đề cương ôn tập môn triết học mác lê nin - Pdf 24

Câu 1: Trình bày khái quát những nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật biện chứng, vai trò của nó
đối với nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng hiện nay?
- Khái niệm thế giới quan: Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về
bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó.
- Thế giới quan triết học: Thế giới quan triết học là thế giới quan được thể hiện bằng hệ thống lý luận thông
qua hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật. Nó không chỉ nêu ra các quan điểm, quan niệm của con
người về thế giới và về bản thân con người, mà còn chứng minh các quan điểm, quan niệm đó bằng lý luận
- Thế giới quan duy vật biện chứng: Thế giới quan duy vật là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới là
vật chất, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với các biểu hiện của đời sống tinh thần và thừa nhận vị
trí, vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực.
II/ Nội dung cơ bản của TGQ DVBC
1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
a. VC (xét đến cùng) là cái có trước, sinh ra và quyết định YT:
- Nguồn gốc TN và nguồn gốc XH cho thấy VC (xét đến cùng) là cái có trước và sinh ra YT.
- VC quyết định nội dung phản ánh của YT
- VC quyết định sự biến đổi và phát triển của YT
- VC quyết định việc phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức.
b. Ý thức có tính năng động, tác động tích cực trở lại VC:
- YT tác động trở lại VC, nhưng phải thông qua việc chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động vật chất (thực tiễn) của
con người
- YT tác động trở lại VC theo hai chiều:
+ tích cực: Nếu ý thức phản ánh đúng các đối tượng vật chất mà con người đang tác động vào thì thông
qua các hoạt động vật chất của con người, nó sẽ thúc đẩy nhanh chóng hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của các đối tượng vật chất đó theo hướng có lợi cho con người. Ví dụ các tri thức khoa học ngày nay đã
giúp con người chế tọa ra các máy móc thiết bị công nghệ mới, tạo ra những sản phẩm mới tinh vi, phức t ạp…
+ tiêu cực: Nêú Ý thức phản anh sai, thì nó sẽ làm cho các hoạt động vật chất của con người không
phù hợp với các quy luật khách quan của sự vật, do đó sẽ kìm hãm và gây khó khăn cho sự phát triển của các
đối tượng vật chất đó, và gây ra ảnh hưởng tiêu cực với đời sống con người. Ví dụ: Ô nhễm môi trường, mất cân
bằng sinh thái, cạn kiệt nguồn tài nguyên, nhiên liệu….
- YT tác động trở lại VC chỉ trong phạm vi, điều kiện VC cho phép, chứ không phải vô điều kiện: Nó chỉ có thể
thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình vận động bình thường của vật chất chứ nó không thể sinh ra hoăc tiêu diệt các

- Do VC là cái có trước và quyết định YT, cho nên để nhận thức đúng được bản chất của SV, HTg chúng ta phải
tìm ra được nguyên nhân VC sâu xa của chúng chứ không phải các nguyên nhân tinh thần n ào đó
- Do YT có tính năng động, cho nên trong nhận thức các SV, HTg chúng ta cũng phải tính tới các nguyên nhân
T/thần, có ảnh hưởng tới chúng, hoặc quá trình nghiên cứu chúng…
* Trong thực tiễn:
- Do VC là cái có trước và quyết định YT, cho nên để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, chúng ta phải tìm ra
được các điều kiện và phương tiện VC thích hợp… Chống chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn…
- Do YT có tính năng động, cho nên trong thực tiễn chúng ta cũng phải phát huy tính năng động chủ quan, chủ
động tìm kiếm cách thức, phương pháp, phương tiện… để đạt tới mục đích nhanh nhất, hiệu quả nhất…Chống
thái độ thụ động, bó tay trước hoàn cảnh, hoặc trông chờ, ỷ lại vào người khác làm thay, làm hộ…
Sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình “Đổi mới” đất nước:
* Do VC có vai trò quyết định đối với YT, Đảng ta đã rút ra bài học “Phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn
trọng sự thật khách quan và hành động theo quy luật khách quan”…
* Để phát huy tính năng động chủ quan, Đảng ta đã đề ra và quán triệt đường lối “Đổi mới tư duy”…, coi đó là
tiền đề của mọi sự đổi mới. Lấy CN Mác – Lênin và TT HCM làm nền tảng tư tưởng của Đảng, chông đa
nguyên , đa đảng, đưa khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo thành quốc sách hàng đầu, thực hiện thắng lợi
đối mới đất nước.
Cau 2. Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Vai trò của nó đối với nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng hiện nay ? Đảng ta đã vận dụng
quan điểm này trong đường lối đổi mới đất nước như thế nào?
I- K/niệm VC; YT:
1. Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
2. Ý thức: Là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới
quan. Tuy nhiên không phải cứ thế giới khách quan tác động vào tác động vào bộ óc con người là tự nhiên trở
thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo về thế giới do nhu cầu của việc người cải
biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động. Vì vậy ý thức là cái vật chất
được đem chuyển vào đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó.
Tính sáng tạo của ý thức được thế hiện ra rất phong phú, trên cơ sở những cái đã có ý thức có thể tạo ra tri
thức mới, có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán về tương lai, có thể

sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật – vật tác động và vật nhận tác động. Đồng thời quá trình phản ánh bao
hàm quá trình thông tin. Nói cách khác, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động. Đây là
điều hết sức quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao
của thế giới vật chất, cùng với sự xuất hiện của con người. Ý thức là ý thức của con người, nằm trong con
người, không thể tách rời con người. Ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất – thuộc tính phản ánh –
phát triển thành. Ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất, nội dung của nó
là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh. Ý thức và sự phản ánh thế giới bên ngoài vào trong bộ
óc người. bộ óc người là cơ quan phản ánh song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức. Không có sự tác
động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra. Như
vậy, bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc, đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
1.1.b. Nguồn gốc xã hội:
Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song
chưa đủ điều kiện quyết định cho sự ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc người nhờ lao động, ngôn ngữ
và những quan hệ xã hội, ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, nó phụ thuộc và xã hội, và ngay từ đầu đã
mang tính chất xã hội.
Quá trình hình thành ý thức không phải là quá trình con người thu nhận thụ động. Nhờ có lao động con
người tác động vào các đối tượng hiện thực, bắt chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy
luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định và các hiện tượng này tác động vào bộ óc người. ý
thức được hình thành không phải chủ yếu là do tác động thuần túy, tự nhiên của thế giới khách quan vào bộ óc
người, mà chủ yếu là do hoạt động của con người cải tạo thế giới khách quan làm biến đổi thế giới đó. Quá trình
hình thành ý thức là kết quả hoạt động, chủ động của con người. như vậy, không phải bỗng nhiên thế giới khách
quan tác động vào bộ óc người để con người có ý thức mà trái lại, con người có ý thức chính vì con người chủ
động tác động vào thế giới thông qua hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới, con người chỉ có ý thức do có tác
động vào thế giới. Nói cách khác, ý thức chỉ được hình thành thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Nhờ
tác động vào thế giới mà con người khám phá ra những bí mật của thế giới, ngày càng làm phong phú và sâu sắc
ý thức của mình về thế giới.
Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ vào lao động mà ý thức. Không có hệ thống tín hiệu này –
tức ngôn ngữ , thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được. Ngôn ngữ, theo C. Mác là cái vỏ vật chất của tư
duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức,
quyết định ý thức, song ý thức có thể tac động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người , vì
vậy con người phải tôn trọng khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình.
- Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên và xã hội, muốn làm
được điều đó thì con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy
thực tế khách quan làm căn cứ cho hoạt động của mình. LêNin cũng đã từng nói:"Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn
chủ quan, nếu lấy chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý
chí"
- Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thì con người phải phát huy tính năng động chủ quan, tức là phát huy vai
trò tích cực của ý thức. Bản thân ý thức tự nó không thay đổi được gì trong hiện thực. Ý thức muốn tác động trở
lại hiẹn thực phải bằng lực lương vật chất, phải được con người thực hiên trong thực tiễn. vai trò của ý thức là ở
chỗ trang bị cho con người những tri thức về bản chất quy luật khách quan. Trên cơ sở đó con người xác định
đúng đắn mục tiêu và dề ra phương hướng phù hợp. Vì vậy phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức,
phát huy nhân tố con người để cải tạo thế giới khách quan.
Trên thực tế có rtất nhiếu quốc gia trong đó có Việt Nam đã tìm ra con đường đi cho mình từ lý luận trên. Chính
sự nhận thức đúng đắn về mối liên hệ giữa vật chất và ý thức mà Đảng và nhà nước ta đã có hướng đi đúng
đắn.Hiện nay tôn chỉ của ĐCSVN là :"Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng
kỷ luật khách quan."
Cụ thể:
- Về T/tưởng, L/luận: Lấy CN M-L, T/tưởng HCM làm nền tảng…, nhưng phải N/thức lại cho đầy đủ và
V/dụng sáng tạo vào Đ/K mới…
- Về C/trị: chuyển từ đối đầu sang Đ/thoại…, G/q hòa bình…, trên cơ sở nền an ninh, QP vững mạnh…
- P/triển “Sức mạnh mềm” = Sức mạnh của Tri thức KH và VH => P/tr KH-CN, GD-ĐT, XD XH học tập, XD
nền VH VN tiên tiến, đậm đà B/sắc DT… => phát huy nhân tố con người…
2.Trong thực tiễn:
- Do VC là cái có trước và quyết định YT, cho nên để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, chúng ta phải tìm ra
được các điều kiện và phương tiện VC thích hợp… Chống chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn…
- Do YT có tính năng động, cho nên trong thực tiễn chúng ta cũng phải phát huy tính năng động chủ quan, chủ
động tìm kiếm cách thức, phương pháp, phương tiện… để đạt tới mục đích nhanh nhất, hiệu quả nhất…Chống
thái độ thụ động, bó tay trước hoàn cảnh, hoặc trông chờ, ỷ lại vào người khác làm thay, làm hộ…

