Header Page 1 of 161.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 2
NỘI DUNG ............................................................................................................ 3
I. LÝ THUYẾT ................................................................................................. 3
1. Khái niệm Đầu tư quốc tế - Đầu tư tư nhân quốc tế: ........................... 3
2. Đặc điểm của Đầu tư tư nhân quốc tế: ................................................... 4
3. Phân loại đầu tư quốc tế : ........................................................................ 4
3.1. Đầu tư trực tiếp (FDI) ....................................................................... 4
3.2. Đầu tư gián tiếp (FPI/FII)................................................................. 5
II. THỰC TRẠNG............................................................................................ 5
1. Tình hình đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam: ..... 5
1.1. Diễn biến chung: ................................................................................ 5
1.2. Phân tích một số doanh nghiệp nổi bật: .......................................... 8
2. Cơ hội, thách thức và các giải pháp: .................................................... 10
2.1. Triển vọng: ....................................................................................... 10
2.2. Khó khăn: ......................................................................................... 13
2.3. Giải pháp: ......................................................................................... 15
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 16
1
Footer Page 1 of 161.
Header Page 2 of 161.
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, việc dịch chuyển vốn giữa các quốc gia, hay nói cách
khác là đầu tư ra nước ngoài, đã trở thành một xu hướng tất yếu và quan trọng đối với
Đầu tư quốc tế là một tất yếu khách quan do sự khác nhau về nhu cầu và khả
năng tích lũy vốn của các quốc gia, do việc tím nơi kinh doanh có lợi của các doanh
nghiệp, do viêc gặp gỡ lợi ích giữa các bên, do việc tránh các hàng rào thuế quan và
phi thuế quan cũng như do các nguyên nhân chính trị và kinh tế xã hội khác.
Đầu tư quốc tế đưa đến những tác động tích cực khác nhau đối với bên đi đầu tư
và bên nhận đầu tư, đồng thời có thể đưa lại cả tác động tiêu cực. Điều đó phụ thuộc
nhiều vào những yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trước hết là phụ thuộc vào
chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và trình độ tổ chức, quản lý của cán bộ.
- Đầu tư tư nhân quốc tế là quá trình kinh tế trong đó các nhà đầu tư nước ngoài
(tổ chức hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước tiếp nhận
đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ nhằm thu
lợi nhuận hoặc để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Bản chất của đầu tư
nước ngoài là xuất khẩu tư bản, hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Xuất khẩu
tư bản là quá trình thực hiện giá trị thặng dư ở nước ngoài, còn xuất khẩu hàng hoá là
quá trình thực hiện giá trị thặng dư ở trong nước.
Xuất khẩu hàng hoá và xuất khẩu tư bản luôn luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau.
Các nhà tư bản thực hiện việc xuất khẩu hàng hoá để thâm nhập tìm hiểu thị trường,
luật lệ, quyết định đầu tư tư bản (xuất khẩu tư bản). Đồng thời với xuất khẩu tư bản là
việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư, liên doanh để nhằm xuất khẩu máy móc thiết
bị, vật tư sang nước tiếp nhận đầu tư và khai thác nhân lực, lao động ở nước chủ nhà.
Cùng với thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư tư nhân quốc tế là dòng chính trong
trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu.
3
Footer Page 3 of 161.
Header Page 4 of 161.
2. Đặc điểm của Đầu tư tư nhân quốc tế:
- Mang đặc điểm của đầu tư nói chung :
đến 100%.
3.2. Đầu tư gián tiếp (FPI/FII)
Là hình thức đầu tư vốn quốc tế quan trọng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu
tư bằng hình thức mua cổ phần của các công ty nước sở tại (ở mức khống chế nhất
định) để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn
đầu tư. Đặc điểm của loại đầu tư này là phạm vi đầu tư có giới hạn : Chủ đầu tư chỉ
quyết định mua cổ phần của các doanh nghiệp có lãi và có triển vọng trong tương lai.
