Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HUÂN
TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN FASCIOLA SPP. Ở TRÂU, BÒ TẠI
TỈNH TUYÊN QUANG, NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA TRỨNG, ẤU TRÙNG SÁN LÁ GAN
Ở NGOẠI CẢNH VÀ TRONG KÝ CHỦ TRUNG GIAN
Chuyên ngành: Thú Y
Mã số: 60 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan
thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trƣờng.
Đặc biệt, tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo GS.TS
Nguyễn Thị Kim Lan, ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn và NCS. Phạm Diệu thuỳ
đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo uỷ ban nhân dân, Trạm thú y
và nhân dân các huyện Hàm Yên, Yên Sơn và Thành phố Tuyên Quang đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian triển khai đề tài tại địa phƣơng.
Tôi xin chân thành cảm ơn các em sinh viên khoá 40, chuyên ngành
Chăn nuôi thú y và Thú y đã tham gia và hỗ trợ tôi thực hiện thành công đề tài
này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đồng
nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2013
Học viên Hoàng Văn Huân
Số hóa bởi trung tâm học liệu
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
a, b, c : Là các chữ cái để phân hạng trong thống kê
cs : Cộng sự
F. : Fasciola
L. : Lymnaea
n : Dung lƣợng mẫu
TN : Thí nghiệm
TPTQ : Thành phố Tuyên Quang
tr. : Trang
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 21
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
Chƣơng 2 NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Số hóa bởi trung tâm học liệu
2.1. Đối tƣợng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 26
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 26
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu 26
2.2. Vật liệu nghiên cứu 26
2.2.1. Mẫu nghiên cứu 26
2.2.2. Dụng cụ và hoá chất 26
2.3. Nội dung nghiên cứu 27
2.3.1. Thực trạng công tác vệ sinh thú y và phòng chống bệnh ký sinh trùng
cho trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang. 27
2.3.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò 27
2.3.2.1. Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu và bò 27
2.3.2.2. Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và
trong ký chủ trung gian 27
2.3.2.3. Nghiên cứu về thời gian sống của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh (khi
chưa rơi vào môi trường nước) 27
2.3.2.4. Nghiên cứu thời gian Miracidium thoát vỏ và thời gian tồn tại của
Miracidium trong nước 28
2.3.2.5. Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ốc – ký
chủ trung gian 28
2.3.3. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh
Tuyên Quang 28
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 28
2.4.1. Phương pháp điều tra tình hình vệ sinh thú y và phòng chống bệnh sán
3.2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo mùa vụ 47
3.2.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo tính biệt 49
Số hóa bởi trung tâm học liệu
3.3. Nghiên cứu về trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ
trung gian 51
3.3.1. Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng trại nuôi trâu, bò 51
3.3.2. Sự ô nhiễm trứng sán lá gan trên bãi chăn thả trâu, bò (ở đất bề mặt, ở
vũng nước trên bãi chăn). 54
3.3.3. Xác định loài ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của sán lá gan gan và
sự phân bố của chúng 55
3.3.4. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc nước ngọt (nhiễm tự nhiên) 57
3.3.5. Tỷ lệ mẫu cỏ thuỷ sinh nhiễm Adolescaria 60
3.3.6.1. Thời gian sống của trứng sán lá gan trong phân trâu, bò 61
3.3.7. Nghiên cứu về thời gian thoát vỏ của Miracidium và thời gian sống của
Miracidium trong nước 67
3.3.7.1. Thời gian Miracidium thoát vỏ trong nước (thí nghiệm trong mùa thu
và mùa đông) 67
3.3.7.2. Thời gian Miracidium sống trong nước (khi không gặp ký chủ trung gian)71
3.3.8. Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ký
chủ trung gian 73
3.4. Xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của 2 loại thuốc Han - Dertil B và Bio -
Alben 77
3.5. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh
Tuyên Quang 78
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80
4.1. Kết luận 80
4.2. Đề nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Bảng 3.19: Thời gian từ khi trứng sán lá gan vào môi trƣờng nƣớc đến khi
hình thành Adolescaria 76
Bảng 3.20: Xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của thuốc 77 Số hóa bởi trung tâm học liệu
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời của sán lá gan 7
Số hóa bởi trung tâm học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi nƣớc ta phát triển khá mạnh trong những năm gần
đây, góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống nhân dân và phát triển
kinh tế - xã hội. Trong đó, chăn nuôi trâu, bò có vai trò không thể thiếu trong
việc giải quyết nhu cầu thực phẩm, sức cày kéo và tăng thêm thu nhập cho
ngƣời chăn nuôi, đặc biệt đối với cƣ dân vùng cao, vùng trung du, miền núi.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi trâu, bò vẫn đang phải đối mặt với không ít
khó khăn, trong đó có vấn đề dịch bệnh. Ngoài các bệnh truyền nhiễm thì bệnh
ký sinh trùng cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất chăn
nuôi. Ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể gia súc, chiếm đoạt chất dinh dƣỡng làm
cho vật nuôi gày yếu. Một trong những bệnh ký sinh trùng thƣờng xảy ra và gây
tác hại lớn đối với đàn trâu, bò là bệnh sán lá gan lớn (Fasciolosis).