- Tại điểm nút, diễn ra sự nhảy vọt , sự biến đổi về lượng sẽ chuyển thành sự biến đổi về chất, độ bị phá
vỡ, cái cũ mất đi , cái mới ra đời thay thế cho nó.
- Ngược lại, chất đổi cũng làm cho lượng đổi.
Chất là yếu tố ổn định, khi lượng đổi trong phạm vi độ, chất chưa có biến đổi căn bản.
Sự thay đổi về lượng khi được tích lũy đầy đủ sẽ đạt tới điểm nút, tại đây sẽ diễn ra sự biến đổi về chất, được
gọi là sự nhảy vọt (Chất đổi = nhảy vọt tại điểm nút)
Biến đổi về chất diễn ra nhanh chóng, đột ngột, căn bản, toàn diện => chất cũ (sự vật cũ) mất đi, chuyển hóa
thành chất mới (sự vật mới)
Chất đổi sinh ra SV mới, mang lượng mới, tiếp tục biến đổi
 Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng. Sự thay đổi dần dần về
lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng thông qua bước nhảy vọt.
Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng, quy định sự vận động, phát triển tiếp theo của sự vật,
hiện tượng mới. Và cứ như vậy, quy luật lượng - chất quy định cách thức của sự phát triển của các sự vật, hiện
tượng trong thế giới cho đến vô cùng tận, không có điểm cuối cùng.
* Ý nghĩa phương pháp luận.
- Bất cứ SV, HT nào cũng tồn tại hai mặt chất và lượng, nên trong nhận thức và thực tiễn cần coi trọng cả hai
chỉ tiêu định tính và định lượng.
- Phải có sự tích luỹ đủ về lượng mới có thể có sự thay đổi về chất, cho nên phải chống chủ quan, nóng vội, đốt
cháy giai đoạn
- Trong xã hội, con người có thể chủ động thúc đẩy, tạo điều kiện tích lũy nhanh về lượng để nhảy vọt về chất.
Chống thụ động, trông chờ vào hoàn cảnh…
- Cần linh hoạt vận dụng các hình thức nhảy vọt cho phù hợp với từng điều kiện, lĩnh vực cụ thể…để đạt hiệu
quả cao…
* Sự vận dụng của Đảng ta trong Q/trình đổi mới…
Trước Đ/mới, Đảng ta đã phạm sai lầm = chủ quan, nóng vội => đốt cháy G/đoạn… => Khủng hoảng nặng
nề…
Khắc phục được những sai lầm có tính chủ quan, duy ý chí, nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong thời kỳ trươc đối
mới, Trong Q/trình Đ/M, Đảng ta đã Phân kỳ đúng đắn thời kỳ quá độ… thành những bước đi thích hợp, từ thấp
đến cao… đưa đất nước ta tiến lên từng bước vững chắc trên con đường chủ động hội nhập kinh tế khu vực và
toàn cầu, trên cơ sở đó thực hiện thắng lợi con đường phát triển đất nước theo định hướng XHCH. Cụ thể:

SV, HT phát triển mạnh mẽ…
- Thứ ba là: Giai đoạn xung đột, giai đoạn này mâu thuẫn được giải quyết, cái cũ mất đi => cái mới (cao hơn)ra
đời thay thế.
- Mâu thuẫn được giải quyết theo 2 hình thức chủ yếu:
(1): A(A><b) => B(a><B)
(2): A(A><b) => C(C><d)
* Đấu tranh là nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển của các SV, HTg: Đ/T => loại bỏ những
nhân tố yếu kém, lỗi thời, không còn khả năng P/triển; Đ/T sinh ra những nhân tố mới, cao hơn, phức tạp hơn,
hoàn thiện hơn…; Khi mâu thuẫn được giải quyết => cái cũ bị thay thế bởi cái mới, cao hơn, phức tạp hơn, hoàn
thiện hơn…
c. Ý nghĩa PP luận:
- Muốn nhận thức được bản chất của sự vật phải phát hiện ra mâu thuẫn…
- Phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn để tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn phù hợp, tránh rập khuôn, máy
móc…
- Muốn thay đổi bản chất sự vật thì phải tác động vào Q/trình vận động của ><, và giải quyết mâu thuẫn; tránh
cải lương, điều hoà ><…
d. Sự vận dụng của Đảng ta
Trong quá trình đổi mới, ĐẢng ta đã chỉ ra mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ là mâu thuẫn giữa hai con
đường phát triển: phát triển theo định hướng XHCN và tự phát lên TBCN, đồng thời chỉ ra biểu hiện cụ thể của
nó trong từng lĩnh vực cụ thể, nên đã chỉ ra được các nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển đất nước và thực hiện
thắng lợi các nhiệm vụ ấy, đưa đất nước pt tiến lên vững chắc.
3. Quy luật phủ định của phủ định
Vị trí của quy luật trong phép biện chứng: Chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng = tiến lên,
nhưng theo chu kỳ, quanh co, phức tạp…
a. Khái niệm phủ định biện chứng
Phủ định nói chung là sự thay thế một SV, HTg này bởi một SV, HTg khác( A => B) trong đó Phủ định biện
chứng là sự phủ định gắn liền với sự phát triển, tạo tiền đề cho sự phát triển, là một khâu tất yếu của quá trình
phát triển đó chính là sự thay thế cái cũ bằng cái mới cao hơn, phức tạp hơn, hoàn thiện hơn
* Đặc trưng của phủ định biện chứng:
Tính khách quan:

