TIỂU LUẬN MÔN HỌC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN LẦN ĐẦU RA CÔNG CHÚNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM. - Pdf 24

Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
oOo
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Đề tài
THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN
LẦN ĐẦU RA CÔNG CHÚNG CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM.
GVHD : TS. TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT
THỰC HIỆN : NHÓM 7
LỚP : Đêm 5 K20
TP. HCM, năm 2012
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
CAO HỌC CHÍNH SÁCH THUẾ – ĐÊM 5
DANH SÁCH NHÓM 7
STT Họ tên Chữ ký
1 Nguyễn Minh Luân
2 Nguyễn Thị Hoàng Oanh
3 Lại Thị Phương Nga
4 Nguyễn Minh Hằng
5 Nguyễn Thị Hạnh
6 Nguyễn Thị Thu Hằng
7 Phạm Thị Ngọc Hân
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam

phải kể đến là việc tái cơ cấu doanh nghiệp, chuyển đổi doanh nghiệp sang hình thức cổ phần
hóa bằng việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng. Phát hành chứng khoán lần đầu
ra công chúng (IPO) cũng là một hình thức giúp các doanh nghiệp tiến hành quản bá hình ảnh
của mình ra công chúng rộng rãi và nâng cao hình ảnh doanh nghiệp trên thị trường.
Song song với sự phát triển của thị trường IPO phải kể đến là thị trường chứng khoán
nơi mà các chứng khoán lần đầu phát hành ra công chúng được giao dịch. Thị trường chứng
khoán được thành lập từ 7/2000 đến nay được 11 năm, trãi qua rất nhiều thời kỳ lên xuống
thăng trầm cũng như thịnh vượng của thị trường thì hiện nay thị trường đang ở mức chững lại
để các nhà đầu tư thẩm định và nhìn nhận tốt hơn về các cơ hội đầu tư của mình. Trong bối
cảnh thị trường chứng khoán còn non yếu lại thêm tình hình thị trường đang trầm lắng trong 2
năm gần đây sau khủng hoảng thì khó có thể tạo được bước đột phá lớn cho các doanh nghiệp
IPO ra thị trường.
Trong bài viết này, chúng tôi đi vào tìm hiểu về việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công
chúng cũng như thực trạng của IPO trong thời gian vừa qua để nhìn nhận hướng đi đúng hơn
trong thời gian tới.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU LẦN ĐẦU RA CÔNG CHÚNG
I . Tìm hiểu về IPO:
1. Định nghĩa về cổ phiếu
Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi
là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu
cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu
chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ
phần, và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.
Theo luật chứng khoán 2006, Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
2. Định nghĩa về IPO

bước sau:
- Tổ chức đại hội cổ đông để xin ý kiến chấp thuận của đại hội cổ đông về việc phát hành
chứng khoán ra công chúng, đồng thời thống nhất mục đích huy động vốn; số lượng vốn cần
huy động; chủng loại và số lượng chứng khoán dự định phát hành; cơ cấu vốn phát hành dự
tính phân phối cho các đối tượng: Hội đồng quản trị, cổ động hiện tại, người lao động trong
doanh nghiệp, người bên ngoài doanh nghiệp, người nước ngoài…
- Hội đồng quản trị ra quyết định thành lập ban chuẩn bị cho việc xin phép phát hành chứng
khoán ra công chúng. Chức năng chủ yếu của ban chuẩn bị là chuẩn bị các hồ sơ xin phép phát
hành để nộp lên cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; lựa chọn
tổ chức bảo lãnh phát hành (nếu cần), công ty kiểm toán và tổ chức tư vấn và cùng với các tổ
chức này xây dựng phương án phát hành và dự thảo bản cáo bạch để cung cấp cho các nhà đầu
tư.
- Ban chuẩn bị lựa chọn người đứng đầu tổ hợp bảo lãnh phát hành. Trong phần lớn các
trường hợp phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng, để đảm bảo sự thành công của đợt
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
phát hành thì tổ chức phát hành phải chọn ra được một tổ chức bảo lãnh phát hành. Tổ chức bảo
lãnh phát hành với uy tín và mạng lưới rộng lớn của mình sẽ giúp cho việc phân phối chứng
khoán của tổ chức phát hành diễn ra một cách suôn sẻ. Chính vì vậy, khi tiến hành phát hành
chứng khoán ra công chúng thì việc lựa chọn tổ chức bảo lãnh phát hành có ý nghĩa rất quan
trọng, và mang tính quyết định đến sự thành bại của đợt phát hành.
- Người đứng đầu tổ hợp bảo lãnh phát hành lựa chọn các thành viên khác của tổ hợp.
Trong trường hợp khối lượng chứng khoán phát hành là quá lớn, vượt quá khả năng của một tổ
chức bảo lãnh phát hành thì tổ chức bảo lãnh phát hành chính (tổ chức bảo lãnh đã được lựa
chọn) sẽ đứng ra lựa chọn các thành viên khác để cùng với mình tiến hành bảo lãnh cho toàn bộ
đợt phát hành.
- Ban chuẩn bị cùng với tổ hợp bảo lãnh phát hành, công ty kiểm toán và tổ chức tư vấn tiến
hành định giá chứng khoán phát hành. Định giá chứng khoán là khâu khó khăn nhất và phức tạp
nhất khi tiến hành phát hành chứng khoán ra công chúng. Nếu định giá chứng khoán quá cao