Số lượng cổ phần bị khống chế ở mức độ nhất định để không có cổ phần nào chi phối
doanh nghiệp (từ 10 - 25% vốn pháp định). Đồng thời, chủ đầu tư không tham gia điều
hành, nước nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong sản xuất và kinh doanh.
Chủ đầu tư thu lợi nhuận qua lãi suất cổ phiếu không cố định phụ thuộc kết quả kinh
doanh. Mặc dù đầu tư gián tiếp không có cơ hội như FDI nhưng có cơ hội phân tích rủi
ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu.
* Đặc điểm chủ yếu :
- Vốn đầu tư có thể là ngắn hạn hoặc dài hạn, độ biến động cao hơn FDI do nhà
đầu tư có thể thêm hoặc rút vốn nhanh chóng hơn.
- Nhà đầu tư không có quyền quyết định, tham gia điều hành công ty.
II. THỰC TRẠNG
1. Tình hình đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam:
1.1. Diễn biến chung:
Kể từ khi chính thức được khởi động vào năm 1989, hoạt động đầu tư ra nước
ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam bước đầu đã đạt được nhiều kết quả khả quan,
khẳng định sự nỗ lực và bản lĩnh của doanh nghiệp Việt, và mở ra một cánh cửa với
nhiều hy vọng trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Cụ thể, tính đến hết năm 2012, có
tổng số 719 dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các DN Việt Nam được cấp phép
với tổng vốn đầu tư 29.23 tỷ USD, trong đó vốn của nhà đầu tư Việt Nam đạt 12.87 tỷ
5
Footer Page 5 of 161.
đầu tư VN (USD)
Vốn điều lệ của nhà
đầu tư VN (USD)
1
Lào
224
3,672,544,894
3,461,020,877
2
Campuchia
121
2,575,699,750
2,584,701,450
3
Venezuela
2
412,923,844
412,923,844
7
Mozambique
1
345,653,000
345,653,000
8
Hoa Kỳ
95
299,419,616
297,193,616
9
Angiêri
1
125,460,000
125,460,000
6
Footer Page 6 of 161.
Header Page 7 of 161.
13
Madagascar
1
117,360,000
117,360,000
14
BritishVirginIslands
5
116,559,952
116,559,952
18
Haiti
2
59,892,455
59,892,455
19
Indonesia
7
50,066,500
50,066,500
20
Uzbekistan
4
49,650,000
49,650,000
5,220,924,546
4,130,737,842
2
SX,pp điện,khí,nước,đ.hòa
9
1,873,869,133
1,681,222,938
3
Nông,lâm nghiệp;thủy sản
77
1,805,543,761
1,804,573,143
4
Nghệ thuật và giải trí
5
538,121,900
483,371,900
8
KD bat động sản
29
218,592,427
218,492,427
9
Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa
152
187,502,630
185,021,630
10
Vận tải kho bãi
17
38,711,883
38,711,883
14
Xây dựng
28
32,007,379
30,535,379
7
Footer Page 7 of 161.
Header Page 8 of 161.
15
Hành chính và dvụ hỗ trợ
11
10,295,000
10,070,000
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
1.2. Phân tích một số doanh nghiệp nổi bật:
Những con số trên cho thấy, trong những năm gần đây, làn sóng đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài của các doanh nghiệp tăng trưởng mạnh mẽ, nhằm khẳng định năng lực
bản thân và qua hoạt động của công ty đặt nền móng cho giấc mơ làm chủ trên sân
chơi quốc tế của thương hiệu Việt Nam.Trong đó, nổi bật nhất là những hoạt động của
tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL), một trong những doanh nghiệp tiên phong với
quy mô đầu tư lớn và giành được nhiều thành công nhất tính đến nay, và chủ yếu là
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp với các cây trồng như mía đường, cao su và dầu cọ
bằng việc xây dựng nhiều nhà máy khai thác và chế biến tại Lào và Campuchia, mới
nhất là Cụm công nghiệp mía đường và Nhà máy chế biến mủ cao su Hoàng Anh tại
Attapeu, Lào. Đồng thời, HAGL cũng đầu tư nhiều dự án bất động sản tại nước ngoài.