Một tác động quan trọng của sán lá Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là
chiếm đoạt dinh dƣỡng. Dinh dƣỡng của sán lá gan là máu súc vật mà nó ký
chống bệnh sán lá gan cho trâu bò có hiệu quả cao.
3. Mục tiêu của đề tài
Xác định đƣợc tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò ở tỉnh Tuyên Quang và
sự phát triển của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh, sự phát triển các giai đoạn ấu
trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị, bổ sung và
hoàn thiện những kiến thức dịch tễ học của bệnh sán lá gan, là cơ sở khoa học
để xây dựng quy trình phòng và trị bệnh sán lá gan trâu bò.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
3
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần đƣa ra những khuyến cáo đối với ngƣời
chăn nuôi và những ngƣời làm công tác thú y trong việc phòng và trị bệnh sán
lá gan cho trâu bò, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành
chăn nuôi trâu, bò phát triển.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh sán lá gan do hai loài sán lá Fasciola gigantica và Fasciola
hepatica gây ra.
cơ quan tiêu hoá. Sán không có hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở
giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt). Hệ sinh dục rất phát triển với cả bộ
phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán. Tử cung sán chứa đầy trứng.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola nhƣ sau:
* F. gigantica : có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, “vai” không có
hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang.
F. gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm,
u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” nhƣ
loài khác của giống Fasciola. Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối
của thân tù. Giác bụng tròn lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh
hoàn đều phân nhánh. Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và
xếp kín vỏ. Kích thƣớc trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm.
* F. hepatica: trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra
phía trƣớc làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn.
F. hepatica (nghĩa là sán lá ở gan) dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần
trƣớc thân nhô ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên. Hai rìa bên thân sán không
song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân. Những
ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành phần trƣớc
và phần sau thân. Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực. Tinh hoàn
phân nhiều nhánh xếp phía sau thân. Tử cung ở phần giữa thân trƣớc tạo nên một
mạng lƣới rối nhƣ tơ vò. Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung.
Trứng của loài F. hepatica có hình thái, màu sắc tƣơng tự trứng của
loài F. gigantica, kích thƣớc 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09 mm.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
6
Bệnh sán lá gan ở trâu, bò, dê do hai loài sán lá nói trên ký sinh ở ống dẫn
mật và gan gây ra. Ngoài trâu, bò, dê, hai loài sán này còn gây bệnh cho các động
vật nhai lại khác, đôi khi thấy cả ở ngƣời.
thành vĩ ấu (Cercaria). Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo
thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển đƣợc dễ dàng
trong nƣớc. Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và
ruột phân thành hai nhánh.
Trong cơ thể Cercaria còn có những hạt Glycogen cung cấp năng
lƣợng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho sự vận động không
ngừng của đuôi. Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu. Theo một số tác giả,
đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi trƣờng nƣớc, nhờ sự
hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh,
tạo thành kén (Adolescaria).