1. Những điểm thuận lợi:
- Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ tạo ra hình ảnh đẹp và sự nổi tiếng của công ty,
nhờ vậy công ty sẽ dễ dàng hơn và tốn ít chi phí hơn trong việc huy động vốn qua phát hành
trái phiếu, cổ phiếu ở những lần sau. Thêm vào đó, khách hàng và nhà cung ứng của công ty
thường cũng sẽ trở thành cổ đông của công ty và do vậy công ty sẽ rất có lợi trong việc mua
nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ làm tăng giá trị tài sản ròng, giúp công ty có
được nguồn vốn lớn và có thể vay vốn của ngân hàng với lãi suất ưu đãi hơn cũng như các điều
khoản về tài sản cầm cố sẽ ít phiền hà hơn. Ví dụ như các cổ phiếu của các công ty đại chúng
dễ dàng được chấp nhận là tài sản cầm cố cho các khoản vay ngân hàng. Ngoài ra, việc phát
hành chứng khoán ra công chúng cũng giúp công ty trở thành một ứng cử viên hấp dẫn hơn đối
với các công ty nước ngoài với tư cách làm đối tác liên doanh.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng giúp công ty có thể thu hút và duy trì đội ngũ nhân
viên giỏi bởi vì khi chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty bao giờ cũng dành một tỷ lệ
chứng khoán nhất định để bán cho nhân viên của mình. Với quyền mua cổ phiếu, nhân viên của
công ty sẽ trở thành cổ đông, và được hưởng lãi trên vốn thay vì thu nhập thông thường. Điều
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
này đã làm cho nhân viên của công ty làm việc có hiệu quả hơn và coi sự thành bại của công ty
thực sự là thành bại của mình.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty có cơ hội tốt để xây dựng một hệ thống
quản lý chuyên nghiệp cũng như xây dựng được một chiến lược phát triển rõ ràng. Công ty
cũng dễ dàng hơn trong việc tìm người thay thế, nhờ đó mà tạo ra được tính liên tục trong quản
lý. Bên cạnh đó, sự hiện diện của các uỷ viên quản trị không trực tiếp tham gia điều hành công
ty cũng giúp tăng cường kiểm tra và cân đối trong quản lý và điều hành công ty.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng làm tăng chất lượng và độ chính xác của các báo
cáo của công ty bởi vì các báo cáo của công ty phải được lập theo các tiêu chuẩn chung do cơ
quan quản lý qui định. Chính điều này làm cho việc đánh giá và so sánh kết quả hoạt động của
công ty được thực hiện dễ dàng và chính xác hơn.

