Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian và hàm lượng hormone 17 α methyltestosterone đến tỷ lệ chuyển đổi đực giả (XX) cá hồi vân tại sapa - Pdf 24


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
VŨ HUY HOÀNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN VÀ HÀM
LƯỢNG HORMONE 17α Methyltestosterone ĐẾN TỶ LỆ
CHUYỂN ĐỔI ĐỰC GIẢ (XX) CÁ HỒI VÂN TẠI SAPA LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Mã số : 60.62.70

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN ĐÌNH LUÂN
HÀ NỘI - 2012 Hà Nội, ngày… tháng… năm 2012
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌCVũ Huy Hoàng

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

iiLỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá học này có sự ủng hộ và giúp đỡ của trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I. Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp Hà nội, Khoa
sau đại học, Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, Phòng Đào
tạo và hợp tác quốc tế - Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Đình Luân,
người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn này.
Tôi xin cám ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên của
Trung tâm nghiên cứu cá nước lạnh, Thác Bạc, Sapa, Lào Cai đã giúp đỡ, tạo

ĐC Đối chứng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

iv

MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Mục tiêu chung: 2
Mục tiêu cụ thể: 2
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Một số đăc điểm sinh học của cá hồi vân 3
2.1.1. Tên gọi và vị trí phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3. Đặc điểm hình thái 4
2.1.4. Nhiệt độ 5
2.1.5. Oxy hoà tan 5
2.1.6. PH 6
2.1.7. Đặc điểm dinh dưỡng 6
2.1.8. Đặc điểm sinh trưởng 8
2.1.9. Đặc điểm sinh sản
8
2.2. Tình hình nuôi cá hồi vân trên thế giới 9

Tài liệu tiếng việt 35
Tài liệu tiếng Anh 36
PHỤ LỤC 39
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Bố trí thí nghiệm nghiên cứu 19
Bảng 2: Kích thước và tỷ lệ sống của cá sau khi kết thúc thí nghiệm xử lý ở
các hàm lượng hormone và thời gian xử lý khác nhau 22
Bảng 3: Tăng trưởng khối lượng theo ngày của các đàn cá hồi sau 5 tháng tuổi
24
Bảng 4 :Tăng trưởng chiều dài của cá hồi vân thí nghiệm sau 5 tháng tuổi 25
Bảng 5 : Tỷ lệ dị hình (%±se) của cá hồi vân trong các lô thí nghiệm 26
Bảng 6: Chuyển đổi giới tính (%) của cá hồi vân trong các nghiệm thức 28
Bảng 7 : Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 32

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

vii

Yên Bái; Bắc Cạn; Lâm Đồng; Gia Lai Nguồn cá giống cung cấp cho người
nuôi hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu từ một số nước. Năm 2008,
viên nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đã bước đầu thành công trong sinh sản
nhân tạo loài cá này và hiện đang triển khai chương trình nghiên cứu sản xuất
giống cá Hồi vân toàn cái.
Đối với nghề nuôi cá hồi vân thì cá giống toàn cái đang được người nuôi
sử dụng nhiều vì nó đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nuôi cá hỗn hợp giới
tính. Qua nghiên cứu cho thấy nuôi cá hồi vân toàn cái có những ưu điểm sau
đây: Cá cái thành thục muộn hơn cá đực do đó kéo dài thời gian nuôi và kích
thước cá thương phẩm lớn hơn (Billard và ctv., 1977; Benfey, 1996; Sheehan
và ctv.,1999). Trong thời gian nuôi cá chưa thành thục thì chất lượng, mầu sắc
thịt cá cao hơn trong nuôi cá thương phẩm thì đây là những yếu tố quan
trọng. Cá Hồi thành thục sẽ dễ nhiễm bệnh, tỷ lệ sống và khả năng chống chịu
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