Mới đây nhất là đại dự án tổ hợp trung tâm thương mại ở Myanmar được khởi công từ
tháng 6/2013 với tổng giá trị đầu tư lên đến 440 triệu USD, ngay từ khi quốc gia này
chưa được chú ý nhiều. Ngoài ra, tập đoàn cũng chú trọng đầu tư vào các ngành công
nghiệp năng lượng và khai khoáng.
Cũng tại hai quốc gia láng giềng lào Lào và Campuchia, Viettel đã có tới sau
năm kinh nghiệm hoạt động kinh doanh tại đây với lần lượt hai thương hiệu Unitel và
Metfone, trở thành thương hiệu viễn thông có hạ tầng mạng lưới, thuê bao và doanh
thu lớn nhất. Tuy nhiên, khác với HAGL, không chỉ thu mình trong thị trường khu vực
với Lào, Campuchia và Đông Timor, Viettel còn vươn tầm kiểm soát của mình ra khỏi
châu lục, hướng tới cả châu Mỹ (Haiti, Peru) và châu Phi (Mozambique, Cameroon, và
mới đây nhất, Viettel đã được cấp phép đầu tư tại Burundi). Vẫn chưa muốn dừng lại ở
đó, ông lớn ngành viễn thông vẫn đang tìm cách để thâm nhập thị trường Myanmar và
Tanzania.
8
Footer Page 8 of 161.
9
Footer Page 9 of 161.
Header Page 10 of 161.
2. Triển vọng, thách thức và các giải pháp:
2.1. Triển vọng:
- Mở rộng thị trường, tăng doanh thu:Đối với xu hướng phát triển và tăng trưởng
với tốc độ nhanh như các tập đoàn lớn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, thì một
thị trường với hơn 90 triệu dân có lẽ đã trở nên quá nhỏ bé để khai thác. Khi ấy, động
thái chuyển dòng vốn ra khỏi lãnh thổ quốc gia sẽ tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp
để tấn công vào những thị trường khác với quy mô rộng lớn và tiềm năng cao hơn, qua
đó nâng cao doanh thu. Trong thực tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được
điều này.
Theo số liệu từ Viettel cho biết, trong năm 2013, tổng doanh thu từ các đơn vị
đầu tư ra nước ngoài đã cán mức 1 tỷ USD, tăng trưởng hơn 30% so với năm 2012,
chiếm hơn 12% trong tổng doanh thu của toàn bộ doanh nghiệp (gần 163 nghìn tỷ
đồng); lợi nhuận sau thuế thu từ các hoạt động đầu tư nước ngoài đạt hơn 3 nghìn tỷ
đồng, chiếm hơn 11% tổng lợi nhuận cả năm (gần 26.5 nghìn tỷ đồng).
Về phía FPT, tổng doanh thu từ 16 thị trường nước ngoài năm 2013 đạt 122 triệu
USD, tăng trưởng tới 35.5% so với năm 2012. Có thể thấy doanh thu và lợi nhuận thu
được từ các thị trường nước ngoài của FPT đang trong đà tăng trưởng cao, với tỷ lệ
tăng trưởng lớn, luôn duy trì được mức tăng trưởng trung bình 30% trong vòng 3 năm
trở lại đây, trong đó tốc độ tăng trưởng của riêng 2 thị trường nòng cốt của doanh
nghiệp là Mỹ và Nhật Bản (theo số liệu năm 2012) lần lượt là 65% và 44%.
Có thể sẽ có nhiều ý kiến cho rằng để tăng doanh thu nhờ việc khai thác thị
trường nước ngoài thì hoạt động xuất khẩu cũng hoàn thành tốt vai trò đó mà không
đòi hỏi đầu tư quá nhiều vốn hay mất quá nhiều thời gian. Tuy nhiên, khi nhìn vào
chiều ngược lại, việc xây dựng các kênh phân phối trên thị trường nước ngoài cũng có
năng chế biến 210 triệu lit sữa nguyên liệu hàng năm, tương đương với lượng sữa của
55000 con bò và được thiết kế để có thể mở rộng trong tương lai.