Trong giai đoạn đầu từ năm 1992 đến năm 1996, toàn bộ các doanh
nghiệp trực tiếp đứng ra chào bán cổ phần. Việc phân phối cổ phần theo cơ
cấu sở hữu đã được xác định trước. Sau khi trừ đi tỷ lệ nắm giữ của nhà
nước (nếu là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa), phần còn lại được ưu
tiên phân phối cho nội bộ doanh nghiệp và sau cùng mới là bán ra bên
ngoài. Nhà đầu tư bên ngoài trực tiếp đăng ký mua cổ phần tại doanh
nghiệp với mức giá đúng với giá phát hành.
Từ năm 1996 trở đi, việc chào bán cổ phần IPO được thực hiện dưới 2
hình thức là bán công khai tại doanh nghiệp IPO và bán qua hệ thống các
ngân hàng thương mại và các công ty tài chính chỉ định. Theo hình thức
này trước khi chào bán cổ phần doanh nghiệp phát hành phải thông báo
việc bán cổ phần trên phương tiện thông tin đại chúng ít nhất ba lần, đồng
thời niêm yết tại trụ sở công ty (Các thông tin như tổng giá trị doanh
nghiệp, khối lượng và tỷ lệ vốn cổ phần mà doanh nghiệp bán ra, đối tượng
và tỷ lệ được mua cổ phần, thời gian bán,….)
2. Giai đoạn 2000 – 2008:
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
Tháng 7/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động,
việc IPO được nhà nước mở rộng thêm nhiều hình thức phát hành khác
nhau như cho phép doanh nghiệp phát hành IPO bán cổ phần qua trung
tâm hoặc sở giao dịch chứng khoán, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát
hành cổ phiếu lần đầu đến công chúng một cách rộng rãi hơn. Tuy nhiên,
do mới thành lập, thị trường chứng khoán vẫn còn non yếu chưa thu hút
được các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp IPO nên thực tế, không có
doanh nghiệp nào thực hiện IPO thông qua thị trường chứng khoán cả. Hầu
hết các doanh nghiệp vẫn tự mình thực hiện việc chào bán cổ phiếu phát
hành lần đầu trực tiếp tại công ty, một số ít các doanh nghiệp IPO qua các
định chế tài chính trung gian, một vài doanh nghiệp khác phân phối cổ

Việc phát hành cổ phiếu của Đạm Phú Mỹ hay Bảo Việt là những phát súng hiệu mở màn
cho đợt “trình diễn” IPO của các doanh nghiệp “ông lớn”, tuy kết quả đấu giá cổ phiếu không
được như các doanh nghiệp này mong muốn nhưng theo phân tích của chính các doanh nghiêp
đang “nằm trong chăn” (có kế hoạch phát hành IPO đợt này) thì đó không phải là dấu hiệu bi
quan vì đó chỉ là hiệu ứng tâm lý băn khoăn nhất thời của nhà đầu tư trong tình trạng thị trường
trầm lắng chứ không phải do thị trường không đủ năng lực tài chính như một số người lo ngại.
“Tất cả các công ty lớn khi IPO đều phải qua tư vấn định giá với chi phí khá cao, có thể lên đến
hàng triệu USD. Nhà tư vấn có trách nhiệm đưa ra một mức giá cổ phiếu có thể mua bán được.
Thường thì nhà tư vấn đưa ra mức giá chỉ chênh lệch khoảng 20-30% so với giá thực. Trên thế
giới việc chênh lệch hơn tỷ lệ này rất hiếm. Do đó, sớm muộn gì thì các cổ phiếu này sẽ trở về
với giá trị đích thực của nó.”
+ Nhiều công ty đã phải tổ chức đấu giá lần 2 do nhà đầu tư đấu giá trúng nhưng bỏ cọc
không đóng tiền mua. Cụ thể như 4,8 triệu cổ phần của Nhiệt điện Phú Mỹ chưa được bán hết
trong tổng số hơn 12 triệu cổ phần đưa ra IPO trong đợt 1. Số cổ phần bị bỏ lại của Thủy điện
Thác Mơ cũng chiếm 38%
Cuối năm 2007 với sự thành công mong đợi của IPO cổ phần Vietcombank 12/2007 đã
mang lại khới sắc cho thị trường chứng khoán. Giá đấu thầu thành công của Vietcombank
trung bình lên tới 108.000 đồng/cổ phiếu.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
Tổng kết năm 2007, số doanh nghiệp được cổ phần hóa là 116 doanh
nghiệp, trong khi kế hoạch đề ra là 600 doanh nghiệp.
3. Giai đoạn 2008 – 2011:
Năm 2008 có thể đánh giá là một năm của IPO với rất nhiều kế hoạch IPO lớn đã được
vạch sắn từ năm 2007 như: tổng công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Hà Nội-Habeco, tổng công
ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn-Sabeco. Tiếp theo Habeco, Sabeco là hàng loạt các công
ty lớn khác cũng dự tính tiến hành IPO năm 2008 như Mobifone, Vinafone, đặc biệt là trong
lĩnh vực ngân hàng như Incombank, Agribank, BIDV
Tuy nhiên không như dự tín khi những diễn biến bất ngờ từ cuộc khủng hoảng tài chính thế