2

môi trường giảm. Nuôi quần đàn cá toàn cái sẽ giảm hệ số thức ăn, nâng cao
hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và nâng cao tốc độ sinh trưởng trong giai đoạn
nuôi thương phẩm. Quần đàn cá hồi vân toàn cái sẽ giúp sản xuất được số
lượng lớn trứng cá để làm caviar (Sheehan và ctv., 1999). Ngoài ra việc tạo ra
các quần đàn cá toàn cái còn giúp hạn chế tạp giao giữa các quần đàn, thiết
lập và quản lý các quần đàn cá bố mẹ.
Để xây dựng công nghệ sản xuất giống cá hồi vân toàn cái, Viện nghiên
cứu nuôi trồng thủy sản 1 đang nghiên cứu tạo quần đàn cá cái giả đực thông
qua hormone sinh dục đực (17α- Methyltestosterone) ứng dụng trên đàn cá
giống toàn cái được nhập vào nước ta từ Phần Lan. Trong khuôn khổ nghiên
cứu của đề tài và góp phần hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống cá
Hồi vân toàn cái. Tôi thực hiện đề tài ״Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian
và hàm lượng hormone 17α- Methyltestosterone đến tỷ lệ chuyển đổi đực

vực Bắc Mỹ. Loài cá này đã được di nhập và nuôi ở nhiều nước châu Âu từ
những năm 1890 (Stevenson, 1987; Boujard và ctv, 2002). Cá hồi bao gồm
nhiều loài có đặc điểm sinh sống, phân bố và chu kỳ sinh trưởng và phát triển
khác nhau. Nhìn chung cá hồi vân bao gồm 2 nhóm chính, nhóm sinh sống và
khép kín vòng đời ngoài biển và nhóm sinh sống trong các thuỷ vực nước
ngọt. Cá hồi vân là loài được thuần hóa, sinh sản nhân tạo và nuôi thành công
sớm nhất để nuôi trong các thuỷ vực nước ngọt và được thị trường ưa chuộng
(Sedwick, 1990). Loài cá này được đưa vào nuôi từ những năm 1874. Tuy
nhiên, đến những năm 1950 sau khi thành công trong sinh sản nhân tạo và sản
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

4

xuất được thức ăn cho từng giai đoạn sinh trưởng của cá thì loài cá này mới
bắt đầu được phát triển nuôi mạnh mẽ (Sedwick, 1990)
Do cá có giá trị dinh dưỡng cao, dễ nuôi và được thị trường ưa chuộng
nên đã trở thành nuôi ưu tiên tại nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, cá hồi
vân được nuôi phổ biến tại 64 nước trên thế giới

FAO (2002). Số lượng nước
nuôi đối tượng này ngày càng cao
2.1.3. Đặc điểm hình thái
Cá hồi vân có hình dáng thon dài, trên thân cá có các chấm đen hình cánh
sao ở lưng, và đầu. Giai đoạn cá thành thục xuất hiện các vân màu hồng dọc 2
bên thân. Đặc biệt, màu hồng này đặc trưng đối với cá đực trong mùa sinh sản
(Stevenson, 1987; Russell và ctv, 1991). Một số đặc điểm hình thái bên ngoài
như màu sắc, độ lấp lánh… còn phụ thuộc vào chất lượng môi trường nước
(độ đục, cường độ chiếu sáng, thành phần một số nguyên liệu sử dụng trong
thức ăn), tuổi, giới tính và mức độ thành thục. ( Delaney, 1994).


các hoạt động bắt mồi và phát triển. Nhiệt độ cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình sử dụng thức ăn của cá. Ở nhiệt độ dưới 3
0
C, tần suất bắt mồi của cá
giảm. Nhiệt độ nước trên 20
0
C cũng làm giảm quá trình tiêu hóa thức ăn của
cá hồi Vân (Steffens, 1989).
2.1.5. Oxy hoà tan
Nói chung, Cá hồi vân có nhu cầu cao về oxy hòa tan trong nước.
Segdwick (1988) đã xác định hàm lượng oxy hòa tan thích hợp cho cá hồi vân
sinh trưởng và phát triển từ 5 - 10 mg/l và thích hợp nhất là ≥ 7mg/l. Tuy
nhiên, khi hàm lượng oxy hoà tan giảm xuống 5mg/l cá sẽ giảm ăn và nếu kéo
dài sẽ gây chết cá (Cho và Cowey, 2000). Khi lượng oxy hoà tan giảm xuống
dưới 3mg/l cá chết hàng loạt (Stevenson, 1987). Oxy hoà tan có mối quan hệ
mật thiết với nhiệt độ nước, nhiệt độ nước càng thấp khả năng hoà tan oxy
trong nước càng cao (Segdwick,1988; Steffens, 1989). Do vậy, khi nuôi ở các
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