Tóm tắt sơ đồ vòng đời của sán lá Fasciola
Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời của sán lá gan
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần
khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi
trƣờng ngoài, bơi tự do trong nƣớc, có kích thƣớc 0,28 - 0,30 mm chiều dài và
Fasciola
(ống dẫn mật)
Phân
Trứng
ánh sáng, t
o
, pH
Mao ấu 8-21 ngày
Lôi ấu
Nang ấu
Rời KCTG sau
2giờ
20-28 ngày Vĩ ấu
(lơ lửng trong nƣớc hoặc bám vào
cây cỏ thuỷ sinh) Số hóa bởi trung tâm học liệu
8
Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (Cercaria) non cần 7 - 14 ngày,
thành vĩ ấu trƣởng thành cần 13 - 14 ngày.
- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén
(Adolescaria) sau 2 giờ.
- Ở trâu, bò: khi trâu, bò, bê, nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88
ngày trong ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá gan trƣởng thành đẻ trứng
theo phân ra ngoài.
Điều kiện nhiệt độ và ẩm độ của nƣớc ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và gây
bệnh của sán lá gan (kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên). Ở những vùng có mầm
bệnh tồn tại, cứ trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong cơ thể
trâu, bò, nghĩa là trong trâu, bò lại tạo ra một đời sán mới. Con vật trong khi đã có
sán lá gan ký sinh lại tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gây tình trạng bội
nhiễm sán lá gan, vì vậy cƣờng độ nhiễm tăng lên theo tuổi trâu, bò.
1.1.4. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola
Bệnh sán lá gan phổ biến ở khắp các châu lục và nhiều nƣớc trên thế
giới. Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nƣớc.
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dƣơng Thái (1978) [34] cho biết, trâu trƣởng
thành mắc bệnh sán lá gan do F. gigantica, tỷ lệ nhiễm tới 50 - 70%. Theo
Phan Địch Lân (1985) [16], mổ khám 1043 trâu ở Thái Nguyên, số trâu nhiễm
sán lá gan là 57%, trong đó có nhiều gan phải huỷ bỏ do số lƣợng sán quá
nhiều. Kết quả điều tra ở huyện Bình Lục - Hà Nam, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở
trâu là 51,2 - 57,5%.
Đoàn Văn Phúc và cs (1980) [24] đã kiểm tra 64 bò tại trại bò sữa Hà
Nội, thấy tỷ lệ nhiễm sán Fasciola là 73,43%. Tác giả còn cho biết, bệnh sán
lá gan đã ảnh hƣởng rõ rệt đến sức khoẻ và sản lƣợng sữa của đàn bò.
Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [25] cho biết, trâu, bò thuộc khu vực Hà
Nội nhiễm sán lá gan tỷ lệ 53,41%.
đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giảm dần đối
với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi. Về nguyên
Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả (Trịnh Văn Thịnh, 1963 [33]; Phạm Văn
Khuê và cs, 1996 [4]; Soulsby, 1982 [52]; Kaufmann, 1996 [45] ) đều giải
thích: vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh, rạch, có điều kiện cho ốc - vật chủ
trung gian sống và sinh sản. Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn
so với đồng bằng.
Phan Địch Lân (2004) [17] đã điều tra 7.359 trâu, bò ở 26 tỉnh miền
Bắc Việt Nam, kết quả thấy: trâu bò ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan cao
nhất, sau đó đến vùng trung du, vùng ven biển và miền núi (bình quân tỷ lệ
nhiễm sán ở các vùng điều tra nhƣ sau: vùng đồng bằng từ 19,6% đến 61,3%,
vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% đến 39,6%, vùng
núi từ 14,7% đến 44,0%).
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng:
Súc vật nhai lại đã đƣợc thuần hoá nhƣ trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán
lá gan Fasciola. Ngoài ra, súc vật hoang dã cũng nhiễm sán lá này (hƣơu, nai,
hoẵng ). Cũng có những trƣờng hợp thỏ, ngựa, lợn nhiễm Fasciola, ngay cả
ngƣời cũng có thể nhiễm sán.