Bước sang năm 2009, thị trường chứng khoán khởi sắc nhưng các hoạt động IPO vẫn
trong cảnh chợ chiều. Cả năm 2009 chỉ có hơn 20 doanh nghiệp thực hiện IPO thông qua hai
sở giao dịch chứng khoán. Hoạt động IPO những tháng đầu năm 2009 còn thua cả năm 2008
là năm thị trường chứng khoán gặp khó khăn. Gần hết quý III nhưng HOSE chỉ tổ chức IPO
cho sáu doanh nghiệp, thấp hơn nhiều so với con số mười sáu doanh nghiệp thực hiện IPO
năm trước. Số lượng các doanh nghiệp thực hiện IPO trên HNX có cao hơn đôi chút với mười
một doanh nghiệp nhưng cũng chỉ bằng một phần ba so với cùng kì năm trước. Trừ một vài
doanh nghiệp như công ty gang thép Thái Nguyên, công ty supe và hóa chất Lâm Thao đã bán
hết cổ phần, các doanh nghiệp còn lại đều chịu cảnh “mang đến lại mang về”. Như công ty
giao nhận kho vận tải ngoại thương TP.HCM tổ chức đấu giá đến lần thứ hai cũng chỉ bán
được chưa đến một triệu cổ phiếu trong tổng số mười hai phẩy bẩy triệu cổ phiếu đưa ra đấu
giá. Có doanh nghiệp phải hủy đấu giá vì có ít, thậm chí không có nhà đầu tư tham gia. Theo
một số chuyên gia, các đợt IPO không thành công hoặc giá bán cổ phần quá thấp, các doanh
nghiệp khác không triển khai cổ phần hóa vào thời điểm này càng làm cho hàng hóa đưa ra
đấu giá không đa dạng, dẫn đến không hấp dẫn nhà đầu tư. Thực tế các đợt IPO trong giai
đoạn này thiếu vắng các doanh nghiệp lớn, các thương hiệu mạnh để thu hút nhà đầu tư.
Năm 2010 là năm triển vọng nền kinh tế hồi phục. Theo số liệu thống kê của vụ quản
lý phát hành, UBCKNN tổng giá trị chứng khoán phát hành ra công chúng sáu tháng đầu năm
2010 đã gần bằng giá trị phát hành cả năm 2009. Có được điều này là do năm 2009 có nhiều
doanh nghiệp có kế hoạch IPO nhưng đã hoãn lại đến năm 2010 với hy vọng nền kinh tế hồi
phục có thể giúp cho hoạt động IPO của doanh nghiệp đạt kết quả cao hơn. Tuy nhiên, việc
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
tăng cung cổ phiếu bất ngờ trong hai quý đầu năm 2010 và tiếp tục sang quý III, kết hợp thêm
một số yếu tố vĩ mô bất lợi khiến thị trường chứng khoán lình xình trong suốt tám tháng đầu
năm và bất ngờ sụt giảm mạnh trong những tháng cuối năm cũng làm cho các thương vụ IPO
tiếp theo của các doanh nghiệp trong năm không được thành công. Các cuộc đấu giá cổ phần ở
quý IV không thu hút được nhà đầu tư do giá khá cao. Từ đầu tháng mười đến nay đã có hơn
mười doanh nghiệp đăng ký đấu giá cổ phiếu trên HOSE nhưng rất ít doanh nghiệp thu hút

