HS tái
hiện kiến thức hoặc xem SGK để trả lời. Còn loại câu hỏi tìm tòi, kích thích tư
duy, phát huy tính độc lập sáng tạo của HS thì còn rất hạn chế. Để phát huy tính
tích cực, tư duy sáng tạo của HS thì người GV cần phải xây dựng hệ thống câu
hỏi có độ mở nhất định, phù hợp để kích thích HS suy nghĩ, phân tích, liên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Chƣơng 2
XÂY DỰNG CÂU HỎI, BÀI TẬP VÀ VẬN DỤNG VÀO GIẢNG DẠY
MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO

2.1. Đặc điểm của sách giáo khoa Sinh học 10 – cơ bản và phần 2 “Sinh học
tế bào”
Sách giáo khoa Sinh học 10 – cơ bản hiện nay là sách giáo khoa đổi mới,
xuất bản lần đầu năm 2006, phù hợp với chủ trương đổi mới phương pháp dạy
học, theo hướng tăng cường tính tích cực chủ động của học sinh. Các bài học
thường được bắt đầu bằng việc nêu ra các khái niệm mới, sau đó học sinh vận
dụng trả lời các câu hỏi. Có thể, bài học được bắt đầu bằng một vài câu hỏi hay
tình huống nhằm giúp học sinh thể hiện sự hiểu biết về vấn đề sẽ được trình
bày trong bài. Giữa các đơn vị kiến thức có những câu lệnh để học sinh dừng
lại trao đổi, suy nghĩ, vận dụng kiến thức để trả lời nhằm hiểu chính xác các
khái niệm được nêu ra.
Chương trình Sinh học 10 hiện nay gồm có 3 phần: phần một – Giới
thiệu chung về thế giới sống, phần hai – Sinh học tế bào và phần ba – Sinh học
vi sinh vật.
Một trong những nội dung chính của SGK sinh học 10 là sinh học tế bào.
Điều này đáp ứng mục tiêu xây dựng chương trình sinh học trung học phổ
thông thể hiện tính khái quát hóa về hệ thống sống như là một hệ thống mở có
tổ chức cao theo cấp bậc lệ thuộc từ thấp đến cao: Lớp 10: sinh học tế bào; lớp
11: sinh học cơ thể; lớp 12: sinh học quần thể - loài, quần xã, hệ sinh thái – sinh
quyển. Quan điểm này thể hiện tính cơ bản và hiện đại của sinh học hiện nay.
Sách giáo khoa sinh học 10 được xây dựng trên quan điểm cấu trúc luôn đi
đôi với chức năng thể hiện ở tất cả các cấp độ tổ chức và được xây dựng trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status