- Phủ định của phủ định kết thúc một chu kỳ, nhưng lại trở thành điểm xuất phát của một chu kỳ mới cao hơn,
phức tạp hơn… => cứ như thế, tạo thành những đường xoáy ốc… cho đến vô tận.
- Đường “xoáy ốc” cũng rất phức tạp, tùy theo lĩnh vực và trình độ phát triển của các SV, HTg…:
+ Trong TN: Bảng tuần hoàn …; các loài SV kế tiếp nhau (cây SV của Đ.W…) …
+ Trong XH: Công hữu N/thủy => tư hữu => công hữu XHCN …
+ Trong TD: Phép BC sơ khai => PP siêu hình => Phép BC DV …
c. Ý nghĩa PP luân:
- Cho phép chúng ta nhận thức được khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng là tiến lên, nhưng quanh
co, phức tạp theo các chu kỳ phủ định của phủ định.
- Xây dựng niềm tin khoa học vào sự tất thắng của cái mới, cần phải phát hiện, ủng hộ và đấu tranh cho thắng
lợi của cái mới, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, giáo điều
- Phải khắc phục tư tưởng tả và hữu khuynh trong việc kế thừa cái cũ để phát triển cái mới, theo đúng nguyên
tắc kế thừa trong phủ định biện chứng
d. vận dụng
- Phát hiện, xây dựng và “nhân” các mô hình KT-XH mới…
+ Trước ĐM: Phát hiện 1 mô hình cấp xã, 2 mô hình cấp huyện => XD mô hình = NN làm thay => nhân mô
hình ồ ạt, chủ quan, áp đặt => thất bại (Khủng hoảng thiếu…)
+ Trong ĐM: Phát hiện nhiều mô hình trong các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ…; các vùng miền
khác nhau, phong phú, đa dạng => XD mô hình phù hợp… (NN và nhân dân hoặc doanh nghiệp cùng làm…)
=> Nhân mô hình theo thế mạnh… (NN chỉ đạo, hỗ trợ, nhưng không làm hộ, làm thay…)
- Xây dựng VH VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc … (Tính K/quan và tính kế thừa của Ph/định
B/chứng…)
Câu 6: Trình bày khái quát nội dung học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác? Ý nghĩa của nó đối
với công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay?
Trả lời:
I/ Khái niệm và kết cấu:
a. KN về HT KT - XH: Hình thái KT - XH là một phạm trù trung tâm của quan điểm duy vật về lịch sử, dùng để
chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu QHSX đặc trưng cho nó, được xây dựng trên một
trình độ nhất định của LLSX, và với một KTTT được xây dựng trên những QHSX ấy.
b. Kết cấu của hình thái KT-XH:

XHCN.
- Kinh tế nhà nước
-Kinh tế tập thể
-Kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân)
-Kinh tế tư bản nhà nước
-Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ( FDI )
(3) Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là yêu cầu tất yếu đối với sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta
- Đổi mới về công nghệ: Sử dụng công nghệ thích hợp và tiếp cận các công nghệ ngày càng tiên tiến…
- Đổi mới về xây dựng đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH và hội nhập kinh tế toàn cầu
- Phát triển cơ sở hạ tầng của sản xuất về giao thông, liên lạc viễn thông… ngày càng hiện đại, đạt Y/C hội
nhập QT
- Đổi mới về vấn đề tài nguyên – môi trường…
(4). Đổi mới về KTTT
- Đổi mới về tư tưởng, lý luận: Nhận thức đầy đủ, khoa học về CN M-L, TTHCM…
- Đổi mới về chính trị: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ…
- Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN + cải cách hành chính…
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Phát triển KH-CN, GD-ĐT trở thành quốc sách hàng đầu…
- Mở cửa giao lưu, hội nhập với các nước…, nhưng không hoà tan
Câu 7: Trình bày nội dung quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX? Ý nghĩa
của nó đối với công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay?
Trả lời:
I/ Khái niệm
- PTSX: là cách thức tiến hành Q/trình SXVC của XH ở một giai đoạn LS nhất định, bao gồm hai mặt thống
nhất biện chứng với nhau là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Phương thức sản xuất qui định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao, Khi PTSX thay đổi bao giờ
cũng dẫn đến làm thay đổi các quá trình kinh tế-xã hội.
- Lực lượng sản xuất là sự thể hiện mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên. Kết cấu lực lượng sản xuất
bao gồm: người lao động và tư liệu sản xuất. Ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp…
- QHSX: Là quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất, bao gồm ba mặt cơ bản là: Quan hệ về sở

- QHSX không hoàn toàn phụ thuộc vào LLSX mà nó có thể tác động tích cực trở lại đối với sự phát triển của
LLSX, vì nó quy định phạm vi, khuynh hướng và động lực của sản xuất.
- QHSX tác động trở lại đối với LLSX theo 2 hướng:
+ Nếu QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì sẽ thúc đẩy LLSX phát triển…
+ Nếu QHSX không phù hợp (lỗi thời hay tiến tiến giả tạo) với trình độ của LLSX thì sẽ kìm hãm và gây khó
khăn cho sự phát triển của LLSX…
(4). Sự tác động biện chứng giữa LLSX và QHSX như trên làm cho các PTSX phát triển thay thế kế tiếp
nhau, từ thấp đến cao trong lịch sử, theo quy luật đi từ PTSX N/thuỷ => PTSX CH nô lệ => PTSX P/K =>
PTSX TBCN => PTSX CSCN…
III/ Sự vận dụng của Đảng ta trong QTrinh đổi mới đất nước.
1 Việc lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta là một tất
yếu khách quan, hợp quy luật và duy nhất đúng đắn nhất…
Ở Việt nam, trình độ lực lượng sản xuất thấp, năng lực tổ chức, quản lý thấp, kinh tế sản xuất nhỏ là phổ
biến và gắn liền là tư tưởng tiểu tư sản. Trên nhiều phương diện, ở nước ta hiện nay có sự đan xen, thâm nhập
lẫn nhau của nhiều yếu tố và khuynh hướng khác nhau, đối lập nhau.
Cần khắc phục quan niệm : “bỏ qua” chủ nghĩa tư bản một cách giản đơn. Chúng ta phải khai thác sử
dụng tối đa chủ nghĩa tư bản là “khâu trung gian” để chuyển nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội như Lênin đã
chỉ ra.
Thời kỳ trước đổi mới, quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
do chủ quan, duy ý chí. Vì vậy, nền kinh tế xã hội của đất nước kém phát triển, mọi hoạt động phụ thuộc vào sự
bao cấp của Nhà nước.
Qua 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu triết học lớn trên nhiều phương diện. Về
lý luận : con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được làm sáng tỏ hơn. Về thực tiễn, các mặt chính trị,
kinh tế, văn hoá đều phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt chủ trương phát triển kinh tế nhiều
thành phần với việc sử dụng những hình thái kinh tế trung gian mà Đại hội Đảng VI đã chỉ ra. Các Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX đã cụ thể hơn chủ trương này. Điều đó đã góp phần rất to lớn vào công việc thực
hiện thành công quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Bước vào thời kỳ đổi
mới, quan hệ sản xuất được Đảng ta điều chỉnh cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất. Từ nền kinh tế
tập trung quan liêu bao cấp, Nhà nước ta đã chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

