đại học thái nguyên
trờng đại học nông lâm
------------------
nguyễn thị hạnh
Nghiên cứu ảnh hởng của thời gian cai sữa đến
sinh trởng của lợn con và năng suất sinh sản của
lợn mẹ tại trại charoen pokhan
huyện việt yên tỉnh bắc giang
Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
thái nguyên, năm 2010
đại học thái nguyên
trờng đại học nông lâm
------------------
nguyễn thị hạnh
Nghiên cứu ảnh hởng của thời gian cai sữa đến
sinh trởng của lợn con và năng suất sinh sản của
lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN
huyện Việt Yên - tỉnh Bắc Giang
Chuyên ngành: chăn nuôi
Mã số : 60.62.40
Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Nguyễn Thị Hạnh
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
v
Danh mục các bảng
vi
Danh mục các hình
vii
MỞ ĐẦU 1
10
khả năng sinh trưởng
19
1.3
Cai sữa cho lợn con
32
1.4.
Nguồn gốc, đặc điểm và năng suất sinh sản của giống lợn ngoại
1.5.
Landrace và Yorkshire
34
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
36
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU40
2.1.
3.1.
Ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến khả năng sinh trưởng của lợn con
thí nghiệm
3.2.
46
46
Ảnh hưởng thời gian cai sữa đến tình hình cảm nhiễm bệnh của đàn lợn
thí nghiệm
59
Ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến năng suất sinh sản lợn nuôi ở lứa
3.3
kế sau
63
Ảnh hưởng của cai sữa sớm đến tiêu tốn thức ăn đàn lợn thí nghiệm 70
3.4.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Tiêu tốn thức ăn
NXB
Nhà xuất bản
TN
Thí nghiệm
ĐC
Đối chứng
KHKT
Khoa học kỹ thuật
ĐVT
Đơn vị tính
CP
CHAROEN POKHAN
HTX
Hợp tác xã
41
3.1
Sinh trưởng tích luỹ của đàn lợn thí nghiệm (kg/con)
46
3.2
Sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn thí nghiệm (gam/con/ngày)
50
3.3
Sinh trưởng tương đối của đàn lợn thí nghiệm
53
3.4
Độ đồng đều của đàn lợn thí nghiệm qua các giai đoạn
55
3.5
Tỷ lệ nuôi sống của đàn lợn thí nghiệm qua các giai đoạn
71
7
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
3.1
Sinh trưởng tích lũy của lợn con qua các giai đoạn
49
3.2
Sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn thí nghiệm
50
3.3
Sinh trưởng tương đối của đàn lợn thí nghiệm
53
năm 2010 đạt 14,20 % (Cục Chăn nuôi, 2009), [7].
Mặc dù chăn nuôi lợn ở nước ta đã tăng trưởng khá nhanh về số lượng và
chất lượng. Tuy nhiên, chất lượng thịt lợn đang được sản xuất ra còn thấp, tỷ
lệ nạc chưa cao, đặc biệt ở các tỉnh miền Bắc. Do đó, chưa đáp ứng được nhu
cầu tiêu dùng hiện nay đó là thịt lợn có nhiều nạc, ít mỡ, thịt mềm, mùi vị
thơm ngon, cũng như chưa có đủ sức cạnh tranh với thị trường khu vực và
trên thế giới.
Để đáp ứng được yêu cầu trên ngành chăn nuôi lợn đã có các giải pháp
nhằm nâng cao năng suất và chất lượng bằng cách nhập các giống lợn ngoại
(Landrace, Yorkshire, Duroc...). Các giống này được sử dụng trong chương trình
nhân giống để tạo ra các tổ hợp lai, trong đó giống lợn Landrace và Yorkshire rất
phù hợp với điều kiện ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam.
Là một trong 9 huyện của tỉnh Bắc Giang, huyện Việt Yên đã rất quan tâm
đến phát triển đàn lợn nái ngoại trong trang trại, tuy nhiên người chăn nuôi khi
chuyển từ tập quán chăn nuôi lợn nội, lợn lai sang chăn nuôi các giống lợn cao
sản, còn nhiều khó khăn như: kỹ thuật chăm sóc, công tác quản lý, phòng
9
bnh nhng hn c l vn v thi gian cai sa cho ln con thi im
no t hiu qu kinh t nht.