- Thúc đẩy mối quan hệ với nước nhận đầu tư, tạo vị thế cho thương hiệu Việt
Nam trên thị trường quốc tế:
Cũng giống như các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào môi trường sản
xuất Việt Nam đã tạo điều kiện để thúc đẩy sự tăng trưởng trong tổng sản phẩm quốc
nội, giải quyết vấn đề việc làm cho người dân bản địa, cung cấp những tiến bộ của nền
khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cải thiện môi trường đầu tư vĩ mô và nâng cao chất lượng
cuộc sống con người,... thì khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt
Nam cũng đang làm những điều tương tự, đặc biệt là đối với những quốc gia, khu vực
còn nghèo nàn, lạc hậu. Và chính những tác động tích cực đó sẽ giúp gắn chặt hơn mối
quan hệ và củng cố niềm tin giữa nước nhận đầu tư với các doanh nghiệp Việt Nam,
đồng thời góp phần đưa thương hiệu Việt lên vị thế cao hơn, đáng tin cậy hơn trong
cộng đồng quốc tế, tạo bước đệm cho các thương vụ trong tương lai.
11
Footer Page 11 of 161.
Header Page 12 of 161.
Sau nửa năm kể từ khi được cấp giấy phép đầu tư vào Mozambique và đi vào
hoạt động từ tháng 5/2012, cuối năm 2012, thương hiệu Movitel của Viettel đã được
trao giải "Doanh nghiệp có giải pháp tốt nhất giúp cải thiện viễn thông cho khu vực
nông thôn châu Phi". Chỉ sau một năm hoạt động, vào tháng 5/2013, doanh thu của
Movitel đạt 113.5 triệu USD với 2 triệu thuê bao. Hiện tổng số lao động làm việc tại
Movitel lên tới 1726 người, trong đó hơn 1400 người là dân Mozambique, qua đó
không những nâng cao chất lượng viễn thông mà còn giải quyết vấn đề việc làm cho
nguồn lao động tại đất nước được coi là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới
này và đào tạo họ trở thành chuyên gia về viễn thông. Bên cạnh đó, Phó Tổng giám
đốc Viettel, ông Lê Đăng Dũng, cho biết: Trong qua trình đầu tư, Viettel luôn chú
được thể hiện ở 2 khía cạnh: thứ nhất là đòi hỏi đầu tư một lượng vốn lớn và thứ hai là
yếu tố môi trường đầu tư và kinh doanh nước ngoài.
Việc xây dựng các nhà máy sản xuất, các kênh phân phối hoặc mua lại cổ phần
của các công ty nước ngoài đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn, và không phải doanh
nghiệp nào cũng có thể đáp ứng được yêu cầu này, đặc biệt là đối với những doanh
nghiệp Việt Nam còn non trẻ. Còn trường hợp doanh nghiệp hoàn toàn có đủ tiềm lực
tài chính để đầu tư ra nước ngoài, thì việc phải chi ra số tiền lớn như thế cũng đem lại
rủi ro về thời gian hoàn vốn và khả năng hoàn vốn của dự án. Với lượng vốn đọng lớn
thì các doanh nghiệp không thể hy vọng vào một khoảng thời gian hoàn vốn nhanh, mà
thông thường phải sau vài năm hoạt động mới có thể thu được lợi nhuận. Qua đó hình
thành sự rủi ro về yếu tố thời gian, do doanh nghiệp không thể luôn dự báo chính xác
quá trình hoạt động của dự án trong tương lai, biến khả năng hoàn vốn trở thành một
dấu hỏi. Một ví dụ thực tế nổi bật là sự thất bại của PVN tại Venezuela do sự bất ổn
của nền kinh tế nơi đây. Ban đầu, đây được cho là một dự án đầy tiềm năng với dự
kiến thu về 4 triệu tấn dầu/năm và thời gian hoàn vốn là 7 năm. Nhưng chỉ sau 3 năm
ký kết hợp đồng với dự án lên tới 8 tỷ USD, vào năm 2013, Venezuela có mức lạm
phát lên tới 57%, tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen chênh lệch nhau tới 10 lần. Các
nhà lãnh đạo của PVN đã không thể dự báo trước sự biến động này, và tất nhiên, với
tình hình kinh tế ấy thì PVN không thể tiếp tục chuyển tiền vào đây thuê các đơn vị
dịch vụ của Venezuela triển khai dự án nữa.