(4). Đổi mới về KTTT
- Đổi mới về tư tưởng, lý luận: Nhận thức đầy đủ, khoa học về CN M-L, TTHCM…: Nhận thức đầy đủ,
khoa học về Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm kim chỉ nam và vận dụng sáng tạo,
đưa đất nước ta hội nhập với thế giới.
- Đổi mới về chính trị: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ…
. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất
nước.
. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của dân tộc.
- Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN + cải cách hành chính…
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đồng thời với phát triển kinh tế, phải phát triển
văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần
của nhân dân; phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; giải
quyết tốt các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu: "dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh".
- Phát triển KH-CN, GD-ĐT trở thành quốc sách hàng đầu…
- Mở cửa giao lưu, hội nhập với các nước… Với phương châm “hòa nhập chứ không hòa tan”, từng bước đưa
đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu và hòa nhập với thế giới, tăng cường năng lực quản lý
Cau 8. Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng ? Ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay ?
I. K/niệm CSHT và KTTT (Sơ đồ)
- CSHT: Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất
định. Còn kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo,
nghệ thuật, v.v cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã
hội, v.v được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.
Trong cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế, nhiều kiểu quan hệ sản xuất thì kiểu quan hệ sản xuất

2. KTTT tác động tích cực trở lại CSHT
Thứ hai, tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đến cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên,
mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, có cách thức tác động khác nhau. Trong xã hội có giai cấp, nhà nước
là yếu tố có tác động mạnh nhất đối với cơ sở hạ tầng vì đó là bộ máy bạo lực tập trung của giai cấp thống trị về
kinh tế. Các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v cũng đều
tác động đến cơ sở hạ tầng, nhưng chúng đều bị nhà nước, pháp luật chi phối.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều. Nếu kiến trúc thượng tầng
tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển;
nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển xã hội.
Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế, nhưng không làm thay đổi
được tiến trình phát triển khách quan của xã hội. Xét đến cùng, nhân tố kinh tế đóng vai trò quyết định đối với
kiến trúc thượng tầng. Nếu kiến trúc thượng tầng kìm hãm phát triển kinh tế thì sớm hay muộn, bằng cách này
hay cách khác, kiến trúc thượng tầng cũ sẽ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới tiến bộ để thúc đẩy
kinh tế tiếp tục phát triển.
Như vậy Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên
Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống, trong đó, các mặt không ngừng tác động qua lại lẫn nhau tạo thành
các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội. Đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các quy
luật xã hội khác. Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà các hình thái kinh tế - xã hội vận động
phát triển từ thấp đến cao.
III. Sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình Đ/mới đất nước: o cau 7
+ Lựa chọn con đường tiến lên CNXH không qua chế độ TBCN
+ ĐM về CSHT (QHSX)…
+ M v KTTTĐ ề …
Cau 9. Trình bày quan điểm Mác – Lênin về bản chất con người ? Ý nghĩa của nó đối với việc xây
dựng và phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay ?
I. Khái quát các quan niệm phi Mác xít về con người
Từ thời kỳ cổ đại, con người bắt đầu tìm hiểu nguồn gốc của mình và có những ý thức ban đầu về sức
mạnh của bản thân mình. Nói chung, các tôn giáo đều quan niệm con người do thần thánh, thượng đế sinh ra,
cuộc sống con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt.

nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Hai mặt trên
thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội.
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong Luận cương về
Phoiơbắc :“Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”.
Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử
xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất
định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng mọi hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất
và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như
quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội ) con người mới
bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên
trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và thế giới động vật
trước hết là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không
thấy được bản chất xã hội của con người.
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử.
Con người làm ra lịch sử của chính mình. Theo quan điểm duy vật biện chứng về bản chất xã hội của
con người thì sự hình thành và phát triển của con người cùng những khả năng sáng tạo lịch sử của nó là xuất
phát từ sự hình thành và phát triển của những quan hệ xã hội của nó trong lịch sử., khi những quan hệ này thay
đổi thì cũng có sự thay đổi về bản chất của con người. Vì vậy, sự giải phóng bản chất con người cần phải hướng
vào sự giải phóng những quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội của nó, thông qua đó mà phát huy khả năng sáng tạo
lịch sử của con người.
Không có con người phi lịch sử mà trái lại luôn gắn với điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định. Con
người là sản phẩm của lịch sử, lịch sử sáng tạo ra con người trong chừng mực nào thì con người lại sáng tạo ra
lịch sử trong chừng mực đó.
Với tư cách là thực thể xã hội, con người trong hoạt động thực tiễn tác động vào giới tự nhiên, cải biến
giới tự nhiên theo nhu cầu của mình thì đồng thời con người cũng sáng tạo ra lịch sử của chính nó, thực hiện sự
phát triển của lịch sử đó.
*Ý nghĩa phương pháp luận: Từ quan niệm khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người, có thể rút ra ý