6

suối nước có nhiệt độ thấp thường có hàm lượng oxy hoà tan đủ để đảm bảo
cho quá trình phát triển của cá.
2.1.6. PH
pH thích hợp cho cá hồi vân dao động từ 6,7 - 8,5 (Klontz,1991; Cho
và Cowey, 2000). pH thích hợp nhất cho cá hồi vân sinh trưởng là 7-
7,5(Segdwick,1988). Cá hương, cá giống và cá trưởng thành có thể sống khi
pH ở mức dưới 5. Tuy nhiên, ở mức pH thấp thì sẽ không tốt cho sự phát triển
của phôi và cá bột. Với mức pH 4,5 - 5,5 tỷ lệ nở của trứng giảm và pH ở
mức ≤ 4,3 phôi cũng như cá bột sẽ bị chết. Khi pH > 9 cá Hồi có thể chết, đặc

(Gropp và ctv, 1982).
Hiện nay, việc sản xuất cá hồi vân giống hầu hết sử dụng thức ăn tổng
hợp dạng viên kích thước 0,5mm để ương cá hồi vân (Hardy và ctv, 2000).
Khi nuôi thử nghiệm trên cá hồi vân quy cỡ 4,5g và trên 25g/con, Hecht và
McEwan (2008) đã xác định được nhu cầu về protein của cá hồi vân là 40%
và Lipit dao động trong khoảng 20-30% trong điều kiện nhiệt độ nước dao
động từ 18
0
C đến 22
0
C.
Thức ăn có chứa 15-20% lipit sẽ làm tăng cho tốc độ sinh trưởng đối với
giai đoạn cá hương và giống (Hinshaw, 1999). Hiện nay, thức ăn sử dụng
nuôi cá hồi vân (cá giống và cá thương phẩm) thường có hàm lượng lipit từ
16 - 24% (Hardy, 2002).
Trong sản xuất thức ăn cho cá Hồi vân, việc bổ sung các axit béo không
no (HUFA) là rất cần thiết, nhu cầu đối với axit béo thường từ 0,5 đến 1%
(Bureau và Cho, 2004). Axit béo không no được sử dụng hỗn hợp nhiều họ
ω3, ω6 sẽ cho kết quả tốt. Theo Steffens (1989), tỷ lệ ω3:ω6 trong thức ăn của
cá hồi vân là 0,5 - 3:1. Ngoài ra, trong khẩu phần có hỗn hợp 2 axit 20:5ω3 và
22:6ω3 được dùng theo tỷ lệ 1:1 thì tốc độ sinh trưởng của cá tốt hơn khi sử
dụng một loại axit béo.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

8

2.1.8. Đặc điểm sinh trưởng
Tỷ lệ sống của cá hồi vân khi ương, nuôi đạt cao hơn so với các loài cá
hồi khác. Trong điều kiện nuôi với cỡ giống thả 30g/con, cá có thể đạt khối
lượng bình quân 250 - 300 g/con sau 8 tháng nuôi, 600 - 1000 g/con sau 2