Ở nƣớc ta, theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [34], Phạm Văn Khuê và
cs (1996) [4], loài súc vật nhiễm sán lá Fasciola nhiều nhất là trâu (79,6%), bò
ít hơn (36%), dê ít nhất (20%). Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều là do đặc tính
ƣa nƣớc của chúng (thích ăn gần chỗ có nƣớc, đằm tắm trong nƣớc và uống
nƣớc ở vũng, ao, kênh rạch), trong khi đặc điểm của bò và dê ít ƣa nƣớc hơn.
Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cƣờng độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ,
các tác giả đều thống nhất rằng, tuổi súc vật càng cao thì tỷ lệ và cƣờng độ
nhiễm càng tăng lên. Một điều dễ nhận thấy là, súc vật tuổi càng tăng lên (thời
Phan Địch Lân (1985) [16], đã tổng hợp và cho biết: loài ốc - vật chủ
trung gian của F. gigantica ở Ấn Độ là L. acuminata, ở châu Phi là L.
natalensis, ở Pakistan là L. permisca, ở Apganixtan là L. luteola, ở Malaixia
là L. auricularia, ở Nhật Bản là L . pervia, ở Indonexia và Philippine là L.
viridis, ở Hungari là G. truncatula
Theo Jorgen Hansen và cs (1994) [44], nhiệt độ thích hợp nhất cho sự
phát triển của ốc là 15 - 26
0
C, khi ở nhiệt độ này chúng đẻ số lƣợng trứng rất lớn.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
Trứng nở trong vòng 2 tuần và sau 1 tháng thành ốc trƣởng thành. Một con ốc
trong vòng 10 - 12 tuần có thể sinh sản ra hàng ngàn con ốc. Ở dƣới 10
0
C, ốc
không phát triển và ngừng hoạt động. Tuy nhiên, ốc có thể chui vào bùn và sống
trong điều kiện bất lợi nhiều tháng.
Phan Địch Lân (1985) [16] đã khảo sát đặc điểm sinh học của ốc - vật
chủ trung gian của F. gigantica ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả cho biết, vật
chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nƣớc ngọt thuộc giống
Lymnae với tên gọi là ốc vành tai (L. swinhoei) và ốc chanh (L. viridis). Loài
L. swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thƣớc 20 mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra nhƣ vành tai. Loài
L. viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, dài 10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4 -
5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn. Năm 2009,Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật đã tìm thấy 3 loài ốc sau:
Ốc L. viridis thƣờng sống ở những nơi nƣớc xâm xấp, đẻ trứng thành ở
7 - 10 trứng, sau 7 ngày nở thành ốc con. ốc L. swinhoei thƣờng sống trôi nổi
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan:
Trứng sán lá gan đƣợc thải theo phân súc vật nhai lại ra môi trƣờng
ngoại cảnh. Trứng sán rất nhậy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực
tiếp của ánh sáng mặt trời. Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bị
chết sau 8 - 9 ngày.
Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng,
Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 - 1,5 ngày. Ở môi trƣờng ẩm ƣớt,
trứng có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng).
Dƣới ánh nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh. Phôi bị chết sau 2 ngày ở
nhiệt độ thấp (-5
0
C → - 15
0
C). Nhiệt độ 10 - 20
0
C, trứng ngừng phát triển.
Nhiệt độ 40 - 50
0
C, phôi chết sau vài phút (Phạm Văn Khuê và cs, 1996) [4].
Khi phát triển đến giai đoạn nang ấu (Adolescaria), sức đề kháng của
chúng tăng lên rõ rệt. Adolescaria có khả năng tồn tại ở nhiệt độ -4
0
C → -6
0
C. Ở
điều kiện nhiệt độ bình thƣờng, những Adolescaria có trong cỏ khô bị ẩm và
trong môi trƣờng nƣớc có thể tồn tại đến trên 5 tháng (Kaufmann, 1996) [45].
Số hóa bởi trung tâm học liệu