tri thức phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tức là, chuyển hướng chiến lược phát triển nguồn nhân
lực theo chiều rộng sang chiều sâu, coi trọng và gia tăng nhanh chất lượng của nguồn nhân lực. Song Đại hội
Đảng lần thứ X cũng như các kỳ đại hội trước chưa xác định đó là khâu đột phá, là những khâu trọng yếu của sự
phát triển. Lựa chọn đúng khâu đột phá sẽ tạo ra những tiền đề, những điều kiện và môi trường thuận lợi để giải
phóng mọi tiềm năng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển.
Trong ba khâu đột phá chiến lược mà Đảng ta xác định thì “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao" (5) được xem là khâu đột phá thứ hai.
Ba là, đặt ra yêu cầu phải “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng
khoa học, công nghệ”(6).
Trong điều kiện khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức phát triển nhanh chóng như hiện nay, những nước có
trình độ phát triển thấp vẫn có thể tận dụng thời cơ, ứng dụng những thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại
để vươn lên tránh nguy cơ tụt hậu và tạo ra sự phát triển nhanh, bền vững. Song điều đó chỉ trở thành hiện thực
nếu có sự gắn kết chặt chẽ giữa đầu tư gia tăng nhanh chóng chất lượng nguồn nhân lực với phát triển và ứng
dụng khoa học, công nghệ mới, tiên tiến.
Đối với Việt Nam, một nước có xuất phát điểm thấp thì sự gắn kết này là yêu cầu nghiêm ngặt và càng
phải được coi trọng, thậm chí là vấn đề sống còn của sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Do vậy, “gắn kết chặt chẽ
giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” là một nội dung mới thể hiện
tính hướng đích của Đảng ta trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững.
Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu ra giải pháp cơ bản để phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị của con người Việt Nam trong thời đại mới.
Những chuẩn mực đó là: “Xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách
nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân
chính”(7), có khả năng sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ vào quá trình lao động sản xuất và quản lý.
Hơn nữa, để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao, với cường độ lao động lớn, đòi hỏi mỗi người phải
có ý thức rèn luyện sức khoẻ, nâng cao thể lực để đủ sức lao động trong môi trường cạnh tranh gay gắt.
Con người Việt Nam hiện nay ngoài lao động giỏi, trình độ cao , còn phải coi trọng rèn luyện phẩm
chất đạo đức, sống có nghĩa tình, có văn hóa, có lý tưởng.
Để phát triển nhanh nguồn nhân lực cả về lượng và chất, Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ: “phải đổi mới
căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội

trong Đại hội Đảng lần thứ XI, một mặt là sự tiếp nối những quan điểm, tư tưởng nhất quán của Đảng về vấn đề
này tại các kỳ đại hội trước, mặt khác là sự bổ sung, phát triển, cụ thể hóa hơn để triển khai có hiệu quả trong
thực tế, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội đề ra.
+ Tiêu chí xây dựng con người VN đáp ứng Y/cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri
thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thầm quốc tế chân chính.
Tiếp tục cụ thể hoá quan điểm của Đại hội X về sự cần thiết phải “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân
cách con người Việt Nam”
(5)
thời kỳ mới, tại Đại hội XI, Đảng ta đã đưa tiêu chí con người Việt Nam giàu lòng
yêu nước lên hàng đầu tiên trong các tiêu chí, những chuẩn mực để xây dựng con người Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
Bởi yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta từ ngàn xưa và đã được phát huy cao độ trong thời
đại Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, truyền thống yêu nước của dân tộc ta ngày càng được giữ
gìn, phát huy và bổ sung thêm những nội dung mới đó là “không cam chịu đói nghèo”, là “phải xây dựng đất
nước phồn vinh”, là “sánh vai với các cường quốc năm châu” và phải có “tinh thần quốc tế chân chính”. Lịch sử
Việt Nam đã chứng minh rằng yêu nước chính là sức mạnh to lớn, là điểm tương đồng tạo ra sự đồng thuận
trong xã hội, từ đó khơi dậy và phát huy sức mạnh của người Việt Nam ở trong nước, cũng như ở ngoài nước
cùng chung sức, chung lòng phát huy tài năng và trí tuệ xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh
Trong thời đại hiện nay, những hoạt động lao động sản xuất nếu không được đào tạo mà chỉ bằng kinh
nghiệm, bằng vốn sống thì năng suất lao động sẽ rất hạn chế, kém hiệu quả. Vì vậy, con người Việt Nam trong
thời đại mới phải nêu cao tinh thần trách nhiệm công dân, không ngừng học tập, trau dồi tri thức; có ý thức và
năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội. Hơn nữa, để đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao đó, với
cường độ lao động lớn, đòi hỏi mỗi người phải có ý thức rèn luyện sức khoẻ, nâng cao thể lực đủ sức khoẻ để
lao động trong môi trường cạnh tranh gây gắt.
Con người Việt Nam hiện nay ngoài các tiêu chí như: Lao động giỏi, trình độ cao, phong cách làm việc
chuyên nghiệp , còn phải coi trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức, sống có nghĩa tình, có văn hóa, có lý tưởng.
Đó là những giá trị truyền thống của dân tộc vẫn còn nguyên giá trị và cần phải được tiếp tục phát huy, nhất là
đối với thế hệ trẻ Việt Nam, bởi vì tương lai của đất nước luôn đặt lên vai thế hệ trẻ.
Cau 10. Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của bài học “lấy dân làm gốc” trong đường lối đổi