(Sedgwick, 1990). Nhiệt độ nước thích hợp cho cá hồi vân sinh sản từ 2 -
15
0
C, tối ưu là 10 - 12,8
0
C (Cain và ctv, 1993). Trong điều kiện nuôi vỗ trong
ao, bể cá hồi vân bố mẹ có thể thành thục nhưng chúng không có khả năng đẻ
tự nhiên. Do vậy để sản xuất cá giống ta có thể cho cá đẻ nhân tạo hoặc thụ
trứng ngoài tự nhiên về ấp nở. Thời gian ấp nở tùy thuộc vào nhiệt độ nước.
Theo Hinshaw và ctv, (1999) với nhiệt độ 12,8
0
C sau 3 tuần trứng sẽ nở kể từ
khi được thụ tinh và tính từ khi phôi có điểm mắt thì thời gian ấp nở chỉ mất 4
- 7 ngày, nhưng ở 7,2
0
C phải sau 7 tuần trứng mới nở. Qua đây ta thấy thời
điểm cho cá Hồi vân sinh sản nhân tạo tuỳ thuộc vào điều kiện nuôi vỗ và thời
tiết của mỗi nước.
2.2. Tình hình nuôi cá hồi vân trên thế giới
Cá hồi vân (O. mykiss) là một trong những loài cá nuôi nước ngọt có
giá trị kinh tế cao và được nuôi phổ biến ở các khu vực nước lạnh trên thế
giới. Đầu tiên, loài cá này được nuôi ở các nước như: Anh, Na Uy, Phần Lan,
Thụy Điển… Tuy nhiên, trước giá trị kinh tế và khai thác có hiệu quả nguồn
nước lạnh ở các khu vực có địa hình cao thì loài cá hồi vân đã được di nhập ra
nuôi ở nhiều nước khác trên thế giới. Hiện nay, các nước Châu Á như Trung
Quốc, Thái Lan, Nê Pan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Iran, Israel, Đài Loan, Việt
Nam… đều di nhập và phát triển loài cá này có hiệu quả. Ngoài ra, các vùng
khác như Bắc Mỹ, Canada hay Úc đều nuôi cá hồi vân trong các thuỷ vực
nước ngọt cho hiệu quả kinh tế cao (Sedwick, 1990). Cá hồi vân được điều
tra, giới thiệu vào các thuỷ vực nuôi từ những năm 1874, nhưng đến những

2.3. Một số công trình nghiên cứu trên cá hồi vân
Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học trong việc điều khiển giới tính các
loài thuỷ sản đã được áp dụng từ rất sớm. Padao (1937) là nhà khoa học đầu
tiên sử dụng hormone sinh dục để chuyển đổi giới tính cá. Việc sử dụng
steroid, đặc biệt là androgen không những cho phép điều khiển giới tính mong
muốn mà còn giúp cho việc nâng cao năng suất cho nghề nuôi thủy sản
(Donaldson và ctv, 1979; Rao, 1983). Một trong những lý do để các nhà khoa
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

11

học tập trung nghiên cứu, điều khiển giới tính các loài cá, tôm là do có sự
khác biệt về tốc độ tăng trưởng ở hai giới tính khác nhau ví dụ như tôm càng
xanh toàn đực, cá mè vinh toàn cái, cá bống tượng toàn đực, cá rô phi toàn
đực. Hay sử dụng hormone để tạo cá đực phục vụ sản xuất giống như cá song.
Ngoài ra điều khiển giới tính để có mầu sắc như mong muốn cũng được áp
dụng rộng rãi trên cá cảnh; sử dụng hormone sinh dục đực hay cái để tạo cá
bố mẹ giả cái hay giả đực cũng được áp dụng nhiều, điển hình có thể kể đến
quá trình tạo cá đực giả cái ở rô phi để tạo cá bố siêu đực (YY).
2.3.1. Nghiên cứu sản xuất cá hồi vân toàn cái
Billard và ctv (1977); Benfey (1996); Sheehan và ctv(1999) khi tạo cá
hồi vân toàn cái đã nâng cao lợi nhuận cho nghề nuôi cá hồi thông qua việc
nâng cao năng xuất trứng thu được. Ngoài ra, cá cái có thời gian thành thục
muộn hơn nên kích thước cá thương phẩm lớn hơn Cá cái thành thục muộn
hơn cá đực do đó kéo dài thời gian nuôi và kích thước cá thương phẩm lớn
hơn. Trong giới hạn nuôi cá chưa thành thục thì chất lượng, mầu sắc thịt cá
cao hơn đó là những yếu tố quan trọng trong nuôi cá thương phẩm. Cá hồi
vân thành thục sẽ dễ nhiễm bệnh, tỷ lệ sống và khả năng chống chịu môi
trường giảm. Giảm hệ số thức ăn, nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và
nâng cao tốc độ sinh trưởng. Ngoài ra quần đàn cá hồi vân toàn cái sẽ giúp