chức và 16.069 nhà đầu tư cá nhân). Mức giá đấu thành công cao nhất của BIDV là 35.000
đồng/cổ phiếu, giá đấu thành công thấp nhất bằng giá khởi điểm là 18.500 đồng/cổ phiếu và
giá đấu thành công bình quân là 18.583 đồng/cổ phiếu. Tổng giá trị cổ phần bán được là
1.575,02 tỷ đồng. Trong đó, tỷ lệ đặt mua ở mức giá khởi điểm 18.500 đồng/cổ phiếu là hơn
71%, tỷ lệ đặt mua ở bước giá thứ 2 (18.600 đồng/cổ phiếu) là hơn 20% và 3,25% số cổ phần
được đặt mua ở mức giá 18.800 đồng/cổ phiếu.
II. Nguyên nhân của việc IPO chưa được triển khai mạnh mẽ:
1. Thị trường chứng khoán Việt Nam thành lập năm 2000 đến nay được 11 năm, so với
các thị trường chứng khoán khác trên thế giới thì ở Việt Nam TTCK còn khá non yếu,
chưa hội đủ những điều kiện về môi trường, cơ sở hạ tầng, khung pháp lý để tạo điều
kiện cơ sở cho các loại cổ phần có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Thêm vào đó, ảnh
hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 vẫn còn những dấu ẩn rõ nét trên thị
trường khiến cho thị trường không có khả năng vực dạy trong giai đoạn hiện nay nên
các doanh nghiệp không quá mặn mà với việt IPO bởi vì giá phát hành sẽ ảnh hưởng
rất lớn từ sự suy giảm trên thị trường chứng khoán cũng như sự suy giảm của nền kinh
tế, thêm vào đó là việc hiện nay cũng có khá nhiều loại chứng khoán đang niêm yết
trên thị trường chứng khoán với giá thấp có thể phần nào làm nhà đầu tư quan tâm hơn
là phân tích định giá những chứng khoán mới phát hành lần đầu chưa rõ thông tin về
doanh nghiệp cũng như tình hình kinh doanh tăng trường. Đó cũng là một lý do không
thể thu hút phần lớn các nhà đầu tư trên thị trường tham gia vào các đợt IPO
2. Về điều hành chính sách nhà nước: Vấn đề cổ phần hóa đặt biệt là cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước được các Bộ ngành có liên quan thai nghén rất lâu và đã đưa ra bản
tường trình kế hoạch và lộ trình thực hiện trong nhiều năm. Tuy nhiên, các Bộ ngành
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
đã không lường trước được tình hình vực dạy của nền kinh tế trong nước sau khủng
hoảng chậm hơn dự kiến nên việc thực hiện theo tiến trình đã đặt ra cực kỳ khó khăn.
Trước tình hình này, các Bộ ngành có liên quan không muốn trì hoản kế hoạch đề ra
nên luôn khuyến khích và yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước tiếng hành IPO theo kế

trong quá trình IPO và những hoạt động này sẽ làm phát sinh thêm nhiều chi phí.
+ Một khi đã niên yết trên thị trường chứng khoán, các công ty buộc phải tuân thủ
nghiêm ngặt các quy định, chính sách mới của chính phủ. Các thay đổi về chính sách
khiến nhiều công ty mở rộng thêm bộ phận quan hệ chính phủ, thuê tư vấn luật. Số
lượng các bảo cáo và yêu cầu kiểm toán ngày càng nhiều sẽ làm phát sinh thêm chi
phí.
+ Đảm bảo tính minh bạch thông tin công bố và phải công bố đầy đủ thông tin về tình
hình kinh doanh liên quan cho các cổ đông và các nhà đầu tư. Điều này không phải
công ty nào cũng mong muốn đưa những thông tin bất lợi ra thị trường.
+ Áp lực duy trì tốc độ tăng trưởng: Niên yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán sẽ
thay đổi cách làm kinh doanh, từ tái đầu tư lợi nhuận cho tương laic ho đến việc tối đa
hóa tăng trưởng mỗi quý. Duy trì tốc độ phát triển đáp ứng mong đợi của các đầu tư
thực sự là một áp lực lớn cho các doanh nghiệp
+ Mất quyền kiểm soát: Khi IPO công ty sẽ mất dần quyền kiểm soát hoạt động của
công ty. Một quyết định đều phải được sự đồng ý của số đông mới được thực thi.
7. Yếu tố đầu vào: Sản phẩm IPO đòi hỏi phải có chất lượng đề thu hút đầu tư, chính vì
thế mà không phải doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường cũng thỏa điều kiện để
có thể IPO và niêm yết trên thị trường chứng khoán.
8. Tình hình kinh tế: Tình hình kinh tế, đặc biệt là tình hình TTCK hiện nay chưa thực sự
thuận lợi đển tiến hành IPO vì thị trường vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ khủng
hoảng kinh tế và tình hình phát triển của đất nước trong tương lai.
III. Tác động của việc tiến hành IPO của doanh nghiệp VN đến thị trường vốn:
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
1.Thuận lợi:
- Nhờ IPO mà nhà nước thu được lượng vốn đầu tư lớn, đặc biệt cả của nước ngoài. Tính
đến 11/2006, số tiền mà các quỹ đầu tư nước ngoài bỏ vào Việt Nam đạt 1,8 tỉ đô la Mĩ.
- Những cuộc chào hàng lớn, có giá trị như Vietcombank, BIDV, MHB, MobiFone thì tự
bản thân nó sẽ giúp kích cầu trên thị trường, đặc biệt là giúp thu hút những nhà đầu tư nước