chúng nhân dân lao động bao gồm lao động chân tay và lao động trí óc. Cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay
có vị trí đặc biệt với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
- Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị văn hoá tinh thần. Quần chúng nhân dân đóng
vai trò to lớn trong sự phát triển của khoa học, công nghệ, văn học, đồng thời áp dụng những thành tựu đó vào
hoạt động thực tiễn. Những sáng tạo về văn học, nghệ thuật, khoa học, y học, quân sự, kinh tế, chính trị, đạo
đức,… của nhân dân vừa là cội nguồn, vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển văn hoá tinh thần của các dân
tộc trong thời đại. Hoạt động của quần chúng nhân dân từ trong thực tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi
sáng tạo tinh thần trong đời sống xã hội. Mặt khác, các giá trị tinh thần chỉ có thể trường tồn khi được đông đảo
quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng, trở thành giá trị phổ biến.
- Quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Lịch sử đã chứng minh rằng:
Không có cuộc cải biến cách mạng nào mà không là hành động đông đảo của quần chúng nhân dân. Họ là lực
lượng cơ bản của cách mạng, đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng. Trong các cuộc cách
mạng làm cải cách biến xã hội từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, nhân dân lao
động là lực lượng đông đảo. Cách mạng là ngày hội của quần chúng, là sự nghiệp của quần chúng. Tất nhiên
suy đến cùng, nguyên nhân của mọi cuộc cách mạng là bắt đầu từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến
mâu thuẫn với quan hệ sản xuất, nghĩa là bắt đầu từ hoạt động sản xuất của nhân dân. Bởi vậy, nhân dân lao
động là chủ thể của các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội, đóng vai trò là động lực cơ bản của mọi cuộc cách
mạng xã hội.
Nói tóm lại, xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt động vật chất đến hoạt động tinh thần, quần chúng luôn
đóng vai trò quyết định trong lịch sử. Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện lịch sử mà vị trí chủ thể của quần chúng cũng
biểu hiện khác nhau. Chỉ có trong Chủ nghĩa xã hội, quần chúng nhân dân mới có đủ điều kiện để phát huy tài
năng và trí sáng tạo của mình.
2. Vai trò to lớn của vĩ nhân, lãnh tụ…
Vai trò của vĩ nhân, lãnh tụ là hết sức quan trọng và ngày càng to lớn…
Thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Sáng lập các tổ chức chính trị xã hội, là linh hồn của các tổ chức đó
Lãnh tụ chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ của thời đại mình, không có lãnh tụ cho mọi thời đại.
Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân lãnh tụ
Cần phải khẳng định rằng, mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với vĩ nhân, lãnh tụ là quan hệ biện
chứng. Tính biện chứng của mối quan hệ trên biểu hiện:

tư tưởng về dân trong truyền thống dân tộc, trong Nho giáo, văn hoá phương Tây, và đặc biệt là quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin ''cách mạng là sự nghiệp của quần chúng'', Hồ Chí Minh đã sớm nhìn ra sức mạnh của con
người trong sự cố kết với cộng đồng, dân tộc, giai cấp với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng con người. Có dân là có tất cả - đã trở thành phương pháp luận trong tư tưởng của Người.
Dân là người chủ chính của xã hội
Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta làm cuộc cách mạng vô sản. Ở cả hai giai đoạn (cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa), Người đều đặt vị trí của dân lên trên hết: “Nước ta là
nước dân chủ, đại vị cao nhất là dân, vì dân làm chủ”. Theo Hồ Chí Minh, trong xã hội ta “bao nhiêu lợi ích đều
vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Địa vị làm chủ của người dân thể hiện rất rõ trong mối quan hệ Đảng
- Dân, Nhà Nước - Dân. Người nói “Đảng ta là đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, vì mọi quyền hành, lực
lượng đều ở dân”. Người yêu cầu Đảng phải “đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết.
Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì dân chúng cho là không hợp
thì để họ được đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.”
Hồ Chí Minh nói: “Quyền lợi và nghĩa vụ trong quá trình dân chủ phải được thực hiện ở mọi nơi mọi
lúc, ở mọi tầng lớp. Trong nhà máy công nhân có quyền thực sự trong xí nghiệp, từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ
phải được làm việc quản lý kinh tế. Trong trường học cũng cần có dân chủ … dân chủ nhưng trò phải kính thầy,
thầy phải giúp trò chứ không phải cá đối bằng đầu”. Với tri thức: “Tư tưởng phải được tự do…Đối với mọi vấn
đề, mọi người được tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý.”
Đi đôi với quyền, dân phải có nghĩa vụ trách nhiệm đối với xã hội. Người nói rất rõ: “Nhân dân có
quyền làm chủ thì phải có nghĩa vụ bổn phận công dân”, “mọi công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của
dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc cảu dân”. Quyền và nghĩa vụ gắn liền với nhau.
Dân là cội nguồn của mọi sức mạnh, là lực lượng vô tận để dựng nước và giữ nước.
Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân. Một khi dân đã đoàn kết lại thì không có
chướng ngại mà không thể vượt qua, không có kẻ thù nào là không đánh thắng. “Dân khí mạnh thì quân lính nào
súng ống nào cũng không chống lại nổi”, “Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành một bức tường đồng xung
quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn xảo quyệt đến mức nào đụng đầu nhằm bức tường đó chúng cũng phải thất
bại”. Hồ Chí Minh luôn tin rằng dân là những người rất thông minh sáng tạo giàu kinh nghiệm. Bác nói :Có
người cho là “dân ngu khu đen”. Thế là tầm bậy. Dân chúng rất thông minh. Quần chúng kinh nghiệm sáng kiến
rất nhiều. Bác khẳng định thắng lợi của cách mạng là do sự phấn đấu hy sinh và trí thông minh sáng tạo của
hàng triệu nhân dân nhất là công nhân, nông dân và những trí thức cách mạng. Tư tưởng này đã được lịch sử