Hin nay cỏc tri ang thc hin cai sa cho ln con thi im t 21
n 25 ngy tui. Nhng vi mc ớch nõng cao nng sut sinh sn ca ln
nỏi ngoi, gim chi phớ thc n cho 1 kg ln con cai sa, tng s la
/nỏi/nm, hn ch truyn mt s bnh t ln m sang ln con, thỡ vic la
chn thi im cai sa thớch hp cho ln con l vic cn phi lm.
Xut phỏt t thc t trờn chỳng tụi tin hnh ti:
Nghiên cứu ảnh hởng của thời gian cai sữa đến sinh trởng của lợn con
và năng suất sinh sản của lợn mẹ tại trại CHAROEN POKHAN
huyện Việt Yên - tỉnh Bắc Giang
Đặc điểm hoạt động sinh dục và sinh lý tiết sữa của lợn nái
1.1.1.1 Đặc điểm hoạt động sinh dục
Lợn cái thường thành thục về tính dục ở thời điểm 6 - 8 tháng tuổi và
phụ thuộc vào phẩm giống, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, thời tiết khí
hậu. Biểu hiện động dục lần đầu báo hiệu sự thành thục về tính ở lợn cái
hậu bị, ở lần động dục này đa số chưa ổn định và sự ổn định sẽ đạt dần qua
các lần động dục tiếp theo. Tuổi động dục lần đầu có ý nghĩa quan trọng
giúp người chăn nuôi định tuổi phối giống thích hợp, nhằm tăng thời gian
và hiệu quả sử dụng lợn nái. Tuổi động dục lần đầu ngoài chịu ảnh hưởng
của giống, còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như khả năng sinh
trưởng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, khí hậu và tác động kích thích từ con
đực. Phạm vi biến động từ 135 - 250 ngày tuổi (Hughes và cs, 1975) [40].
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân, 1998 [30] cho biết, lợn Landrace
thành thục tính dục là 213,1 ngày và lợn Yorkshire là 219,4 ngày.
Lợn cái được đưa vào nhân giống ở 7 tháng tuổi, khi đã thành thục về
tính, cơ quan sinh dục con cái có những biến đổi khác nhau và hiện tượng
rụng trứng xuất hiện, lặp đi lặp lại theo khoảng thời gian nhất định. Hiện
tượng này chính là chu kỳ tính hay là chu kỳ động dục, ở mỗi loài, giống khác
nhau thì chu kỳ động dục cũng khác nhau (Schmitten và cs, 1989) [48].
Theo tác giả Banne Bonadona, 1995 [3], thì chu kỳ động dục ở lợn cái là
21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn: tiền động dục (Prooestrus) kéo dài
11
khoảng 4 ngày; động dục (Oestrus) khoảng 6 ngày; sau động dục (Postoestrus)
3 ngày và giai đoạn yên tĩnh (Pioestrus) khoảng 8 ngày.
Kết quả nghiên cứu của Rapael, 1971 [22] cho thấy: ở lợn cái hậu bị
có chu kỳ động dục ngắn hơn lợn nái trưởng thành. Lứa đẻ thứ 2, 3 có chu
thời thể vàng sẽ tồn tại suốt trong quá trình con vật mang thai, nó sản sinh
ra progesteron (tác dụng lên tuyến yên làm ngừng tiết FSH). Thời gian
mang thai ở lợn nái thường kéo dài 114 ngày.
Sau khi cai sữa cho lợn con khoảng 7 ngày thì lợn mẹ động dục trở lại,
thời gian này có thể dao động từ 5 - 12 ngày. Biết được đặc điểm sinh lý
này giúp việc phát hiện động dục kịp thời và phối giống đúng thời điểm, sẽ
góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái.