Yếu tố rủi ro thứ hai thể hiện khi các doanh nghiệp không tìm hiểu nghiên cứu kỹ
đặc điểm của các yếu tố môi trường đầu tư và kinh doanh và trở nên lạc lõng tại nước
ngoài. Những yếu tố đó mang tính vĩ mô như nền kinh tế, thể chế chính trị - pháp luật,
điều kiện tự nhiên - môi trường,… Ví dụ như tập đoàn Vinacomin từng có 5 dự án đầu
tư khai thác khoáng sản (cụ thể là than) tại Lào và Campuchia, nhưng sau khi nghiên
cứu khảo sát lại thì họ đã buộc phải kết thúc một dự án tại Lào và mất trắng 1.56 triệu
USD ở đây, đồng thời đặt dấu hỏi với 3 dự án khác, tất cả đều do khả năng phát triển
13
Footer Page 13 of 161.
đầu tư trực tiếp mà chưa công nhận các hình thức đầu tư khác, như mua cổ phần tại
các công ty nước ngoài, hay mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp nước ngoài,
trong khi đối với các doanh nghiệp Việt Nam nếu muốn được sở hữu những thương
hiệu nước ngoài hoặc những lợi thế thương mại từ cơ sở kinh doanh có sẵn thì phương
14
Footer Page 14 of 161.
Header Page 15 of 161.
cách mua lại là thích hợp. Để mua được cổ phần nước ngoài, các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay vẫn phải nhờ tới ý kiến từ Thủ tướng Chính phủ, khiến những quyết
định linh hoạt, năng động sẽ bị hạn chế bởi những rào cản, khoảng trống pháp lý này.
2.3. Giải pháp:
-Về phía doanh nghiệp: Để hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, yêu cầu các nhà đầu
tư trước khi đưa ra quyết định đầu tư ra nước ngoài cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng đặc
điểm môi trường đầu tư và kinh doanh tại nước ngoài, đưa ra những chiến lược cụ thể
(việc thiết lập chiến lược luôn là yếu điểm của các doanh nghiệp Việt Nam), tránh
những trường hợp đầu tư tự phát, đề ra các phương án dự phòng cho rủi ro, đồng thời
nâng cao năng lực chuyên môn, khả năng ngoại ngữ, thẩm định thông tin, kỹ năng
quản trị,…
- Về phía các cơ quan quản lý nhà nước: cải cách thủ tục hành chính, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, có nhiều chính sách hỗ trợ, cụ thể như: trao
quyền chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện đầu tư ra nước ngoài mà
không phụ thuộc vào một cơ chế cấp phép; thiết lập cơ chế thanh tra, kiểm tra đối với
các hoạt động đầu tư ra nước ngoài để kiểm soát được các hoạt động bất minh trong
việc chuyển tiền ra nước ngoài; phát triển các hệ thống chi nhánh ở nước ngoài nhằm
hỗ trợ cho doanh nghiệp Việt Nam thực hiện đầu tư ra nước ngoài.
- Về phía các cơ quan thương vụ Việt Nam tại nước ngoài: cần nắm bắt thông tin
của doanh nghiệp, đưa ra giải pháp và tư vấn chính sách hỗ trợ và phát triển cho