định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để tăng cường và phát huy cao độ
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, Đảng và Bác Hồ đã sáng lập và lãnh
đạo tổ chức Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam .
Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức
Đảng.
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trước hết là trách nhiệm của Đảng vì Đảng là hạt nhân của hệ
thống chính trị. Đảng lãnh đạo toàn xã hội. Đường lối đúng đắn của Đảng là yếu tố quan trọng hàng đầu để khơi
dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng để
Đảng đoàn kết, nhất trí cao, thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đào tạo, xây
dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực, gắn bó mật thiết với nhân dân là việc làm có ý
nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc.
Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm của Nhà nước vì Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị,
người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng. Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc: tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; cán bộ, công chức phải thực sự là
công bộc của nhân dân.
Đảng, Nhà nước phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn,
vướng mắc của nhân dân.
Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc. Là tổ chức liên minh chính trị, Mặt trận
có vai trò rất quan trọng trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thắt chặt mối quan hệ giữa
nhân dân với Đảng và Nhà nước, góp phần tạo nên sự đồng thuận cao trong xã hội, động viên nhân dân phát huy
quyền làm chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với
nhân dân.
Giữ gìn và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là trách nhiệm của mọi
người dân, của cả dân tộc.
Đại đoàn kết toàn dân tộc gắn liền với xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị của đất
nước. Năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước được nâng
cao chẳng những quyết định sự ổn định, phát triển của xã hội, đất nước mà còn củng cố vững chắc niềm tin của
các giai cấp, dân tộc, các tầng lớp nhân dân làm cho sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng phát triển.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để
mang lại lợi ích cho nhân dân, bảo đảm quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mọi giai cấp, dân tộc, lực lượng xã

-Nguyờn lý v s phỏt trin:
+ S phỏt trin l mt phm trự trit hc dựng khỏi quỏt quỏ trỡnh vn ng tin lờn t thp n cao, t n
gin n phc tp, t kộm hon thin n hon thin hn.
+ Tớnh cht ca s phỏt trin:
. Tớnh khỏch quan:
. Tớnh ph bin:
.Tính phong phú, đa dạng
- í ngha phng phỏp lun:
+ũi hi chỳng ta phi cú quan im phỏt trin trong nhn thc khoa hc v trong hot ng thc tin Trong
thc tin chng thỏi ch quan, núng vi bo th, trỡ tr
+ Trong nhận thức: Phải nhận thức đợc, vch ra c quá trinh phát triển của sự vật, hiện tợngvà đặt
chúng trong quá trinh phát triển của TG
+ Trong thực tiễn: Phải giải quyết các nhiệm vụ của thực tiễn trong quá trinh phát triển, phải phân kỳ thành các
bớc từ thấp đến cao; chống chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn
2. cp phm trự (P/tớch K/quỏt, khụng nờu tng cp)
* cái chung cái rieng.
* Khỏi nim
- Cỏi riờng: l phm trự trit hc, dựng ch mt s vt, mt hin tng, mt quỏ trỡnh riờng l nht nh
- Cỏi chung: Cỏi chung l phm trự trit hc dựng ch nhng mt, nhng thuc tớnh chung khụng nhng
mt kt cu vt cht nht nh m cũn c lp li trong nhiu s vt hin tng hay quỏ trỡnh riờng l khỏc.
- Cỏi n nht:l phm trự dựng ch nhng nột, nhng mt, nhng thuc tớnh ch cú mt s vt, mt kt
cu vt cht m khụng lp li s vt, hin tng, kt cu vt cht khỏc.
* Quan h bin chng gia cỏi riờng, cỏi chung v cỏi n nht.
- Th nht: cỏi chung ch tn ti trong cỏi riờng, thụng qua cỏi riờng m biu th s tn ti ca mỡnh
- Th hai: Cỏi riờng ch tn ti trong mi liờn h vi cỏi chung (khụng cú cỏi riờng tuyt i).
- Th ba: Cỏi riờng l cỏi ton b, phong phỳ hn cỏi chung, cỏi chung l cỏi b phn nhng sõu sc hn cỏi
riờng.
- Th t: cỏi n nht v cỏi chung cú th chuyn húa ln nhau trong quỏ
trỡnh phỏt trin ca s vt
* í ngha v phng phỏp lun.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status