1.1.1.2
Sinh lý tiết sữa
Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý
phức tạp do có những đặc điểm khác với gia súc là bầu vú của lợn nái không
có bể sữa nên ở lợn nái không có dự trữ sữa trong bầu vú. Sữa tiết ra trong 2 –
3 ngày đầu sau đẻ gọi là sữa đầu. Sữa đầu có đặc điểm có màu vàng đậm, hơi
mặn, hàm lượng chất khô và chất hữu cơ gấp 1,3 lần, protein gấp 3,5 lần so
với hàm lượng chất dinh dưỡng tương ứng trong sữa lợn mẹ sau đẻ 45 ngày.
Đặc biệt trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể và các chất khác bảo vệ lợn
con mới đẻ chống lại sự tấn công các virus, vi trùng gây bệnh.
Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi
sống của lợn con. Trên thực tế người ta có thể tiến hành cai sữa cho lợn
con ngay từ khi đẻ ra, tuy nhiên sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức
ăn lý tưởng cho lợn con.
Theo quy luật tiết sữa của lợn nái, lượng sữa lợn tiết ra tăng dần từ
tuần lễ thứ nhất đến đỉnh cao lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần.
13
Lượng sữa này nhiều hay ít phụ thuộc vào tính chất di truyền giống, đặc
biệt chế độ nuôi dưỡng lợn nái, ít phụ thuộc vào số con đẻ ra. Ngày nay
14
Ở nước ta theo tiêu chuẩn nhà nước (TCVN - 1280 - 81, 3879 - 54, 3900
- 84, ngày 1/1/1995), các chỉ tiêu giám định về khả năng sinh sản của lợn nái
nuôi tại các cơ sở công nghiệp lợn giống nhà nước như sau:
- Số con đẻ ra sống/lứa (con)
- Khèi l−îng s¬ sinh/æ (kg)
- Khèi l−îng s¬ sinh/con (kg)
- Khối lượng 21 ngày tuổi/lứa (kg)
- Khối lượng cai sữa/lứa (kg)
- Tuổi đẻ lứa đầu (với lợn đẻ lứa 1) (ngày)
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)
- Sè løa ®Î/n¨m
1.1.3.
Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ đến 2 yếu tố, đó là
di truyền và ngoại cảnh. Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, mỗi
giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính, sức sản xuất cũng khác nhau. Yếu tố
ngoại cảnh bao gồm: thức ăn, thú y, chuồng trại, qui trình chăm sóc…
Đồng thời năng suất sinh sản của lợn nái phụ thuộc vào nhiều chỉ tiêu
khác nhau như số con cai sữa/lứa, khoảng cách lứa đẻ, số lợn con đẻ ra còn
sống, thời gian phối giống sau cai sữa, tỉ lệ thụ thai, số trứng rụng. Những chỉ
tiêu này có hệ số di truyền thấp khoảng 0,02 - 0,30, do vậy nó chịu ảnh hưởng
nhiều của các điều kiện ngoại cảnh.
* Ảnh hưởng của mùa vụ
Theo Nguyễn Văn Đức (1997) [37] các yếu tố cố định cơ sở, năm, mùa
vụ và mối tương tác giữa chúng có ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu năng suất
sinh sản. Chúng ảnh hưởng trực tiếp đến số con sơ sinh sống/lứa, khối lượng
lợn con sơ sinh/lứa, số con cai sữa/lứa và khối lượng lợn con cai sữa/lứa
16
Tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu
kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng làm giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng
thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận
cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng làm
tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu (Ian Gordon, 2004) [41].
Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày dừng sản xuất ít
nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối
lượng cơ thể thích hợp trong giai đoạn nuôi con.
Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin và
protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng
thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn sống trên ổ, tăng tỷ lệ
hao hụt của lợn mẹ đồng thời giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con [51]. Song
mức protein quá cao trong khẩu phần sẽ không tốt cho lợn nái.