sản với cá cái (XX) bình thường để tạo ra thế hệ con toàn cái: Đối với phương
pháp này thì ta cần phải tạo ra được quần đàn cá giả đực mang bộ NST giới
tính (XX). Công nghệ tạo quần đàn cá giả đực được áp dụng rộng rãi và cho
kết quả tốt tại Mỹ (Solar và Donaldson, 1985). Châu Á có các nước phát triển
đang sử dụng rộng rãi như Hàn Quốc (Goerge,1991), hay ở Iran (Johari và
ctv,2007). Nghiên cứu so sánh thế hệ con toàn cái được sản xuất từ cá giả đực
cho kết quả tốt. Nghiên cứu của Johari và ctv (2007) lại cho thấy đàn cá toàn
cái có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cá hỗn hợp giới tính. Các nghiên cứu
khác cũng cho kết quả tương tự (Schmelzing và Gall,2006; Bye và
Lincoln,1986).
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

13

2.3.2. Nghiên cứu tạo cá hồi đa bội
Một trong những khâu quan trọng ban đầu tạo cá hồi đa bội thể là khi ta
đã có cá cái giả đực, sau khi cho thụ tinh với cá cái bình thường rồi mới tiến
hành sốc nhiệt tạo tam bội (Solar và ctv,1984; Chourout, 1984;
Wagner,2001). Phương pháp tạo đa bội thể trên một số loài cá hồi (O. mykiss,
O. gorbuscha, O. kisutch, O. tshawytscha) là sử dụng sốc nhiệt ở nhiệt độ 26-
32
0
C đối với trứng thụ tinh trong thời gian 50 phút (mỗi lần sốc nhiệt kéo dài
từ 5-10 phút) đã thu được 58 – 100% cá hồi tam bội (Solar và ctv,1984).
Chourrout (1984) đã sử dụng phương pháp tạo áp xuất (7000psi trong vòng 4
phút ở thời điểm sau thụ tinh là 40 phút và 5 giờ 50 phút tương ứng) trên cá
hồi (O. mykiss) thu được 100% cá hồi vân tam và tứ bội. Kết quả nghiên cứu
cho thấy tỷ lệ sống của cá gây đa bội thường thấp hơn so với cá cá lưỡng bội
(Ojolick và ctv, 1999). Tốc độ tăng trưởng không có sự khác biệt so với cá
lưỡng bội, Tuy nhiên một số nghiên cứu tạo cá hồi vân tam bội cho thấy cá

Sử dụng hormon để chuyển đổi giới tính đã được sử dụng rộng rãi
trong sản xuất giống thuỷ sản. Tùy theo nhu cầu đối với các giới tính khác
nhau mà có thể chuyển theo hướng đực hay cái. Trong nghiên cứu đã có nhiều
báo cáo kết quả áp dụng hormon sinh dục cái như Estradiol Valerate (E
2
V)
trộn vào thức ăn cho cá Hồi từ khi cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài
(Guzzel và ctv., 2008 ; Gullu và ctv., 2005) kết quả chuyển đổi thành cá cái
đạt 97%. Nghiên cứu trước đó (Johnstone và ctv, 1978) sử dụng Estradiol
cũng cho kết quả là tỷ lệ cái trong đàn con là 89%, 9% cá đực và 2% không rõ
giới tính. Cũng tác giả này sử dụng loại 17 β-estradiol với lượng 20 mg/kg
thức ăn thì được tỷ lệ cá cái trong đàn con là 99%. (Goetz và ctv, 1979) cũng
sử dụng 17 β-estradiol với lượng10 mg/kg thức ăn thì lại cho kết quả có
54,2% cá cái còn 18,1% cá đực và 17,7% không phân biệt được giới tính. Các
nghiên cứu tập trung vào đánh giá phương thức áp dụng như cho ăn hay ngâm
cũng được các tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên một số vấn đề được đặt ra đối
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