CHƯƠNG III
GIẢI PHÁP CHO TÌNH HÌNH IPO Ở VIỆT NAM
I . Mục tiêu , định hướng chiến lược cho tình hình IPO Việt Nam hiện nay:
1. Mục tiêu:
- Góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo ra doanh
nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo người lao động, tạo động lực mạnh mẽ và cơ
chế quản lí năng động của doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và
của doanh nghiệp.
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội trong nước và
ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp.
- Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của các cổ đông, tăng cường sự giám
sát của các nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh
nghiệp, nhà đầu tư và người lao động
2. Định hướng:
Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác CPH, tạo ra hàng hoá có chất lượng cao cho
thị trường chứng khoán, góp phần vực dậy thị trường chứng khoán đang ảm đạm, củng cố niềm
tin của NĐT trong và ngoài nước.
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
Đẩy mạnh CPH các DN thuộc lĩnh vực viễn thông, hàng không, khai khoáng, tài chính
ngân hàng thời gian tới. Bộ Tài chính cũng sẽ hướng dẫn cụ thể: chỉ CPH các DN còn vốn nhà
nước sau khi xác định giá trị DN và xử lý tài chính, nhằm nâng cao chất lượng hàng hoá cho
TTCK. Nhà nước không cấp thêm vốn cho DN làm ăn thua lỗ, mất hết vốn để CPH. Các DN
này phải xây dựng phương án tái cơ cấu thông qua Công ty mua bán nợ Việt Nam (DATC).
Trường hợp phương án này không hiệu quả thì chuyển sang hình thức sắp xếp khác, trong đó
có giải thể, phá sản. Khi thực hiện CPH các DN, nhất là các DN trong lĩnh vực viễn thông,
hàng không, khai khoáng…nhà nước sẽ tính toán để thu hút NĐT nước ngoài tham gia với tỷ lệ
hợp lý. Với định hướng như vậy, nhiều khả năng từ năm 2012, tiến trình CPH sẽ “nóng” với sự
xuất hiện của một số mặt hàng chất lượng cao cho TTCK như mong đợi của nhiều NĐT.

cứu công bố mới đây của Công ty chứng khoán Thăng Long cho thấy có tới hơn 80% Nhà đầu
tư thiếu kiến thức về kinh tế - tài chính doanh nghiệp. Chính sự thiếu chuyên nghiệp này dẫn tới
tình trạng Nhà đầu tư bỏ giá bầy đàn rồi bị trả giá hớ nên bỏ cọc khiến nhiều cuộc IPO ế ẩm
hàng triệu cổ phiếu.
3. Đối với Nhà nước:
Nhà nước cần xây dựng một hành lang pháp lý chặt chẽ, ban hành quy chế lựa chọn tổ chức
định giá doanh nghiệp, quy chế quản lý giám sát hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh
nghiệp cũng như các tiêu chuẩn đánh giá năng lực của tổ chức định giá, các tổ chức bảo lãnh
phát hành.
Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về ngành và các doanh nghiệp, có quy định chặt
chẽ về việc công bố thông tin của các doanh nghiệp và nên khuyến khích, bắt buộc một số
ngành, lĩnh vực có kiểm toán hoạt động của doanh nghiệp để tăng tính chính xác của các số liệu
công bố.
Về phía UBCK, cần quan tâm đến các kênh thông tin, đảm bảo sự chính xác, công khai và
minh bạch về thị trường chứng khoán nhằm tạo được môi trường đầu tư thực sự hiệu quả và
công bằng, tránh những nguồn thông tin làm xáo trộn, gây hoang mang cho các nhà đầu tư.
Thông qua các cơ quan quản lý thị trường, Nhà nước định hướng xây dựng một TTCK phát
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: Nhóm 6 – TCDN Điêm 5
Đề tài: Thực trạng phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng các doanh nghiệp Việt Nam
triển lành mạnh và bền vững, hỗ trợ cho quá trình IPO của các doanh nghiệp cổ phần. Khi
TTCK phát triển thì hệ thống các dịch vụ đi kèm cũng được đảm bảo tốt hơn như: dịch vụ uỷ
thác đấu giá, dịch vụ quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tư… đóng vai trò là làm xương sống
của TTCK.
Bên cạnh đó, thủ tục xét điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng cũng nên giảm
thiểu những thủ tục rườm rà, hoặc rút ngắn thời gian cấp giấy phép phát hành và việc phát hành
hoàn tất.
Ngoài ra, để ngăn chặn việc làm giá của các nhà đầu cơ, thì cơ quan quản lý thị trường có
thể loại bỏ những lệnh có mức giá cao không tưởng bằng cách đưa ra những ràng buộc trong
mức giá trần của giá cổ phiếu trong đợt đấu giá. Động thái này chẳng những loại bỏ được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status