* Ảnh hưởng của bệnh và sốlứa đẻ
Bệnh sẽ làm giảm năng suất sinh sản ở lợn. Ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ
cùng độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các vi sinh vật gây
bệnh. Hơn nữa, ở các nước đang phát triển sức khoẻ của động vật chưa được
kiểm tra tốt, bệnh tật sẽ làm tăng giá thành các sản phẩm ngành chăn nuôi.
Bệnh có thể làm cho lợn nái mất khả năng thụ thai, giảm số con
sống/lứa, cùng với việc số con sơ sinh chết và thai gỗ tăng lên.
Yếu tố lứa đẻ ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con/lứa. Đã có nhiều nghiên cứu
về vấn đề này cho thấy: nhìn chung số con/lứa tăng từ lứa thứ nhất đến lứa
thứ 4, 5 và sau đó giảm dần đến lứa thứ 10 [37].
Theo Đặng Vũ Bình (1999) [4] năng suất sinh sản của hai giống
Landrace và Yorkshire từ lứa 1 đến lứa 6 như sau:
- Số con sơ sinh còn sống/ổ tăng từ lứa 1 đến lứa 6 lần lượt là: 8,86;
8,89; 9,83; 9,98; 10,72; 10,75con.
18
Thời gian nuôi con có ảnh hưởng đến khoảng cách lứa đẻ, số
lứa/nái/năm, số lợn con cai sữa/nái/năm, từ đó ảnh hưởng đến năng suất
sinh sản của lợn mẹ.
Lợn nái động dục khi đang nuôi con nhất là khi tiết sữa kéo dài quá 5 - 6
tuần. Nếu lợn mẹ không có biểu hiện động dục trong khi đang nuôi con, hầu
như sẽ không động dục trở lại trong vòng 3 - 7 ngày sau cai sữa. Vì khi tiết
sữa, động dục và rụng trứng đều có quan hệ khống chế nhau đều thông qua
thần kinh thể dịch hình thành những điểm hưng phấn khác nhau. Hormon
protalactin vừa có tác dụng tiết sữa vừa có tác dụng duy trì thể vàng tiết
progesteron, hai tác động này kìm hãm tuyến yên tiết FSH và LH làm cho bao
noãn không phát triển, do đó con vật tạm thời không hưng phấn trong thời
gian cho con bú. Việc chọn giống những nái động dục trong vòng 7 ngày sau
cai sữa là chỉ tiêu chính để giữ lợn nái lại làm giống.
Cai sữa sớm cho lợn con là một biện pháp rút ngắn thời gian nuôi con
và tăng số lứa đẻ/nái/năm, cũng như giảm tỷ lệ hao hụt lợn mẹ, nhằm tăng
năng suất sinh sản lợn nái.
Trần Quốc Việt và cs (1997) [32] cho biết: đối với lợn nái cai sữa
sớm hơn 10 - 15 ngày so với cai sữa truyền thống vẫn động dục trở lại
trong vòng 5 - 7 ngày sau khi cai sữa lợn con, tỷ lệ hao mòn cơ thể thấp
hơn (7,5% và 8,72% so với 15,08%).
* Ảnh hưởng của sốcon đểlại nuôi
Khi số con để lại nuôi nhiều, cơ thể mẹ phải huy động nhiều năng lượng,
dinh dưỡng để tạo sữa, đáp ứng nhu cầu nuôi con. Nếu khẩu phần thức ăn hàng
ngày cung cấp không đủ cho nhu cầu duy trì và tiết sữa thì lợn mẹ phải huy động
năng lượng dự trữ của cơ thể để sản sinh sữa dẫn đến sự hao hụt khối lượng cơ
thể mẹ đồng thời làm ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất và động dục trở lại
lượng hemoglobin của lợn con cũng giảm. Thời gian giảm tốc độ phát triển
20
thường kéo dài khoảng hai tuần gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con.
Giai đoạn này, lợn dễ bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ còi cọc cao, dễ mắc bệnh và
có tỷ lệ chết cao. Chúng ta có thể hạn chế ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
bằng cách cho lợn con tập ăn sớm để bổ sung dinh dưỡng cho chúng.