15

với cá. Trong một thí nghiệm Estradiol Valerate và 17 β-estradiol ở liều sử
dụng trộn thức ăn là 20 mg/kg thức ăn, cho ăn 8 tuần và ngâm với liều 400
µg/lít trong vòng 2h, ngâm 2 lần trên tuần và ngâm trong 4 tuần liên tục. Kết
quả cho thấy tỷ lệ cá cái trong đàn đạt 100% [28]. Một số vấn đề khác cần chú
ý như giá hormon sinh dục cái rất đắt (1 lọ 5 mg của hãng Sigma hiện có giá
khoảng 120 – 130 USD) do đó để sản xuất thì giá thành con giống sẽ tăng.
Ngoài ra theo điều khoản cấm của các tổ chức quốc tế, không được phép sử
dụng các hoá chất này trên các sản phẩm mà con người ăn trực tiếp do tồn dư
các độc tố có thể gây ung thư. Do đó phương pháp này chỉ áp dụng trong
phòng thí nghiệm chứ không được sử dụng trong sản xuất ở giai đoạn hiện

Cũng có một số nghiên cứu (không được công bố) với các nồng độ
ngâm MT 0,8 mg/l và 1,0 mg/l trong thời gian 2 – 4 giờ khi cá nở được 3 – 5
ngày tuổi cho tỷ lệ chuyển đổi thành cá đực XX trong đàn con đạt 100%.
Việc xử lý bằng phương pháp ngâm MT với nồng độ cao thích hợp sẽ cho
thời gian xử lý ngắn hơn vì vậy hiệu suất đực hóa cao hơn biện pháp ngâm
nồng độ thấp trong khoảng thời gian kéo dài.
Nghiên cứu so sánh thế hệ con toàn cái được sản xuất từ cá đực XX cho
kết quả tốt và đáp ứng được mong đợi của người nuôi. Nghiên cứu của Johari
và ctv, (2007) cho thấy đàn cá toàn cái có tốc độ tăng trưởng, khối lượng tăng
thêm cao hơn so với đàn cá hỗn hợp cá đực và cá cái. Ngoài ra nhóm tác giả
không thấy sự khác biệt về tỷ lệ sống giữa 2 công thức thí nghiệm.
2.3.4. Những công trình nghiên cứu ở Viêt Nam
Áp dụng công nghệ chuyển đổi giới tính đã được Viện nghiên cứu nuôi
trồng thuỷ sản 1 thực hiện trong nhiều năm qua. Công nghệ sản xuất cá rô phi
đơn tính đực bằng 17 MT đã được Viện ứng dụng thành công từ năm 1997,
sau đó công nghệ đã được chuyển giao cho khoảng trên 20 địa phương trong
cả nước (Nguyễn Dương Dũng, 2007). Hiện nay công nghệ này vẫn đang
được áp rộng rãi và cho tỷ lệ cá đực trong quần đàn đạt trên 95% và ổn định.
Tuy nhiên để có được kết quả đó thì những khâu kỹ thuật như chất lượng thức
ăn, hình thức phối trộn, làm khô, bảo quản và bổ sung thêm Vitamin C đóng
vai trò quan trọng quyết định đến tỷ lệ cá đực và tỷ lệ sống của cá ương
chuyển đổi. Ngoài ra sử dụng hormone sinh dục cái để tạo cá đực giả cái ở rô

Trích đoạn Tỷ lệ di hình của các đàn cá hồi Tỷ lệ chuyển đổi giới tính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status