1.2.2
Đặc điểm cơ quan tiêu hóa của lợn con
1.2.2.1. Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con
Tiêu hoá là quá trình biến đổi thức ăn một cách toàn diện về mặt lý, hóa
học để làm cho thức ăn từ dạng hợp chất phức tạp trở thành dạng đơn giản mà
cơ thể có thể dễ dàng hấp thu và chuyển hoá được. Quá trình tiêu hoá chịu tác
động bởi 3 tác động: cơ học, hoá học, vi sinh vật học.
Khối lượng cơ thể lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với sơ sinh. Các
cơ quan tiêu hoá phát triển, tăng về kích thước, hoàn thiện về chức năng.
Dung dịch dạ dày tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, sau 70 ngày tăng lên 8 lần và
khi trưởng thành đạt 3,4 - 4 lít. Chiều dài ruột non sau 20 ngày tăng 3 lần,
ruột già tăng 1,5 lần so với lúc sơ sinh.
Chức năng của bộ máy tiêu hoá chưa hoàn thiện đặc biệt là trong thời gian 3
- 4 tuần đầu. Nguyên nhân do thiếu HCl, men pepsinogen không được hoạt hóa
thành pepsin nên giai đoạn trước 21 ngày lợn tiêu hoá kém, đặc biệt là các thức
ăn ngoài sữa. Lợn con chỉ tiêu hoá được nhờ sữa, men capepsin và tripsin hỗ trợ
HCl trong dạ dày có chức năng diệt khuẩn, do trong dạ dày bị thiếu nên giai đoạn
này lợn con dễ mắc phải bệnh ỉa phân trắng [8].
Trong giai đoạn này phản xạ thần kinh và thể dịch lợn con còn yếu khả
năng phân tiết dịch vị còn chậm, hoạt tính của dịch vị và khả năng kháng
- Vi khuẩn hình sợi: cư trú ở biểu mô của 2/3 chiều dài đoạn cuối ruột non.
- Vi khuẩn yếm khí: tuỳ tiện và tuyệt đối cư trú ở biểu mô của ruột tịt
và ruột kết.
22
- Vi khuẩn hình xoắn và Spirocheta: cư trú trong các hốc Lieberkihn của
ruột tịt và ruột kết.
Tác động qua lại của vi khuẩn đường tiêu hoá có thể là đối kháng hay hiệp
đồng. Tác động qua lại của chúng chịu trách nhiệm chính về sự duy trì và điều
tiết hệ sinh thái giữa vật chủ và các vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hoá.
Khi có bất cứ một nhân tố stress nào tác động vào hệ sinh thái đường tiêu
hoá, ảnh hưởng đến sự cân đối của quần thể sinh vật cư trú trong dạ dày ruột đều có thể tạo thuận lợi cho những loài “vi sinh vật không mong
muốn” xâm nhập và dẫn tới tiêu chảy.
1.2.3
Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt và miễn dịch ở lợn con
Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, thân nhiệt lợn con
chưa ổn định, sự sinh nhiệt và thải nhiệt của lợn con chưa cân bằng, thân nhiệt
luôn có xu hướng hạ thấp.
Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con kém do nhiều nguyên nhân:
- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glyceril dự trữ trong cơ thể còn
thấp, trên thân lợn con lông còn thưa nên khả năng cung cấp và giữ nhiệt rất kém.
- Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh. Trung khu
điều tiết nhiệt nằm ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất
ở cả giai đoạn trong và ngoài bào thai.
- Diện tích bề mặt của lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối cao,
nên lợn con dễ dàng bị mất nhiệt nhanh khi gặp khí hậu lạnh.
- Lợn con lúc này phải làm quen với môi trường sống mới, khi còn trong
1.2.4
Các thời kỳ quan trọng của lợn con
Các nhà khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm sinh học của lợn con đều đi
đến kết luận rằng: Lợn con ngay từ khi sinh ra đến khi trưởng thành trải qua 3
thời kỳ khủng hoảng do điều kiện sống mang lại đó là: